Họ và tên tác giả: Hoàng Minh Nhật Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp. Mã số: 8.62.01.15 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Ngọc Lan Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. 1. Tính cấp thiết của đề tài . Ở Việt Nam, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 032000NQCP về kinh tế trang trại. Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn. Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay. Trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.389 trang trại trong đó, có 9.178 trang trại trồng trọt (chiếm 31,23%), 15.068 trang trại chăn nuôi (chiếm 51.27%), 4.175 trang trại thủy sản (chiếm 14,21%) và 968 trang trại tổng hợp (chiếm 3.29%) (Tạp chí chăn nuôi Việt Nam, 2020). Huyện Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi, được tỉnh và Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của huyện. Kinh tế trang trại từ lâu đã được huyện Định Hóa xác định là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nông dân. Cũng như nhiều địa phương khác, hơn 1 năm qua, các trang trại trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá cả các sản phẩm trên thị trường chưa ổn định. Quan trọng hơn cả là vấn đề tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, người dân chưa biết cách tìm kiếm và liên kết với các thương lái, với đầu ra cho các sản phẩm của trang trại mình, nếu có cũng chỉ là tạm thời. Ngoài ra, sự gắn kết giữa người chăn nuôi lợn với các doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thị trường nội tiêu, chưa tận dụng được lợi thế để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định vì vậy người chưa thực sự yêu tâm khi đầu tư lớn. Việc nghiên cứu một cách cụ thể chính sách, giải pháp thúc đẩy trang trại chăn nuôi lợn nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm, chăn nuôi lợn trong cả nước nói chung và tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói riêng để từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, mô hình mới nhằm tiến tới những chính sách mới hơn cơ chế phù hợp hơn sao cho thúc đẩy được năng lực của trang trại chăn nuôi lợn để phát triển sản xuất một cách hiệu quả và bền vững là rất cần thiết và cấp bách. Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Thực trạng sản xuất, năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại chăn nuôi lợn Thực trạng về sự liên kết của trang trại chăn nuôi lợn với thương lái, doanh nghiệp. Phân tích khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy trang trại nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi chủ lực tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các trang trại và hộ chăn nuôi tại địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. 4. Phạm vi nghiên cứu 4.1. Phạm vi về không gian nghiên cứu Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, trong đó tập trung nghiên cứu tại các xã có nhiều trang trại chăn nuôi để làm đại diện đánh giá cho toàn huyện. 4.2. Phạm vi về thời gian nghiên cứu. Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2018 2020. Thời gian thực hiện đề tài: từ 72020 đến 72021
Trang 1HOÀNG MINH NHẬT
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ LIÊN KẾT TIÊU THỤ TIÊU THỤ SẢN PHÂM CỦA CÁC TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢNTẠI HUYỆN ĐỊNH HOÁ- TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên - 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từngdùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022
Học viên
Hoàng Minh Nhật
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, KhoaKinh tế và Phát triển nông thôn và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâmthuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôihoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắcđối với PGS.TS Đinh Ngọc Lan người đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoànthành luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới chi cục thống kê huyện Định Hóa, Lãnh đạo, cán
bộ Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa nơi tôi công tác đã tạo điều kiện để tôi hoànthành khóa học và nghiên cứu hoàn thiện bài luận văn này
Tôi xin cảm ơn đến toàn thể người thân trong gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022
Học viên
Hoàng Minh Nhật
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm trang trại 4
1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại 5
1.1.3 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi 6
1.2 Cơ sở khoa học về liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn 7
1.2.1 Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt 7
1.2.2 Các hình thức liên kết 8
1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế 10
1.2.4 Đặc trưng cơ bản của liên kết 11
1.2.5 Vai trò của liên kết kinh tế 12
1.2.6 Ý nghĩa của liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt 14
Trang 51.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài 15
1.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ trên thế giới 15
1.3.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn tại Việt Nam 16
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 18
1.3.1 Kinh nghiệm sản xuất theo liên kết ở các nước 18
1.3.2 Kinh nghiệm chăn nuôi theo liên kết ở Việt Nam 20
1.3.3 Một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài 21
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tại Định Hóa 24
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiêm, kinh tế, xã hội 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 36
2.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 37
2.3.3 Phương pháp so sánh 37
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của trang trại 38
2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Thực trạng sản xuất, năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại trong việc sản xuất chăn nuôi lợn 41 3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của huyện Định Hóa, giai đoạn 2019-2021 41
3.1.2 Nguồn nhân lực của trang trại chăn nuôi lợn 42
3.1.3.Phương tiện sản xuất của trang trại chăn nuôi 43
3.1.4.Nguồn đất đai của trang trại chăn nuôi 44
3.1.5 Hiệu quả kinh tế 45
3.1.5.2 Chi phí chăn nuôi của trang trại chăn nuôi 46
Trang 63.1.5.3 Hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi lợn 47
3.2 Thực trạng về sự liên kết của trang trạichăn nuôi lợn với thương lái, doanh nghiệp 52
3.2.1 Các liên kết ngang trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 54
3.2.2 Các liên kết dọc trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 55
3.3.Phân tích khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa, năng lực liên kết của trang trại 64
3.3.1 Từ phía trang trại 64
3.3.2 Từ phía doanh nghiệp và người thu gom 66
3.3.3 Yếu tố môi trường hoạt động 66
3.3.4 Các yếu tố khác 68
3.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy trang trại nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tại các trang trại 68
3.4.1 Từ phía trang trại 68
3.4.2 Từ phía doanh nghiệp, người thu gom 68
3.4.3 Từ phía môi trường hoạt động 69
3.4.4 Đối với các yếu tố khác 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7KTTT : Kinh tế trang trại
KTTTCN : Kinh tế trang trại chăn nuôiTTCN ; Trang trại chăn nuôi
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích huyện Định Hóa phân theo đơn vị hành chính và loại đất
25
Bảng 2.2 Dân số huyện Định Hóa phân theo giới tính,thành thị, nông thôn giai đoạn 2019-2021 29
Bảng 2.3 Số hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hóa 30
giai đoạn năm 2019-2021 30
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Định Hóa 31
giai đoạn năm 2019-2021 (theo giá cố định) 31
Bảng 3.1 Quy mô, sản lượng lợn thịt tại huyện Định Hóa giai đoạn 2019-2021 41
Bảng 3.2 Tình hình nhân lực của trang trại chăn nuôi lợn huyện Định Hóa 42
Bảng 3.3 Phương tiện của trang trại chăn nuôi lợn 43
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng đất của các trang trại chăn nuôilợn 44
Bảng 3.5 Tình hình chăn nuôi của trang trại chăn nuôi và hộ chăn nuôi 45
Bảng 3.6 Chi phí bình quân chăn nuôi của chăn nuôi trang trại lợn thịt và chăn nuôi hộ gia đình trong huyện Định Hóa 46
Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi lợn huyện Định Hóa (tính bình quân cho 100kg thịt hơi) 48
Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng vốn của các trang trại chăn nuôi lợn 49
Bảng 3.9 Hiệu quả sử dụng lao động của các trang trại chăn nuôi lợn trong huyện 50
Bảng 3.10 So sánh hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn trang trại với lợn với chăn nuôi gia cầm (tính bình quân cho 100kg thịt hơi) 50
Bảng 3.12: Tình hình liên kết giữa trang trại và trang trại 55
3.2.2 Các liên kết dọc trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở trang trại 55
Bảng 3.13 Tình hình liên kết trong cung ứng giống 56
Bảng 1.14.Tình hình liên kết trong cung ứng thức ăn chăn nuôi 57
Bảng 3.15 Tình hình liên kết trong cung ứng vốn 59
Trang 9Bảng 3.17 Lí do trang trại không ký hợp đồng liên kết 64Bảng 3.18 Hiểu biết về liên kết của trang trại 65
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên tác giả: Hoàng Minh Nhật
Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ
sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triển mạnh
mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm 2000, khiChính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sự phát triểncủa kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêmdiện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung du, miềnnúi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xóa đóigiảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại là xu hướngtất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên địa bàn cảnước hiện có khoảng 29.389 trang trại trong đó, có 9.178 trang trại trồng trọt (chiếm31,23%), 15.068 trang trại chăn nuôi (chiếm 51.27%), 4.175 trang trại thủy sản(chiếm 14,21%) và 968 trang trại tổng hợp (chiếm 3.29%) (Tạp chí chăn nuôi ViệtNam, 2020)
Huyện Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh TháiNguyên có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi, được tỉnh và Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng,tạo điều kiện cho sự phát triển chung của huyện Kinh tế trang trại từ lâu đã đượchuyện Định Hóa xác định là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung sản xuất hàng hóa, nâng caothu nhập cho nông dân Cũng như nhiều địa phương khác, hơn 1 năm qua, các trang
Trang 10trại trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá cả cácsản phẩm trên thị trường chưa ổn định Quan trọng hơn cả là vấn đề tiêu thụ sản phẩmchăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, người dân chưa biết cách tìm kiếm và liên kếtvới các thương lái, với đầu ra cho các sản phẩm của trang trại mình, nếu có cũng chỉ làtạm thời Ngoài ra, sự gắn kết giữa người chăn nuôi lợn với các doanh nghiệp và tiêuthụ sản phẩm chủ yếu là thị trường nội tiêu, chưa tận dụng được lợi thế để nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định vì vậy người chưa thực sự yêu tâm khiđầu tư lớn Việc nghiên cứu một cách cụ thể chính sách, giải pháp thúc đẩy trang trạichăn nuôi lợn nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanhnghiệp tiêu thụ các sản phẩm, chăn nuôi lợn trong cả nước nói chung và tại huyệnĐịnh Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói riêng để từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, môhình mới nhằm tiến tới những chính sách mới hơn cơ chế phù hợp hơn sao cho thúcđẩy được năng lực của trang trại chăn nuôi lợn để phát triển sản xuất một cách hiệu quả
và bền vững là rất cần thiết và cấp bách Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất, năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại chăn nuôi lợn
- Thực trạng về sự liên kết của trang trại chăn nuôi lợn với thương lái, doanhnghiệp Phân tích khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nâng cao nănglực sản xuất hàng hóa của trang trại
- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy trang trại nâng cao năng lực sản xuấthàng hóa và liên kết với thương lái, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôichủ lực tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các trang trại và hộ chăn nuôi tại địa bànhuyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu
Trang 11Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Hóa,tỉnh Thái Nguyên, trong đó tập trung nghiên cứu tại các xã có nhiều trang trại chănnuôi để làm đại diện đánh giá cho toàn huyện.
