KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ I Một số bệnh trên gà 1 Bệnh cầu trùng trên gà (Coccidiosis) Bệnh cầu trùng trên gà là bệnh ký sinh trùng phổ biến xảy ra trên gà ở lứa tuổi 10 30 ngày tuổi Bệnh có tỷ lệ chết kh.
Trang 1KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ
I Một số bệnh trên gà
1.Bệnh cầu trùng trên gà (Coccidiosis)
Bệnh cầu trùng trên gà là bệnh ký sinh trùng phổ biến xảy ra trên gà ở lứa tuổi 10 - 30 ngày tuổi
Bệnh có tỷ lệ chết không cao như các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác nhưng lạ gây thiệt hại kinh
tế rất trầm trọng
a Biểu hiện của gà khi mắc bệnh cầu trùng manh tràng.
Khi gà mắc bệnh cầu trùng manh trànghay bệnh cầu trùng máu tươi do Eimeria atenalla gây
ra Bệnh thường sảy ra ở gà có độ tuổi 10 - 25 ngày, với biểu hiện điển hình gà tiêu chảy ra máu tươi do cocidia tấn công vào niêm mạc manh tràng, làm tổ và tăng sinh quá mức bình thường gây
vỡ các mạch máu tại đây gây ra hiện tượng này
Trang 2
Mào tích tái, gà thường đứng tụm lại với nhau do gà bị thiếu máu
Khi mổ khám kiểm tra với bệnh cầu trùng manh tràng ta cầm chú ý kiểm tra 2 manh tràng của
gà Manh tràng của gà chứa nhiều máu căng phồng trong giai đoạn đầu của bệnh sau đó khô dần, đối với những con khỏi bệnh tổn thương manh tràng còn được ghi kéo dài tới 2 tháng sau
Phân máu cá
Gà ủ rũ, mào tích tím tái trong bệnh cầu trùng
Trang 3
Manh tràng chứa nhiều máu trong bệnh cầu trùng
Trang 4b Bệnh cầu trùng trên gà do E.necervulima, E maxima, E bruneti gây bệnh mãn tính chủ yếu
trên ruột non
Các biểu hiện không điển hình như gà mắc bệnh cầu trùng manh tràng gà thường ủ rũ, gầy
còm, bỏ ăn, tiêu chảy phân sáp, màu máu cá do coccidia tấn công vào đường tiêu hóa trên của
gà
Biểu hiện trên ruột
Máu tươi trong manh tràng khô lại ở gai đoạn
cuối của bệnh
Phân gà mắc bệnh cầu trùng ruột non
Trang 5Bề mặt niêm mạc ruột có nhiều điểm trắng, đỏ (Màu trắng là những quần thể bào tử phân chia (Schizont), màu đỏ là do xuất huyết thành đường tiêu hóa)
c Phân biệt với bệnh viêm ruột hoại tử
- Cầu trùng ruột non: ruột xưng to như ngón tay cái, trên bề mặt ruột lấm tấm đỏ, rạch ra trong ruột có nhiều chất nhày mày đỏ
- Viêm ruột hoại tử: ruột non xưng, không to, trong ruột có hơi, rạch ruột ra trên ruột có nhiều dịch màu xám
d Điều trị
- Toltrazuzin, Amprodium, Mono sunfadiazin kết hợp với vitamin K
- Cho gà uống phòng từ khi 5-7 ngày tuổi
- Nên phòng cho gà liên tục 2 ngày / tuần đến khi gà được khoảng 60 ngày tuổi
Niêm mạc ruột non bị cầu trùng tấn công
Trang 62 Bệnh thương hàn gà do Salmonella
Có nhiều chủng Salmonella nhưng chỉ có 3 chủng gây bệnh chủ yếu là:
- Salmonella gallinarum: gây bệnh thương hàn trên gà lớn và gà con
- Salmonella typhimurium: gây bệnh phó thương hàn trên gà con và gà lớn
- Salmonella pullorum: gây bệnh bạch lỵ trên gà con 3 tuần tuổi
a Triệu chứng
- Các triệu chứng rất phổ biến và thường gặp nhất của bệnh thương hàn trên gà là ỉa chảy, phân trắng có nhiều dịch nhầy, gà ủ rũ, xù lông, kém ăn, khớp sưng to khó đi lại, phân dính bết hậu môn, trường hợp nặng khiến gà không đi ngoài được, chướng bụng và chết nhiều
- Các triệu chứng và bệnh tích điển hình của bệnh thương hàn trên gà