4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu.
- Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm
2018 - 2020
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 7/2020 đến 7/2021
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn
Về lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chănnuôi lợn và đánh giá hiệu quả của hoạt động này trong lĩnh vực ngành nông nghiệp
Về thực tiễn: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá năng lực sản xuất hàng hóa và liên
kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ĐịnhHóa, đề xuất các giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhằm tăng cường công tác quản lý,phát triển đối với hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi để từ đó từng bước nâng caohoạt động hiệu quả phát triển sản xuất trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyệnĐịnh Hóa
6 Kết luận
Chăn nuôi của huyện Định Hóa trong thời gian gần đây đã có nhiều bướcphát triển đáng ghi nhận Tuy nhiên các trang trại chăn nuôi vẫn chủ yếu là chănnuôi độc lập, mang tính tự phát Chăn nuôi trên địa bàn đã có từ rất lâu đời, tuynhiên 10 năm trở lại đây các trang trại trên địa bàn mới tập trung vào chăn nuôilợn thịt, điều đó cho thấy kinh nghiệm chuyên môn chăn nuôi lợn thịt để bán củangười dân chưa cao
Các trang trại có quy mô diện tích lớn, năng lực sản xuất cao, phần lớn có sựliên kết với doanh nghiệp để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc liên kết với doanhnghiệp hoặc thông qua HTX để tiêu thụ sản phẩm Các trang trại chăn nuôi có quy
mô lớn , công nghệ cao thường không bị chịu ảnh hưởng của dịch bệnhvì vậy để sảnxuất hàng hóa tốt các địa phương cần tập trung phát triển loại hình trang trại quy môlớn có áp dụng công nghệ như vậy hiệu quả sản xuất sẽ cao
Trang 12Nguồn lực: TT sản xuất hàng hóa là những TT có đầy đủ nguồn lực về nhânlực (tuổi 38,17 tuổi với 2,09 lao động và 4,38 khẩu); đất đai (87.084 m2/TT); vốnđầu tư sản xuất (1.358,5 triệu đồng/TT, chủ yếu là vốn tự có); đã bắt đầu đầu tư máymóc tư liệu sản xuất cơ giới hóa; khoa học công nghệ; có thông tin sản xuất, thịtrường, giá cả đầu vào, đầu ra, đã bắt đầu có năng lực liên kết, hợp tác để sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, l
Các TT đã bước đầu có những hình thức liên kết dọc, hợp tác với các tácnhân trong các chuỗi giá trị sản phẩm góp phần gia tăng giá trị cho cả chuỗi Một số liênkết hợp tác bước đầu có hiệu quả, một số chuỗi giá trịđượcđánh giá khá bền vững
Sự liên kết giữa TT với các thương lái, doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu: Giá cả phụ thuộc vào thương lái, doanh nghiệp, tìnhtrạng được mùa mất giá do thị trường đầu ra không ổn định; các hộ gia đình, TT,chưa chủ động tìm kiếm và xây dựng các mối liên kết với các doanh nghiệp để cóvật tư đầu vào (giống, phân bón, thức ăn, máy móc, ) và tiêu thụ các sản phẩm đầu
ra thông qua các hợp đồng liên kết, hợp tác;
Khả năng tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm còn thấp; khả năng đàmphán liên kết với doanh nghiệp, thương lái thấp; vai trò của TT luôn rất yếu trongcác liên kết; sự liên kết ngang và dọc còn rất lỏng lẻo và thiếu; thiếu sự liên kết giữasản xuất với thị trường tiêu thụ, do bản thân các hộ nông dân nhỏ lẻ không thể thựchiện tất cả các khâu từ tổ chức sản xuất, chế biến, nắm bắt nhu cầu thị trường, đưasản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng,…
- Các kênh tiêu thụ chủ yếu thông qua tư thương; mạng lưới tiêu thụ sảnphẩm còn mang tính tự phát, hệ thống vận chuyển, xử lí, phân loại, đóng gói, tiêuthụ và tiếp thị mở rộng thị trường còn nhiều hạn chế
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và thực sự phát triểnmạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ năm
2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sựphát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mởmang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung
du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, gópphần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, phát triển kinh tế trang trại
là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trênđịa bàn cả nước hiện có khoảng 29.389 trang trại trong đó, có 9.178 trang trại trồngtrọt (chiếm 31,23%), 15.068 trang trại chăn nuôi (chiếm 51.27%), 4.175 trang trạithủy sản (chiếm 14,21%) và 968 trang trại tổng hợp (chiếm 3.29%) (Chăn nuôi ViệtNam, 2020)
Tuy nhiên, kinh tế trang trại nói chung, kinh tế trang trại chăn nuôi lợnnói riêng hiện nay chưa phát triển rộng và chưa tương xứng với những tiềmnăng, thế mạnh của các vùng, miền trong cả nước; chưa tạo ra bước đột phátrong việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả.; chưa đóng góp thỏa đángvào việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả vàsức cạnh tranh ngành hàng thịt lợn mang tính hàng hoá trong điều kiện thịtrường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Bên cạnh đó, việc tiêu thụthịt lợncủa các trang trại sản xuất vẫn là một bài toán khó đối với người dânkhi chưa tìm được một giải pháp toàn vẹn để liên kết với các thương lái và cácdoanh nghiệp trong việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm thịtlợn.Một điều rõ ràng là, các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm nông nghiệp ở các tỉnh MNPB đã được hình thành (Đinh Ngọc Lan và
cs, 2017) Nhưng sự liên kết giữa nông dân với thương lái và các DN còn rấthạn chế Phần lớn các mối quan hệ giữa nông dân, trang trại với thương lái,
Trang 14DN còn "lỏng lẻo", chưa xác định và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên
tham gia liên kết Trình độ, năng lực sản xuất của người nông dân vẫn còn yếukém Đầu ra cho các hàng hóa nông sản vẫn chưa ổn định (Hoàng Vũ Quang
và cs, 2017; Hoàng Vũ Quang, 2018)
Huyện Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây bắc của tỉnh TháiNguyên có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi, được tỉnh và Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng,tạo điều kiện cho sự phát triển chung của huyện Kinh tế trang trại từ lâu đã đượchuyện Định Hóa xác định là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung sản xuất hàng hóa, nâng caothu nhập cho nông dân Cũng như nhiều địa phương khác, hơn 1 năm qua, các trangtrại trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá cả cácsản phẩm trên thị trường chưa ổn định Quan trọng hơn cả là vấn đề tiêu thụ sản phẩmchăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, người dân chưa biết cách tìm kiếm và liên kếtvới các thương lái, với đầu ra cho các sản phẩm của trang trại mình, nếu có cũng chỉ làtạm thời Ngoài ra, sự gắn kết giữa người chăn nuôi lợn với các doanh nghiệp và tiêuthụ sản phẩm chủ yếu là thị trường nội tiêu, chưa tận dụng được lợi thế để nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định vì vậy người chưa thực sự yêu tâm khiđầu tư lớn Việc nghiên cứu một cách cụ thể chính sách, giải pháp thúc đẩy trang trạichăn nuôi lợn nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết với thương lái, doanhnghiệp tiêu thụ các sản phẩm, chăn nuôi lợn trong cả nước nói chung và tại huyệnĐịnh Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói riêng để từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, môhình mới nhằm tiến tới những chính sách mới hơn cơ chế phù hợp hơn sao cho thúcđẩy được năng lực của trang trại chăn nuôi lợn để phát triển sản xuất một cách hiệu quả
và bền vững là rất cần thiết và cấp bách Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế trang trạichăn nuôi
Trang 15- Đánh giá được năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại về sản phẩm chănnuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được liên kết giữa trang trại với thương lái, doanh nghiệp trongtiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích được khó khăn trở ngại cơ hội và thách thức trong quá trình nângcao năng lực sản xuất hàng hóa của trang trại chăn nuôi lợn
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thúc đẩy năng lực sản xuất hàng hóa
về sản phẩm chăn nuôi lợn và các liên kết để phát triển kinh tế trang trại trong thờigian tới của huyện
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các trang trại và hộ chăn nuôi tại địa bànhuyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về không gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Định Hóa,tỉnh Thái Nguyên, trong đó tập trung nghiên cứu tại các xã có nhiều trang trại chănnuôi lợn để làm đại diện đánh giá cho toàn huyện
4.2 Phạm vi về thời gian nghiên cứu.
- Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm
2018 - 2020
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 7/2020 đến 7/2021
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn
Về lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn năng
lực sản xuất hàng hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn
và đánh giá hiệu quả của hoạt động này trong lĩnh vực ngành nông nghiệp
Về thực tiễn: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá năng lực sản xuất hàng hóa và liên
kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ĐịnhHóa, đề xuất các giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhằm tăng cường công tác quản lý,phát triển đối với hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi để từ đó từng bước nâng caohoạt động hiệu quả phát triển sản xuất trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyệnĐịnh Hóa
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm trang trại
Khi nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, các nhà kinh
tế thấy rằng, khi công nghiệp phát triển thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp phục
vụ cho tiêu dùng, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng xuất khẩu tănglên rất lớn Để 10 đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp thìkhông thể dựa vào hình thức sản xuất nông hộ với quy mô nhỏ lẻ, manh mún vớiphương thức canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung, tự cấp Như vậy, để đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng cao của xã hội thì đòi hỏi các hộ nông dân phải sản xuất theohướng hàng hóa, tập trung với quy mô lớn và hình thành nên các nông trại hay trangtrại như ngày nay Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trangtrại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, có thểđưa ra những quan niệm khác nhau về trang trại Trong từ điển Việt, trang trại đượchiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp” Trong các tài liệunghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp gọi là “nông trại”, “lâm trại”, “ngư trại” để phân biệt chuyên ngành sản xuấtcủa các trang trại Có ý kiến cho rằng, trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có
tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai,rừng, biển hợp lý để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệmới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn chonhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vịdiện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộcsống của mọi người tham gia Theo tác giả Trần Đức, (1998) “Trang trại là mộtloại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuấthàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập,sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và
Trang 17trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” Theo tác giảNguyễn Điền, (1993) “Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoávới quy mô lớn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinhdoanh có hiệu quả” Theo tác giả Trần Hai, (2000) “Trang trại là hình thức tổ chứcsản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu,
có tư cách pháp 11 nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phầnkhác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhậpchính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội” Kế thừa các quan điểm trên, tác giả luận văncho rằng: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngưnghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên qui môruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chứcquản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thịtrường
1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại
Trong thời gian qua những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại đã được cácnhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn nghiên cứu trong các công trình khoahọc đã được công bố, trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tin đạichúng Cho đến nay một số vấn đề cơ bản về kinh tế trang trại vẫn tiếp tục đượcnghiên cứu, trao đổi và hoàn thiện Thực tế hiện nay ở nước ta còn có một số kháiniệm khác nhau về kinh tế trang trại: Theo PGS TS Lê Trọng: Kinh tế trang trại(hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại,…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sởcủa nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, baogồm một số người lao động nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tưliệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu củanền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ Theo Ban kinh tế Trung ương:
“Kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hoá, gắn liền với thị trường, chính
vì vậy có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ mang nặng tính tự cấp, tự túc, về tiếp thị,
về sự tác động của khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, về sự phát triểncủa công nghiệp, trực tiếp là công nghiệp bảo quản, chế biến nông lâm thuỷ sản, chế
Trang 18tạo nông cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứng đượcđòi hỏi của khách hàng về quy cách, chất lượng sản phẩm để bảo đảm tiêu thụ hànghoá, cạnh tranh trên thị trường” Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 củaChính phủ ban hành đã nêu rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuấthàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào gia đình, nhằm mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷsản” Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệpvới mục đích là sản xuất hàng hóa trên cơ sở tự chủ về ruộng đất, tư liệu sản xuấtcủa trang trại gia đình, tự hạch toán và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinhdoanh Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông,lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tưlớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháptạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa nhữngthành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh caohơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao (Hội Khoa họckinh tế Việt Nam, 2000)
1.1.3 Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi
Kinh tế trang trại chăn nuôi là một hình thức tổ chức kinh tế - hình thức tổchức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm củachăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổchức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Baogồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trụctrung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau Kinh tếtrang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hìnhthành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp 17đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, qui mô vànăng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa…trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay Kinh tế trangtrại chăn nuôi là một bộ phận của hệ thống kinh tế trang trại nói chung, là một bộ
Trang 19phận của nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Khác với các ngành sản xuấtkhác: Lâm nghiệp hay Thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng vàthời tiết, nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi,
nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của các trang trại Sảnphẩm của chăn nuôi phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số nguời dântrong cả nước Vậy có thể đúc kết lại khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi: Là mộthình thức tổ chức kinh tế, hình hình tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong nôngnghiệp với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa như: thịt, trứng, sữa … với quy
mô đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản
lý tiến bộ, có hạch toán kinh tế như các doanh nghiệp
Đặc điểm kinh tế trang trại chăn nuôi:
- Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc điểm là sản xuất sản phẩm hàng hóa màsản phẩm của nó là các loại thịt, trứng, sữa…đáp ứng nhu cầu của thị trường, nhưvậy để đáp ứng được nhu của thị trường thì quy mô trang trại chăn nuôi phải ở mức
độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình
- Các sản phẩm của kinh tế trang trại chăn nuôi như thịt, trứng, sữa … trongđiều kiện kinh tế thị trường đều phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Chính vì vậy,tất cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học kỹ thuật, cũng như cácyếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa…đều là sản phẩm hàng hóa
- Đặc trưng sản xuất hàng hóa ngành chăn nuôi chi phối là phải đòi hỏi tạo
ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất
mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sảnxuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ suất hàng hóa cao, khối lượng hàng hóa ngàycàng nhiều, chất lượng tốt
1.2 Cơ sở khoa học về liên kết tiêu thụ sản phẩm của các trang trại chăn nuôi lợn
1.2.1 Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt
Từ những khái niệm và nội dung của liên kết, liên kết kinh tế ta có thể đưa racác khái niệm về liên kết trong chăn nuôi lợn thịt
Liên kết trong chăn nuôi lợn thịt là biểu hiện của sự hợp tác, nó phản ảnh mối
Trang 20quan hệ của các tác nhân trong chăn nuôi lợn thịt ở cả khâu sản xuất và tiêu thụ.
Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt là hình thức kết hợp các hộ chănnuôi lợn thịt với nhau, giữa các hộ chăn nuôi lợn thịt với người cung cấp đầu vàocho chăn nuôi lợn thịt hay với người tiêu thụ lợn thịt Sự kết hợp này dựa trên cơ sở
tự nguyện liên kết lại với nhau trong một khâu hoặc nhiều khâu của quá trình chănnuôi lợn thịt, để đem lại hiệu quả, sự phát triển ổn định và lâu dài của các tác nhântham gia Các hộ chăn nuôi lợn thịt có thể liên kết với nhau về vốn, nhập đầu vào,dịch vụ thú ý hay cùng nhau trao đổi, chia sẻ kĩ năng trong chăn nuôi, chăm sóccũng như kĩ năng đàm phán, Các doanh nghiệp, người cung cấp dịch vụ đầu vàotrong liên kết thực hiện chuyển giao kĩ thuật, đầu tư vốn cho các hộ chăn nuôi hayđơn giản là chấp nhận trả chậm các khoản thanh toán Các thương lái người tiêu thụđầu ra cung cấp thông tin thị trường, định kế hoạch sản lượng hay đưa ra các tiêuchuẩn kĩ thuật đối với người chăn nuôi Bên cạnh đó liên kết trong chăn nuôi lợnthịt còn là sự liên kết giữa người chăn nuôi, các doanh nghiệp cung cấp đầu vào,đầu ra với các tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn, với các nhà khoa học trong nghiêncứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, với Nhà nước trong thực hiện các mụctiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
1.2.2 Các hình thức liên kết
Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là quá trình gắn kết giữa vùng nguyên liệu vớingười sản xuất chế biến và tiêu thụ, giữa người mua và người bán hay giữa nhữngngười bán với nhau
Liên kết kinh tế là cách thức tổ chức phân công lao động xã hội, trong đó các
hộ, các doanh nghiệp phối hợp, phụ thuộc lẫn nhau thông qua các cam kết, các thỏathuận về điều kiện sản xuất - tiêu dùng nhằm đem lại lợi ích cho các bên Điều nàylàm cho liên kết kinh tế phụ thuộc vào chế độ kinh tế xã hội, trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, đặc điểm ngành nghề, sản phẩm và nguyên liệu cụ thể
Nếu dựa theo vai trò thì quan hệ kinh tế giữa các tác nhân, ta có thể phân racác hình thức liên kết là liên kết dọc và liên kết ngang
Trang 21Sơ đồ 2.1 Phân loại liên kết
- Liên kết dọc (vertical integration) là liên kết giữa các tác nhân ở các mắt xích liên tiếp nhau trong sản xuất của một ngành hàng.
Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh, mỗi tác nhân đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó Trong
đó có kiểu liên kết dọc toàn diện nhất là kiểu liên kết bao gồm các giai đoạn từ cungcấp đầu vào, giai đoạn sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm.Trong mối quan hệ này thì mỗi tác nhân của liên kết vừa đóng vai trò là khách hàngcủa mắt xích phía trước vừa đóng vai trò là người cung cấp của mắt xích phía sau.Kết quả của mối liên kết này là tạo nên chuỗi giá trị của ngành hàng và góp phầmgiảm chi phí cho các tác nhân và sự thất thoát qua các khâu trung gian
Hiện nay, hình thức liên kết này phát triển mạnh ở hầu hết các cơ sở sản xuấtkinh doanh và mang lại hiệu quả tốt Trong đó có chuỗi liên kết 4 nhà từ nông dânđến nhà khoa học, kinh doanh bán lẻ đang được chú trọng, hình thức này đã đượcthực hiện qua việc kí kết hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân và bước đầu đã
có hiệu quả đáng ghi nhận Các doanh nghiệp và nông dân đã biết tìm đến với nhauqua mô hình tiêu thụ nông sản hàng hòa thông qua hợp đồng
- Liên kết ngang (horizotal integration) là mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ở cùng một cấp, cùng một giai đoạn hay cùng một mắt xích của
CơSởB
Trang 22ngành hàng.
Trong sự liên kết này các tác nhân tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ có sựcạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao sức cạnh tranh so với các mắtxích khác nhờ có sự phát huy lợi ích của tổ chức liên kết Chẳng hạn như hưởngchiết khấu cao hơn từ nhập đầu vào đến sự quyết định thỏa thuận giá bán ra Kếtquả của sự liên kết này là tạo ra các HTX, liên minh, hiệp hội, các tổ chức độcquyền Với hình thức liên kết này có thể hạn chế được sự ép giá của các cơ sở chếbiến nhờ sự làm chủ thị trường
1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham gia củacác bên Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở tựnguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi íchcao hơn thông qua liên kết Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mớiphát huy hết năng lực nội tại của mình, xây dựng nên mối quan hệ hiệu quả, bềnchặt vì lợi ích chung, đồng thời đem hết khả năng cùng chịu trách nhiệm về nhữngthất bại hay rủi ro trong liên kết Mọi liên kết kinh tế được thiết lập mang tính hìnhthức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không tồntại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia
Kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia Trong liên kết thì lợiích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo dán lâu dài các bên tham gia Việc chia
sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liênkết nên đòi hỏi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp Cơ chế đó cần tập trungvào các yêu cầu cơ bản và câp thiết nhất, trong từng mối liên kết, từng mặt hàng hóa và
có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau Ngoài ra cơ chế đó cần bảođảm các bên tham gia được bình đẳng với nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm
Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của liên kết
Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của các chủ thểtham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến các lợi ích của chủ thểtham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi ích trong liênkết phải bảo đảm dân chủ và bình đẳng Dân chủ và bình đẳng trong liên kết không
Trang 23có nghĩa là công bằng quyền lợi và trách nhiệm mà trên cơ sở đóng góp của mỗi bên.
Để có sự bình đẳng và dân chủ các quyết định liên kết phải đảm bảo tính công khai,minh bạch và được thực hiện qua một cơ chế điều phối chung được thống nhất giữacác bên ngay từ đầu
Các mối liên kết phải được pháp lý hóa Trong cơ chế thị trường hiện naynhiều quan hệ kinh tế được phát triển dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau của các bêntham gia Liên kết giữa họ thường xuyên và bền chặt vì các bên đều đạt được lợi íchcủa mình khi tham gia Tuy nhiên, với mục tiêu hướng đến một nền sản xuất hiệnđại thì mọi quan hệ kinh tế đều phải được thể chế bằng pháp luật dưới hình thứchợp đồng kinh tế, điều lệ, hiệp ước cua tổ chức liên kết… Khi các mối liên kết đượcpháp luật hợp lý hóa, một mặt nâng cao vị thế cho các bên tham gia đồng thời là cơ
sở quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của họ cũng như tạo điều kiện thuận lợi choviệc giải quyết khi có tranh chấp phát sinh
Các nguyên tắc của liên kết kinh tế phải được đảm bảo thực hiện một cáchchính xác để đảm bảo quyền lợi giữa các bên Nếu có bất kì nguyên tắc nào bị viphạm cũng có thể gây ra các kết quả không mong muốn
1.2.4 Đặc trưng cơ bản của liên kết
Liên kết kinh tế là một quan hệ kinh tế chỉ có thể diễn ra giữa hai hoặc nhiềuchủ thể kinh tế độc lập, tự chủ về kinh tế, có quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sửdụng tài sản của mình và do đó theo qui luật quan hệ sở hữu quyết định quan hệquản lý nên quan hệ giao dịch với nhau giữa các “người chơi” trong liên kết kinh tếchỉ có thể diễn ra theo “luật chơi” tự nguyên, thỏa thuận, cùng có lợi và tin tưởnglẫn nhau Tuy nhiên đặc trưng nay cũng là đặc trưng của cơ chế thị trường
Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuấtphát từ lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình vậnđộng phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ chuyên môn,phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh(Trần Văn Hiếu, 2005)
Liên kết kinh tế là một quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau theo một kếhoạch định trước dài hạn trong tương lai hoặc thường xuyên Tính định trước trong
Trang 24tương lai tự nó không nhất thiết phải là quan hệ thường xuyên, theo đó một quan hệgiao dịch dù chỉ xảy ra một lần giữa hai đổi tác độc lập một cách tự nguyện, cùng cólợi và được định trước diễn ra trong một thời gian nhất định vần là một liên kết kinh
tế Ngược lại đã là một quan hệ giao dịch thường xuyên lâu thì tất yêu phải mangtính định trước
Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kếtvới nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết (Dương BáPhượng, 1995) Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang quan hệhợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại Như vậy phân công laođộng và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kếtkinh tế, còn hợp tác hóa, liên hiệp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấcthang, những bước phát triển của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế, chứ không phải là mọi sự phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh
tế Điều đó cũng tương tự như mệnh đề liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tếchứ không phải là mọi quan hệ kinh tế
Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữacác chủ thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệpđịnh, điều lệ… nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh vựckhác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh…) Tùy theo góc độxem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra theo liên kết ngành, liên kết giữa các thànhphần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ
1.2.5 Vai trò của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế giúp các mắt xích trong liên kết khắc phục các bất lợi về quy
mô, phản ứng tốt hơn với thay đổi của thị trường, giảm chi phí.