Bệnh thương hàn trên gà là một bệnh nhiễm trùng toàn thân cấp tính trên gà con và gà lớn Mầm
bệnh có thể lây lan và xâm nhập vào cả trứng và đặc trưng bởi tiêu chảy phân trắng và có tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong tăng cao sau khi gà nở khoảng 7-10 ngày
Salmonella có sức đề kháng khá cao trong điều kiện môi trường khí hậu ôn hòa và có thể tồn tại
trong nhiều tháng liền Tuy vậy, nó có thể bị tiêu diệt bởi những chất sát trùng như formaldehyde trong lò ấp
Phân bết dính chặt vào hậu môn
Khớp sưng to khi bị
mắc bệnh thương hàn
Trang 7Bệnh tích điển hình của bệnh do Salmonella là các điểm hoại tử đốm trắng trên các cơ quan nội tạng
như: tim, gan, phổi, mề, ruột và phúc mạc
Trang 8Gan của một gà nhiễm bệnh bạch lỵ cấp tính – vùng gan hoại tử và sưng to Bệnh thường xuất
hiện trên gà mái và gà tây, đôi khi bắt gặp trên gia cầm hoang dã
Trang 9Lá lách sưng to gấp 2-3 lần, đôi khi có xuất hiện nốt xám trắng trên bề mặt
Bệnh thương hàn trên gà cấp tính: thông thường, phần ruột mà đặc biệt là phần ruột non sẽ có
vết lở loét trên bề mặt
b Điều trị
- Tùy thuộc vào kết quả kháng sinh đồ của từng khu vực trong từng thời điểm mà chọn dùng loại kháng sinh nào Một số dòng kháng sinh thường dùng để phòng bệnh Salmonella là: Colistin, Norfloxacin, Enrofloxacin, Halquynol
Sử dụng các thuốc giải độc và tăng chức năng gan thận uống liên tục cho đến khi khỏi bệnh
Bổ sung đồng thời vitamin tổng hợp, vitamin K để tăng sức đề kháng cho gà
Bổ sung men tiêu hóa vào trong thức ăn, thúc đẩy và hỗ trợ gà trong quá trình tiêu hóa
3 bệnh viêm ruột hoại tử trên gà
Bệnh viêm ruột hoại tử trên gà là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn Clostrium
perfringens gây hoại tử nghiêm trọng trên niêm mạc ruột Bệnh thường bắt đầu đột ngột với một sự
Lách sưng to
Hoại tử cơ tim
Trang 10gia tăng mạnh về tỷ lệ tử vong Bệnh gây mất nước nặng trên gia cầm khiến cho da dính chặt vào phần cơ bắp của cơ thể và rất khó để tách ra
Bệnh viêm ruột hoại tử trên gà thường nhạy cảm với gà ở 2- 5 tuần tuổi Đối với gà đẻ,
bệnh thường xuất hiện ở đầu giai đoạn đẻ hoặc thời kỳ đẻ cao điểm, đặc biệt là những trường hợp
có bệnh cầu trùng xuất hiện thì bệnh lại càng nặng
Trang 11- Tổn thương ở đường tiêu hóa có khác nhau Đặc biệt ở phần ruột già, chất chứa trong đường tiêu hóa có màu đậm, dính chặt và thối
- Bệnh viêm loét kéo dài có thể thủng ruột, phân tràn ra ngoài gây viêm dính phúc mạc
Ruột gà căng phồng hơi trong bệnh viêm ruột hoại tử
Trong ruột niêm mạc sưng có dịch màu xanh sau
chuyển sang mà nâu đoạn cuối có chất bựa màu xanh hoặc nâu phủ trên niêm nạc ruột
Trang 12Trong trường hợp bệnh ghép với cầu trùng ruột non, thường sẽ thấy rất nhiều mảng xuất huyết chạy dọc theo ruột non
Các tổn thương ở ruột do Clostridium perfringers gây ra Tổn thương niêm mạc và sần sùi trông như vỏ cây hoặc như lớp nỉ
Trang 13Trong suốt thời điểm bệnh viêm ruột hoại tử trên gà xuất hiện cùng cầu trùng ruột non, bệnh tích nhìn thấy rõ nhất là ruột xuất huyết, đóng bã hoại tử như bùn và xuất hiện các bong bóng khí
-Gà ủ rũ, bỏ ăn, ăn ít cám con lại nhiều trong máng
Khó thở luôn phát ra tiếng khò khè ở khí quản (khò khè), rõ nhất khi ta kiểm tra gà về đêm và gần sáng