Trong khi các mắt xích sản xuất kinh doanh riêng lẻ sẽ chịu sự chèn ép vềgiá đầu vào, không có tiếng nói trong thỏa thuận giá đầu ra thì liên kết kinh tế sẽgiúp khắc phục các điểm yếu trên Các đại diện của liên kết sẽ tham gia thỏa thuận
để nhập đầu vào để thương thảo giá và hưởng mức chiết khấu lớn hơn Việc nàycũng sảy ra khi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, với sức mạnh cạnh tranh của mình các đại diện
Trang 25liên kết sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các mắt xích trong chuỗi liên kết
Nhu cầu của thị trường luôn thay đổi, điều này làm cho các nhà sản xuất phảinắm được thông tin, chủ động thay đổi mẫu mã sản phẩm để phù hợp với nhu cầuthị trường Chính sự liên kết kinh tế giúp cho người sản xuất nắm bắt thông tin tốthơn và thực hiện được điều đó Ngoài ra liên kết kinh tế còn giúp người sản xuấtchủ động hơn trong tiếp cận và ứng dụng công nghệ và kĩ thuật mới nhờ sự phốihợp của các mắt xích khác trong lên kết Liên kết kinh tế còn giúp cho tiêu thụ sảnphẩm được nhanh hơn, thể hiện thông qua sự liên kết của hệ thống các nhà thươngmại với các nhà sản xuất, thông qua các hình thức đại lí
Bên cạnh đó liên kết kinh tế còn giúp giảm thiểu chi phí ngoài sản xuất chocác mắt xích như chi phí vận chuyển, chi phí giành cho trung gian Sự hợp tác chặtchẽ trong liên kết đem lại sự kịp thời của thông tin, hạn chế dịch bệnh do phải thựchiện theo tiêu chuẩn sản xuất chung của chuỗi Khắc phục được những mặt yếu kémcủa từng mắt xích trong sản xuất
Liên kết kinh tế giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh
Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tập trungrồi lại chia tách ra, sáp nhập để đáp ứng như cầu phát triển của xã hội và phù hợpvới khả năng nội tại của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao nhất
mà giảm thiểu được rủi ro Quá trình đó diễn ra thực chất là thông qua các hoạtđộng liên kết kinh tế
Khi tham gia liên kết kinh tế các mắt xích trong liên kết thường phải thựchiện sản xuất theo tiêu chuẩn chung do đại diện và toàn thể mắt xích trong liên kếtnhất chí đặt ra Thực hiện theo tiêu chuẩn chung này sẽ giúp cho các mắt xích giảmthiểu được rủi ro về dịch bệnh, phòng tránh tốt hơn
Bên cạnh đó khi đứng trước một cơ hội kinh doanh như một đơn hàng lớn,nhiều khi đơn hàng đó vượt quá khả năng của các mắt xích Lúc này nếu khôngnhận hợp đồng sẽ mất đi một khoản lợi nhuận hoặc nếu tự mình thực hiện thì hiệuquả có thể sẽ thấp Khi tham gia liên kết để tránh hiện tượng này sảy ra các mắt xích cóthể mời các mắt xích khác cùng tham gia thực hiện hợp đồng, mỗi mắt xích đảm nhậnmột công việc để cùng hưởng lợi nhuận cũng như chia sẻ một phần rủi ro nếu có
Trang 261.2.6 Ý nghĩa của liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt
1 Đối với các hộ chăn nuôi
Khi có liên kết trong chăn nuôi lợn thịt, các hộ chăn nuôi có thể dễ dàng hơntrong trao đổi, chia sẻ kĩ năng, cách thức chăm sóc với hộ chăn nuôi khác; Có đượcmối tiêu thụ đầu ra ổn định với giá cả hợp lí, có thể được hỗ trợ về vốn, kĩ thuật vàđược cung cấp thông tin thị trường nên có phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường
và yên tâm hơn trong sản xuất và tập trung sản xuất sản phẩm thịt lợn tốt hơn, đápứng được với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Thông qua liên kết các hộchăn nuôi cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với tiến bộ kĩ thuật trong chăn nuôi vàphương thức sản xuất mới, từ đó giúp tăng thêm thu nhập thông qua liên kết
2 Đối với các tác nhân liên quan
Các tác nhân liên quan cũng được hưởng lợi từ việc có thể chủ động được kếhoạch sản xuất nhờ có thị trường đầu vào và đầu ra ổn định khi tham gia liên kết.Các tác nhân này có thể giảm được đáng kể các chi phí cho những khâu trung gianhoặc phân phối Bên cạnh đó liên kết còn giúp cho các doanh nghiệp tăng sức cạnhtranh trên thị trường
3 Đối với toàn xã hội
Liên kết kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt giúp cho kinh tế tập thể phát triển
mà nòng cốt là các hợp tác xã chăn nuôi, các hiệp hội chăn nuôi
Liên kết kinh tế giúp phát huy lợi thế của các tác nhân tham gia, từ đây sẽ tạo ranhững sản phẩm có chất lượng cao, số lượng lớn, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường
Thông qua liên kết giúp hình thành chuỗi giá trị của ngành hàng mà ở đóphúc lợi xã hội được phân phối hài hòa hơn cho các tác nhân tham gia, nhất là các
hộ chăn nuôi nhỏ, không có lợi thế cạnh tranh lớn
Từ đó có thể thấy rằng liên kết trong chăn nuôi lợn thịt là một quá trình pháttriển tất yếu của ngành chăn nuôi lợn thịt, xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triểncủa mỗi tác nhân tham gia để nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thịtrường, nhất là trong bối cảnh hội nhập như hiện nay
Trang 271.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới
Chăn nuôi lợn ra đời rất sớm Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuấthiện và phát triển ở Châu Âu và Châu Á Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu pháttriển ở Châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở Châu Úc Đến nay, chăn nuôi lợn đãtrở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều nước chăn nuôi lợn cócông nghệ cao và tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, HàLan, Đan Mạch, Thụy Điểm, Đức, Ý, Trung Quốc, Singapo, Đài Loan
Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thứccông nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao
Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bổ không đồng đều ở các châu lục.Có tới70% số đầu lợn được nuôi ở Châu Á và Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác.Trong
đó, tỷ lê lợn được nuôi nhiều ở các nước chăn nuôi lợn tiên tiến.Nơi nào có nhu cầuthịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước Châu Âuchiếm khoảng 52%, Châu Á 30,4%, Châu Úc 5,8%, Châu Phi chiếm khoảng 52%,Châu Á 30,4%, Châu Úc 5,8%, Châu Phi 3,2%, Châu Mỹ 8,6% Nhìn chung, sảnphẩm của ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ởcác nước theo tín ngưỡng Hồi giáo) Nguyễn Đăng Vang, 2002
Trong sự tăng trưởng và phát triết đó, ngành chăn nuôi lợn đóng góp mộtphần không nhỏ Sản lương thịt lợn trên thế giới ngày càng tăng mặc dù có sự biếnđộng ở các châu lục, khu vực khác nhau đặc biệt là chịu ảnh hưởng, tác động cảumột số dịch bệnh như Lở mồm long móng, tai xanh, dịch tả Châu Phi đối với giasúc, đại dịch cúm gia cầm H5N1 Tuy vậy trong những năm gần đây sản lượngthịt lợn sản xuất ra vẫn liên tục tăng lên
Thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoàng chất chocon người.Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn dễ hấp thụ hơn là từrau quả.Trong khi mức tiêu thụ bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất caothì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân dưới 10kg gây nên hiện tượng thiếu vàsuy dinh dưỡng Ước tính có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu là các nước chậm
Trang 28phát triển và nghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là Vitamin A, iodine,sắt, kẽm, do đó họ không được tiếp cận với các thực phẩm giàu dinh dưỡng nhưthịt, cá, trái cây và rau quả (Nguyễn Đăng Vang, 2002)
1.3.1.2 Tình hình tiêu thụ lợn thịt trên thế giới
Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu thịt lợn của các nước có chiều hướng tăng.Trong đó sản lượng thịt lợn xuất khẩu cao nhất là EU với sản lượng xuất khẩu đạt2.600 nghìn tấn, sau đó đến Canada đạt 1.250 nghìn tấn, Braxin 670 nghìn tấn ViệtNam đứng thứ 8 với sản lượng xuất khẩu đạt 40 nghìn tấn
Hầu hết các nước trên thế giới đều có nhập khẩu thịt lợn, tuy nhiên nhậpkhẩu thịt lợn cũng tập trung vào các nước chính: Nhật Bản, Trung Quốc, Mexico,Hàn Quốc, Hồng Kông, Liên Bang Nga Ngoài ra, Úc, Canada và Philippin cũngnhập khẩu trên 100 nghìn tấn thịt/năm Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ năm
2018 nhập khẩu thịt lợn của Nhật Bản lên đến con số 1.320 nghìn tấn, Trung Quốc1.300 nghìn tấn
Nhìn chung chăn nuôi lợn trên thế giới đang từng bước chuyển dịch từ cácnước đã phát triển sang các nước phát triển Các nước đã phát triển xây dựng kếhoạch chiến lược phát triển ngành chăn nuôi duy trì sự ổn định, nâng cao quá trìnhthâm canh, các biện pháp an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm Các nướcđang phát triển ở Châu Á và châu Nam Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vựcchăn nuôi chính và cũng đồng thời là khu vực tiêu thụ nhiều các sản phẩm chănnuôi Đó là cách tiếp cận để giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh ở động vật
1.3.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ lợn tại Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Việt Nam
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời.Theo một số tài liệu khảo cổ học,nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá, cách đây khoảng 1 vạn năm Từkhi, con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá, họ đã săn bắn, hái lượm
và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng Khi đó, họ bắt đầu có ýthức trong việc tích trữ thực phẩm và lương thực cho những ngày không săn bắt
và hái lượm được và họ đã giữ lại những con vật đã săn bắt được và thuần dưỡngchúng.Cũng từ đó nghề chăn nuôi lợn đã được hình thành
Trang 29Thời kỳ Bắc thuộc và dưới cách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sốngnhân dân ta rất khổ và ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng hầu nhưkhông phát triển Vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, khi trao đổi văn hóa giữa TrungQuốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn mới bắt đầu được phát triển Dân cư phía Bắc đãnhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông Bắc Bộ Tuynhiên, trong thời kỳ này trình độ chăn nuôi còn thấp Vào thời kỳ Pháp thuộc,khoảng năm 1925 Pháp bắt đầu đã nhập các giống lợn Châu Âu vào nước ta nhưYorkshire, Berkshire và lai với lợn nội địa của Việt Nam như Móng Cái, lợn Ỉ, lợn
Bồ Xụ
Trong những năm chuyển đổi kinh tế sự hỗ trợ của nước ngoài 3 giảm,cộng thêm đó là dịch bệnh đã làm cho hệ thống các nông trường giống lợn dầndần tan rã hay chuyển đổi từ sở hữu nhà nước sang cổ phần hóa hay tư nhân
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi kinh tế, chuyểnđổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và nông nghiệp sảnxuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) Từ đó, các mô hình chăn nuôi lợn được hình thành và phát triển ở cáctỉnh miền Nam và các tỉnh phía Bắc, hình thức chăn nuôi lợn theo trang trại vàdoanh nghiệp tư nhân hình thành và phát triển mạnh Ngoài ra, còn có nhiều doanhnghiệp và công ty chăn nuôi lợn có vốn đầu tư 100% của nước ngoài Với hình thứcchăn nuôi công nghiệp tập trung này, trong những năm tới chăn nuôi lợn ở nước ta
sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên chăn nuôi nông hộ vẫn chiêm tỷ lệ lớn 96,4% ởcác khu vực nông thôn (Viện kinh tế Nông nghiệp, 2005)
Hiện nay nhiều doanh nghiệp, công ty hay các Trung tâm giống lợn đã cókhả năng sản xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn cao nạc và phát triểnchăn nuôi lợn ở các hình thức khác nhau trong cả nước Trong đó, việc quản lý congiống cũng là một vấn đề nan giải và nhiều thách thức Vì hiện tượng các giống lợnkém chất lượng bán trên các thịt trường nông thôn vẫn còn khá phổ biến, do vậyngười chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu
Chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh ở Đồng Bằng Sông Hồng, Trung du
và Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền trung chiếm tỷ lệ lần lượt
Trang 30là 25,50%; 24,76% và 19,46% năm 2018 Tuy nhiên từ năm 2016 đến 2017 ĐồngBằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền trung có xu hướng giảm nhưngđến năm 2018 đã có chiều hướng tăng lên Cụ thể, Đồng Bằng Sông Hồng 6.855,2nghìn con (2016) đến năm 2017 giảm xuống còn 6.759,5 nghìn con; đến năm 2018tăng lên 6.824,8 nghìn con tăng 65,3 nghìn con, tương ứng 1,01%.
Trung du và Miền núi phía Bắc và Đông Nam Bộ năm 2017 giảm so vớinăm 2016 tuy nhiên đến năm 2018 tăng mạnh đạt số lượng lần lượt là 6.626,4 nghìncon và 2.890,1 nghìn con tăng 131,3 nghìn con, tương ứng đều tăng 1,05% (Tổngcục thống kê năm 2018)
1.3.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn và tiêu thụ tại Thái Nguyên
* Tình hình chăn nuôi lợn tại Thái nguyên
Chăn nuôi lợn tại Thái Nguyên luôn được xem là một ngành quan trọng Vìthế mà sản lượng lợn tại tỉnh không ngừng tăng lên qua các năm Trong năm 2017 TháiNguyên có tổng số lợn là 680.381 con lợn nhiều hơn so với năm 2016 là 3.278 con
Mà trong đó sản lượng của năm 2016 nhiều hơn năm 2017 là 1.143,94 tấn Điều đó
lý giải cho việc tổng số lợn năm 2017 nhiều nhưng do năng suất lợn kém nên dẫn
đến sản lượng năm 2016 thấp hơn 2016 Trong năm 2018 tổng số lợn và sản lượng
thịt lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tăng nhanh so với năm 2017 là 64.891 con vàsản lượng tăng 18.910,31 tấn
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.3.1 Kinh nghiệm sản xuất theo liên kết ở các nước
1 Philippines
Các chủ hợp đồng thường thích ký hợp đồng với các hộ chăn nuôi lợn quy
mô lớn (từ 200 con trở lên) hơn là ký với các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ vì nó giúp họgiảm được chi phí khi phân phối các đầu vào cũng như chi phí giám sát các trạichăn nuôi Đồng thời khi ký hợp đồng với các hộ qui mô lớn, các chủ hợp đồng sẽcóđược sản phẩm đồng đều vàđảm bảo chất lượng để có thể cung cấp cho các siêuthị và hệ thống phân phối chính thống nhằm đạt lợi nhuận cao hơn so với ký hợpđồng với các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ (Costales, 2007)
2 Trung Quốc
Trang 31Hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển nhanh chóngkhoảng 10 năm trở lại đây Theo kết quả khảo sát của Trung Quốc thì hầu hết nôngdân được phỏng vấn đồng tình với phương pháp sản xuất theo hợp đồng và hưởngứng cách làm này (Trần Hữu Cường, 2012) Kết quả của sản xuất theo phương phápnày là chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phí sản xuất và tiếp thị thấp hơn Tuy nhiênsản xuất theo hợp đồng tại đây có xu hướng bỏ qua những người sản xuất nhỏ.Trong chương trình công nghiêp hóa nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc có chủtrương hỗ trợ và thúc đẩy phương thức hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhằm mụctiêu tăng lợi nhuận và tăng khả năng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp.
3 Trong nghiên cứu của Fairoze (2006), các tác giảđã chỉ ra rằng các lợi íchchủ yếu của việc chăn nuôi theo hợp đồng liên kết chủ yếu từ giảm chi phí giaodịch vàđảm bảo thu nhập thường xuyên cho các hộ chăn nuôi gà thịt Trong sản xuấtsữa, Birthal (2006), chứng minh rằng các hộ tham gia sản xuất theo hợp đồng liên kết thuđược lợi nhuận cao hơn các hộ sản xuất tự do, với các lợi ích chủ yếu là giảm chi phígiao dịch và các hỗ trợ dịch vụ và kỹ thuật từ các bên tham gia liên kết
4 Thái Lan là nước có nền nông nghiệp khá phát triển, có hệ thốngmarketing rất đa dạng, có kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức hợpđồng sản xuất nông sản Với kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức hợpđồng sản xuất nông sản Dự đoán được những cơ hội, thách thức khi mở cửa thươngmại tự do, nông dân sẽ phải đương đầu với những biến động của thị trường thế giới.Hơn nữa nếu để nhà nước đóng vai trò trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh nôngnghiệp sẽ tốn kém và không hiệu quả bàng việc để tư nhân tự liên kết với nông dân.Chính phủ Thái Lan đã quyết định đưa hình thức hợp đồng thành nội dung chínhcủa Chiến lược “tư nhân liên kết phát triển nông nghiệp trong chương trình pháttriển kinh tế đất nước”
Mô hình sản xuất theo hợp đồng dầu tiên ở Thái Lan do Tập đoàn CP(Charoen Pokpland) thực hiện CP bắt đầu ký hợp đồng với nông dân để chăn nuôi
gà gia công vào đầu thập niên 1970 Đây là mô hình thành công và được nhân rộngkháp Thái Lan Đến cuối thập niên 1990, gần 100% hộ chăn nuôi gà ở Thái Lan đềusản xuất gia công cho các doanh nghiệp chế biến
Trang 32Việc sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan phần lớn xuất phát từ nhu cầu củadoanh nghiệp chế biến Cấu trúc sản xuất theo hợp đồng của Thái Lan chủ yếu theo
mô hình một bên là doanh nghiệp chế biến một bên là nông dân Trong mô hình nàyngười nông dân chủ yếu sản xuất gia công cho doanh nghiệp chế biến Các doanh nghiệpchế biến đầu tư đầu vào và nguồn lực, hướng dẫn kĩ thuật và giám sát chất lượng
1.3.2 Kinh nghiệm chăn nuôi theo liên kết ở Việt Nam
1 Liên kết để phát triển chăn nuôi hiệu quả, bền vững tại tỉnh Đồng Nai
Để ngành chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, bềnvững, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm thì các cơ sở, trangtrại chăn nuôi, công ty, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi và cơ sởgiết mổ gia súc gia cầm cần liên kết hỗ trợ nhau tạo ra chuỗi sản xuất - chế biến -tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Trong đó, tại tỉnh Đồng Nai có nhiều chuỗi liên kết Trại chăn nuôi lợn TàiĐức của ông Phạm Văn Tạo, rộng 7,5 ha cùng vườn cao su xung quanh tại ấp BàuHốt, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, Bình Dương Đây là mô hình liên kết với nôngdân đểđặt nuôi gia công và cơ sở giết mổ, tạo sản phẩm thịt cung cấp cho thị trường.Với gần 6.000 con lợn, trong đó 600 lợn nái mỗi năm cung cấp hàng ngàn con lợngiống cho hộ nuôi gia công Hiện trong trại của ông Tạo có hơn 5.000 con lợn thịt
và gần 4.000 con lợn cho các hộ nuôi gia công Mỗi tháng, trại ông Tạo xuất ra thịtrường 1.300 con lợn thịt tương đương 130 tấn thịt lợn hơi Lượng thịt này được bántoàn bộ cho Công ty kĩ nghệ súc sản Vissan theo giá thỏa thuận đã ký kết
2 Nông dân làm chuỗi liên kết chăn nuôi để tạo thương hiệu “Thịt heo sạch Đồng Nai”
20 hộ chăn nuôi trong vùng sẽ cùng liên kết sản xuất, tạo ra số lượng thịtđồng nhất, chất lượng Cùng với đó, hiệp hội vận động các doanh nghiệp (DN) cóliên quan cùng tham gia chuỗi liên kết như DN thức ăn chăn nuôi, cung cấp congiống, thuốc thú y Các DN tham gia chuỗi liên kết sẽ cam kết giữổn định giá bánsản phẩm trong một kỳ hạn chăn nuôi (3 – 4 tháng) Sau kỳ hạn đó, các bên sẽ xemxét lại mức giá, theo sự biến động của thị trường
Có 46 thương lái chuyên thu mua heo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng đã ghi
Trang 33danh tham gia chuỗi liên kết, đồng ý hỗ trợ lẫn nhau trong việc kinh doanh thịt heođảm bảo chất lượng, không làm giá, ép giá nông dân hoặc tranh mua, tranh bán
Về thị trường tiêu thụ, ngoài việc ký kết hợp đồng tiêu thụ với các đơn vịtrên địa bàn Thành phố Biên Hòa, hiệp hội cũng làm việc với Ban quản lý chợ đầumối nông sản thực phẩm Tân Xuân (huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) để
bố trí 3 gian hàng phân phối sản phẩm “Thịt heo sạch Đồng Nai” Ông Nguyễn TríCông – Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cũng cho biết, để hoàn thiện chuỗiliên kết từ đầu vào đến đầu ra, đơn vị này cũng đang xin phép đầu tư xây dựng lò
mổ với công suất từ 500 – 1.000 con heo/đêm
3 Mô hình liên kết 4 nhà
Mô hình liên kết 4 nhà giữa Công ty cổ phần sữa Ba Vì, Trung tâm Nghiêncứu bò và đồng cỏ Ba vì, Hiệp hội Chăn nuôi Hà Nội và hàng trăm hộ nông dânnuôi bò sữa tại các xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bái, huyện Ba Vì Tham gia môhình này, các hộ chăn nuôi được hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kĩ thuật, vay vốn pháttriển đàn bò Đặc biệt, các hộ chăn nuôi được hỗ trợ bao tiêu đầu ra cho sản phẩm
1.3.3 Một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kết quả từ một số công trình nghiên cứu tại các tỉnh ở miền núi phía Bắc chothấy đã có nhiều mô hình liên kết giữa nông dân, trang trại, doanh nghiệp mang lạihiệu quả cao (Dương Văn Sơn, 2009; Đinh Ngọc Lan, Đoàn Thị Thanh Hiền, 2017;
Hà Quang Trung, 2018) Điển hình như mô hình liên kết chăn nuôi bò Mông ở CaoBằng: Với quy mô 452 hộ dân, 2 doanh nghiệp, nhiều cơ sở giết mổ tham gia, tổng
số bò tại các hộ là khoảng 1.500 con, sản lượng thịt xuất chuồng vào khoảng 50-60tấn thịt lợn/năm Các hộ nông dân này đã tham gia vào hội chăn nuôi bò thịt CaoBằng Mô hình liên kết và quản lý của chuỗi giá trị bò Mông như sau: Các hộ chănnuôi nuôi bò tại hộ gia đình, mỗi hộ có mã số riêng để truy suất nguồn gốc, các hộphải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò thịt Hai công ty có tráchnhiệm thu mua bò thịt, giết mổ và xuất ra thị trường.Bài học kinh nghiệm từ môhình này là mô hình đã thể hiện sự tham gia của 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, doanhnghiệp và nhà khoa học, là mô hình liên kết có tổ chức sản xuất, thu mua và phânphối chuyên nghiệp, là mô hình đầu tiên của cả nước trong việc truy suất nguồn gốc
Trang 34đến tận hộ chăn nuôi bò Mô hình này đã mang lại lợi ích cao cho hộ chăn nuôi bò
và đã làm thay đổi chính sách đầu tư về bò đực giống của tỉnh, trước kia chỉ đầu tư
bò lai Sind nay đã chuyển sang hỗ trợ đầu tư bò đực giống là bò Mông (Bộ Nôngnghiệp và PTNT, 2014)
Kết quả từ một số công trình nghiên cứu cho thấy đã có nhiều mô hình liênkết giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao Điển hình như HTXchăn nuôi Gò Công ở phường 3, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang có mô hình liên
kết khá độc đáo với khoảng 40 hộ dân "nuôi góp" không tập trung khoảng 100 nghìn con gà vừa gà giống và gà thịt thương hiệu “gà Gò Công” khá nổi tiếng, sản
lượng gà giống khoảng 200.000 con/năm, gà thịt 10 tấn/năm và hiện cung cấp chokhoảng 10 cửa hàng thực phẩm tiện ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, cách làm củaHTX đưa đến sự thành công là đưa mức hỗ trợ cao đồng thời tạo cơ chế thuận lợicho các doanh nghiệp nên đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia cùng liên kếttiêu thụ với nông dân và HTX Theo đó, ngoài mức hỗ trợ cao nhất, không quá 10 tỷđồng đối với tiền sử dụng đất khi thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất và vốnđầu tư xây dựng công trình hạ tầng phục vụ liên kết,… cần có các mức hỗ trợ vớicác nhóm đối tượng khác nhau Bởi đối với một hộ nông dân, 10 tỷ đồng là số tiềnrất lớn, nhưng đối với những doanh nghiệp lớn, con số này lại chẳng thấm tháp vàođâu, do đó sẽ không đủ sức khuyến khích các DN lớn tham gia liên kết
TS Nguyễn Tuấn Sơn và cộng sự, 2007“Nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất và hợp tác trong chăn nuôi lợn ở Miền Bắc Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ Đề tài chỉ ra rằng ở miền Bắc nước ta tồn tại ba hình thức tổ chứchợp tác trong chăn nuôi lợn: Hình thức chăn nuôi có hợp đồng chính thống với cácchủ hợp đồng là các công ty CP (Thái Lan) và Japffa comfeed (Indonesia), hìnhthức chăn nuôi có hợp đồng phi chính thống giữa người chăn nuôi với các hợp tác
xã hoặc các tư thương cung cấp dịch vụ đầu vào/tiêu thụ sản phẩm cho người chănnuôi, và các hộ chăn nuôi độc lập với nhiều qui mô khác nhau Trong ba hình thức
đó thì hình thức chăn nuôi gia công hợp đồng cho các công ty liên doanh là hìnhthức mang lại hiệu quả cao hơn so với hai hình thức còn lại, tuy nhiên nó đòi hỏivốn lớn, khả năng quản lý cao
Trang 35Nguyễn Hồng Thêu, 2010: “Nghiên cứu các hình thức liên kết trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên”, Khóa luận tốt nghiệp đại học,
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.Đề tài nghiên cứu và chỉ ra trên địa bàn huyệnVăn Giang, Hưng Yên tồn tại 3 hình thức liên kết trong chăn nuôi Đó là hình thứcchăn nuôi hợp đồng chính thống với công ty cám CP của Thái Lan Thứ hai, hìnhthức chăn nuôi hợp đồng phi chính thống với tư thương cung cấp dịch vụ đầuvào/tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi Thứ ba, hộ chăn nuôi độc lập với nhiềuquy mô khác nhau từ chăn nuôi tận dụng đến chăn nuôi theo xu hướng thị trường vàchăn nuôi trang trại.Trong 3 hình thức tổ chức chăn nuôi, hình thức chăn nuôi hợpđồng chính thống (chăn nuôi gia công) cho công ty cám CP của Thái Lan đạt kếtquả và hiệu quả cao nhưng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, khả năng quản lý cao và khôngphải hộ gia đình nào cũng đáp ứng được Các hộ chăn nuôi độc lập dễ dàng thay đổiqui mô chăn nuôi để thích ứng với điều kiện thị trường (giá cả, dịch bệnh ) nhưngkhó khăn khi ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm vì khối lượng sản phẩm không cóthường xuyên Các giải pháp tác giả đưa ra chưa bám sát nội dung thực trạng khókhăn mà đề tài đưa ra
Trần Thị Vân, 2013, “Nghiên cứu mối liên kết giữa các tác nhân trong tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên”, Luận văn tốt nghiệp đại
học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đề tài chỉ ra thực trạng phương thứcchăn nuôi trên địa bàn huyện Tiên Lữ hiện còn nhỏ lẻ, tự phát và mang tính chất độclập Bên cạnh đó đặc điểm tiêu thụ của các tác nhân cũng mang tính độc lập, mốiquan hệ mua bán giữa các tác nhân là ngẫu nhiên, việc trao đổi thông tin và chia sẻrủi ro giữa các tác nhân còn hạn chế Trên địa bàn nghiên cứu có sự liên kết trongtiêu thụ giữa người giết mổ tập trung với các tác nhân tiêu thụ và giữa tác nhânngoài tỉnh với trung gian, tuy nhiên, những hình thức liên kết này còn đơn giản,chưa ổn định Từ các kết quả phân tích tác giả đưa ra những giải pháp tăng cườngmối liên kết giữa các tác nhân trong chăn nuôi Tuy nhiên các giải pháp này chưađồng bộ, chưa thuyết phục
Trang 361.3.4 Bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tại Định Hóa
- Từ những môi hình liên kết sản xuất trên, ta thấy rằng các hộ sản xuất chăn nuôi lợn huyện Định Hóa cần thành lập các tổ sản xuất, các hợp tác xã
và đẩy nhanh quá trình liên kết trong sản xuất (cả liên kết ngang và liên kết dọc) nhất là liên kết với các thương lái hay doanh nghiệp, các cơ sở giết mổ chế biến để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, người dân được tiếp cận với khoa học, kỹ thuật, để tăng thu nhập cho người dân, tăng hiệu quả sản xuất.
- Tiến hành liên kết tất cả các khâu trong sản xuất từ cung ứng giống, thức ăn, dịch vụ thú ý, chế biến sản phẩm và tiêu thu sản phẩm; ở khâu cung ứng thức ăn và thuốc thú y cần liên kết với các doanh nghiệp để cung ứng nguồn thức ăn uy tín chất lượng và dịch vụ chăm sóc thú ý tốt nhất; ở khâu chế biến và tiêu thu sản phẩm các hộ sản xuất cần liên kết với các công ty hay
cơ sở giết mổ để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Các đề tài nghiên cứu trước đây đề cập được ít nhiều trên các góc cạnhkhác nhau của sản xuất hàng hóa, của liên kết giữa nông dân, TT với doanh nghiệpnhưng chưa có hệ thống giải pháp thúc đẩy liên kết hữu hiệu
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Huyện Định Hóa cách thành phố Thái Nguyên 50 km theo quốc lộ 3 và Quốc
lộ 3C có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc: Giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn)
- Phía Nam: Giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên)
- Phía Đông: Giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn)
- Phía Tây: Giáp huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang)
Diện tích tự nhiện của huyện Định Hóa là 51.351,9 ha trong đó: Đất nôngnghiệp là 47.703,5 ha; đất phi nông nghiệp là 3.333,3 ha; đất chưa sử dụng là 315,1
ha Diện tích các loại đất được thể hiện ở Bảng 2.1 dưới đây
Bảng 2.1 Diện tích huyện Định Hóa phân theo đơn vị hành chính và loại đất
Đơn vị tính: ha
Đơn vị hành chính
Tổng diện tích đất của đơn vị hành chính
Chia theo loại đất Đất sản
xuất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng thuỷ sản
Đất ở
Đất chuyên dùng
Đất chưa sử dụng
Trang 38Nguồn: Thống kê đất đai huyện Định Hóa năm 2021)
Qua bảng trên ta thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 23,5 % diệntích đất tự nhiên của huyện; diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn chủ yếu nằm ởcác xã phí nam huyện Định Hóa như xã Bình Thành, Phú Đình,…
b) Địa hình, địa mạo
Địa hình đa dạng và phức tạp chủ yếu là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hìnhhiểm trở, độ chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven sông, suối hoặccác thung lũng đá vôi
Với đặc điểm địa hình thấp dần về phía Nam và quá trình sản xuất, huyệnĐịnh Hoá chia thành 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng 1 (vùng phía Bắc gồm 8 xã): Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vỹ, Tân
Thịnh, Bảo Linh, Kim Sơn, Kim Phượng và Tân Dương, vùng này đặc trưng là núi
Trang 39cao, đất lâm nghiệp chiếm ưu thế do đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở đâyphân bố khá phân tán.
- Tiểu vùng 2 (vùng trung tâm gồm 7 xã): Phúc Chu, Thị trấn Chợ Chu, Định
Biên, Đồng Thịnh, Bảo Cường, Phượng Tiến, Trung Hội, với địa hình khá bằngphẳng, đất đai màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa trọng điểm của huyện Vùng này
có xen lẫn núi đá vôi
- Tiểu vùng 3 (vùng phía Nam gồm 9 xã): Thanh Định, Bình Yên, Trung
Lương, Điềm Mặc, Phú Tiến, Phú Đình, Sơn Phú, Bộc Nhiêu, Bình Thành, vùngnày chủ yếu là đất đồi gò xen kẽ, là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp củahuyện (cây chè)
c) Đặc điểm khí hậu
Định Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu mang đặc điểmchung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, có hai mùa: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3năm sau; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5oC, tổng tích ôn8.000oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,5oC (tháng 6), nhiệt độ tối thấp là 3oC(tháng 1), biên độ ngày đêm khá lớn (> 7oC).Tháng 7 là tháng nóng nhất với nhiệt
độ trung bình tháng là 28,7oC, tháng 1 là tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình là14,9oC.Số giờ nắng trong năm là 1.628 giờ
- Chế độ mưa, ẩm: Mưa phân bố không đều, mưa tập trung từ tháng 6 đến
tháng 9 (chiếm 90% lượng mưa cả năm) Lượng mưa trung bình đạt 1.710 mm/năm,tháng 7 lượng mưa lớn nhất đạt 4.200 mm
Lượng bốc hơi trung bình trong năm đạt 985,5 mm, tháng 5 có lượng bốc hơilớn nhất (100 mm), có 3 tháng trong mùa khô, chỉ số ẩm ướt k < 0,5 Đây là thời kỳkhô gay gắt, nếu không có biện pháp tưới, giữ ẩm… thì ảnh hưởng rất lớn đến năngsuất cây trồng
Với đặc điểm thời tiết của huyện như trên, trong quy hoạch sử dụng đất củahuyện, cần lợi dụng chế độ nhiệt cao, độ ẩm khá để bố trí nhiều vụ và hệ thống câytrồng trong năm - nhằm hạn chế rửa trôi, xói mòn trong mùa mưa Chú ý các hạngmục công trình kiên cố cần tránh các khu vực thường xảy ra ngập lụt, sạt lở
Trang 40d) Thủy văn
Huyện Định Hoá có hệ thống sông suối phân bố khá đều trên lãnh thổ vớinguồn nước tương đối phong phú Huyện Định Hoá là nơi bắt nguồn của nhữngnhánh suối và hình thành ba hệ thống sông chính, đó là hệ thống sông Chợ Chu, hệthống sông Công và hệ thống sông Đu
Hệ thống sông, hồ và đập nước của huyện khá lớn với trên 100 ao hồ lớn nhỏ,đặc biệt có hồ Bảo Linh có diện tích mặt nước trên 80 ha và khoảng 200 đập thuỷlợi nhỏ dâng tưới cho khoảng trên 3.000 ha đất sản xuất nông nghiệp
+ Hệ thống sông Chợ Chu: Tổng diện tích lưu vực 437 km2 bắt nguồn từ xãBảo Linh, Quy Kỳ chảy qua xã Tân Dương, thị trấn Chợ Chu rồi chảy sang huyệnChợ Mới (Tỉnh Bắc Kạn)
+ Hệ thống sông Công: Tổng diện tích lưu vực 128km2 thuộc địa phận xã PhúĐình chảy qua xã Bình Thành rồi chảy sang huyện Đại Từ
+ Hệ thống sông Đu: Tổng diện tích lưu vực 70 km2 thuộc địa phận xã BộcNhiêu chảy qua xã Phú Tiến rồi chảy sang huyện Phú Lương
Ngoài ra còn có các hệ thống hồ, đập nhằm đáp ứng cho sản xuất nông lâm nghiệp
Do đặc điểm mùa mưa tập trung vào các tháng mùa hè (tháng 6 đến tháng 9),
vì vậy lưu lượng dòng chảy cao nhất đạt vào tháng 7, tháng 8; nhỏ nhất vào tháng 3.Tại các vùng núi thấp và trung bình Modul dòng chảy là 20 – 30l/s Nhìn chung lũlụt ở địa phương năm nào cũng có nhưng ở mức độ khác nhau Qua theo dõi chothấy lũ lụt ở vùng này có quy luật: Cứ theo chu kỳ khoảng 3 đến 5 năm thì 1 năm có
lũ lụt ở mức độ trung bình và 8 - 10 năm lại xảy ra lũ lụt lớn gây thiệt hại nhiều chohoạt động sản xuất và đời sống người dân trên địa bàn huyện
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tình hình dân số, lao động của huyện Định Hóa
Dân số trung bình năm 2021huyện Định Hoá là: 88.964 người, mật độ dân số170,8 người/km2 Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa các vùng tronghuyện Tập trung ở một số xã vùng thấp trung tâm thi trấn huyện lỵ Đây cũng lànhững khó khăn trong việc phát triển kinh tế của địa phương Thị trấn Chợ Chu cómật độ dân số cao nhất huyện (1.409 người/km2) Trong khi đó, các xã vùng cao có