Gà bị sưng mặt, chảy nước mắt Điển hình là ruột xuất huyết, đóng bã hoại tử như
bùn và có bong bóng khí
Trang 14Triệu chứng gà bị CRD
Gà luôn vẫy mỏ,có dịch chảy ra từ mỏ
Bệnh CRD thường gép với các bệnh khác như Ecoli, tụ huyết trùng là tăng tỉ lệ chết
Mổ khám gà mắc bệnh
Có viêm phổi và dịch viêm
Trang 15Mổ khám thấy xoang mũi, khí quản có nhiều dịch nhầy, xuất huyết
Túi khí viêm đục, có chấm trắng
Túi khi đục và có bọt Phổi có dịch viêm
Trang 18Xoang bụng tích nước, toàn bộ phủ tạng bị phủ lớp màng Fibrin
b Điều trị
Có thể dùng các loại kháng sinh để điều trị như Doxycylin, Tylosin (không dùng cho gà đẻ) Hiện nay một số vùng đang sử dụng cặp đôi Doxy - Flo khá hiệu quả trên gà đẻ Doxy - tylo trên gà thịt
Bổ sung thuốc long đờm, vitamin tổng hợp, vitamin K…
5 bệnh ORT trên gà
Biểu hiện điển hình trong bệnh ORT
a Triệu chứng và bệnh tích
- Gà khó thở, rướn cổ thở, ngáp gió, ho, lắc đầu, vẩy mỏ, khẹc,
- Gà sốt rất cao, ủ rũ, giảm ăn Chảy nước mắt mũi, sưng mặt.,chết trong trạng thái “ngã ngửa” (xác chết béo).Thể bệnh cấp tính hơn: gây chết lên tới 30% trở lên
Bệnh ORT trên gà - Gà ủ rũ, mệt mỏi
Xoang bụng tích nước, phủ tạng
bị phủ lớp màng Fibrin
Gà sốt, ủ rũ
Trang 20Bệnh tích:
- Túi khí viêm có bọt khí, có thể có mủ màu vàng; Có màng ở túi khí, màng gan, màng tim
- Khí quản (cuống họng) gần như không xuất huyết hoặc có xuất huyết ít Niêm mạc khô, ít nhầy
- Vì sốt cao → xuất huyết mỡ vành tim, xoang bao tim tích nước (không điển hình)
Mũi gà có dịch
Gà chết ngã ngửa
Trang 21Bệnh ORT trên gà - Viêm màng phổi có mủ
Trang 23Cục mủ viêm trong phổi
i
Mủ tỏng phổi và phế quản
Trang 24Bệnh ORT - Cục mủ viêm trong
i
i
Bã đậu hình ống
Trang 25Bệnh ORT - Bã đậu hình ống
Bã đậu trong phế quản
b Chẩn đoán phân biệt bệnh ORT trên gà với các bệnh khác
Phân biệt bệnh ORT trên gà với ILT và IB
ORT
- Triệu chứng: gà bị ngạt thở, khó thở nhưng không biểu hiện thành chu kỳ, không thành từng
cơn như ILT mà gà ngáp liên tục và thường xuyên khó thở
- Bệnh tích:
+ bã đậu hình ống chứ không vón cục như ILT
Bã đậu hình ống
Bã đậu đóng thành kén trong phế quản
Trang 26+ vị trí bã đậu: trong phổi, trong 2 ống phế quản chính và trong lòng khí quản (gà ho đẩy bã đậu
từ dưới lên ống khí quản)
+ khí quản bình thường hoặc xung huyết nhẹ
→ Điển hình của ORT: bã đậu hình ống trong phổi và 2 phế quản chính
ILT
- Triệu chứng: khó thở, ngạt thở theo chu kỳ: nghĩa là khi khó thở, gà tím mào, há mồm, rướn
dài cổ và khạc khạc ra đờm, thi thoảng có lẫn máu trong đờm sau khi khạc đờm thì gà rùng
mình, vẩy mỏ và mào tích lẫn lông lá trở lại bình thường (không tím tái)
- Bệnh tích:
+ Bã đậu vón cục
+ Vị trí bã đậu: ngã 3 thanh khí quản hoặc có thể bị trôi xuống khí quản
→Như vậy: nếu thấy bã đậu có trong khí quản, ta nên dựa vào hình dạng của bã đậu (hình ống
hay vón cục) để xác định nguyên nhân gây bệnh là ORT hay ILT
IB - Gà có khó thở nhưng không rướn cổ ngáp dài như ORT và ILT mà chỉ thở khò khè
- Khí quản có dịch nhầy, xuất huyết nặng nhìn rõ (không khô, ít dịch như ORT)
c Hướng xử lý bệnh ORT trên gà cụ thể như sau:
Bước 1: trước khi điều trị cần giảm sốt cho gà, sau đó nâng cao sức khỏe cho gà rồi mới sử dụng
thuốc kháng sinh hay các thuốc để tiêu diệt mầm bệnh → khi phát hiện bệnh, trước tiên chúng ta cần cho gà sử dụng đồng thời các thuốc sau:
- Hạ sốt: có thể dùng paracetamon
- Long đờm: có thể dùng Bromhexin
- Giải độc gan thận cùng với bổ gan thận
- Thuốc trợ sức, trợ lực, vitamin tổng hợp tăng sức đề kháng,
Bước 2: Tiêu diệt, kìm hãm mầm bệnh bằng các thuốc kháng sinh hay các axit hữu cơ có tác dụng
kháng khuẩn
- Một số kháng sinh nhạy cảm với bệnh ORT trên gà:
+ Ceftiofur (kháng sinh thế hệ mới hoạt phổ rộng): tiêm
+ Linco – Spect: tiêm
+ Gentamycin kết hợp với amoxicilin: tiêm
+ Flodoxy (florfenicol và doxycycline): uống và trộn
- Axit hữu cơ: Butaphosphan
Do bệnh xảy ra chậm nên mỗi liệu trình cần điều trị cần kéo dài trong khoảng thời gian 5-7 ngày nhằm tiêu diệt triệt để mầm bệnh
6 Bệnh sổ mũi truyền nhiễm (Coryza) trên gà
Bệnh sổ mũi truyền nhiễm (coryza) là một bệnh hô hấp cấp tính của gà với biểu hiện đặc trưng bởi hiện tượng chảy nước mũi, khó thở, sưng phù đầu mặt Bệnh được tìm thấy trên toàn thế giới,
Trang 27với mức độ đặc biệt nghiêm trọng do bệnh xảy ra trên gà ở mọi lứa tuổi gây thiệt hại kinh tế nặng nề Bệnh do vi khuẩn Haemophilus paragallinarum, hiện nay còn được gọi Avibacterium paragallinarum, một vi khuẩn Gr – là nguyên nhân gây ra căn bệnh này
b Triệu chứng và bệnh tích
- Gà giảm ăn, ủ rũ
- Sưng đầu và sưng mặt( phù đầu hay phù mặt)
- Dịch viêm chảy ra từ mũi bắt đầu trong sau đặc và đóng cục mủ trắng, ấn tay vào thấy cứng, nhìn 2 bên mũi thấy phình to
- Mắt bị viêm kết mạc nên dính hai mí lại không mở ra được chỉ mở được một phần nhỏ Do đó gà không ăn uống được và chết
- Các biểu hiện bệnh có thể kéo dài 2 tuần
Gà bị sưng mặt, viêm kết
mạc mắt
Trang 28Các biểu hiện khi mổ khám
- Mổ ở xoang mũi thấy dịch viêm lúc đầu trong sau đặc trắng như bã đậu
Bã đậu trong xoang mũi
Trang 29- Xoang niêm mạc, kết mạc mắt bị viêm đỏ
- Các biểu hiện bên trong nội tạng thường do kế phát với các bệnh khác, Coryza ít có các bệnh tích đặc trương trong các cơ quan nội tạng
Tổ chức dưới da đầu phù thũng
Xoang niêm mạc, kết mạc
mắt vị viêm đỏ
Trang 30Sử dụng các chất long đờm, vitamin tổng hợp
7 Bệnh đầu đen (Bệnh Histomonas) trên gà
Là một bệnh kí sinh trùng, do đơn bào có tên Histomonas Meleagridis thuộc ngành Protozoa,
họ Tripanosomatidae, giống Histomonas, loài Histomonas Meleagridis và H Wenrichi, kí sinh ở niêm mạc ruột thừa và gan
a Triệu chứng và bệnh tích
- Các triệu chứng không điển hình
Ủ rũ, sốt, rúc đầu vào cánh, tìm chỗ có nắng, ấm áp để nằm, phân sáp vàng, sáp đen, phân dạng giống gạch cua, phân nước có thỏi phân sống ở giữa
Khí quản xuất huyết và chứa
nhiều dịch nhầy
Trang 31lù rù, mặt hốc hác, tái nhơt có thể lẫn với bệnh Kí sinh trùng đường máu hoăc một số bệnh khác tương tự
Tỉ lệ chết trong trường hợp này có thể lên tới 85-90% nếu không được điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách
Trang 32Biểu hiện bệnh khi mổ khám
Bệnh tích của bệnh đầu đen biểu hiện chủ yếu ở gan và ruột thừa, cũng là biểu hiện đặc trưng, là bệnh tích điển hình của bệnh giúp chẩn đoán chính xác và chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác (cầu trùng, Marek, Leuco, Lao hạch )
Bệnh tích điển hình của bệnh đầu đen có thể biểu hiện rõ ràng ở cả gan và ruột thừa cùng lúc, có trường hợp chỉ biểu hiện ở gan hoặc ở ruột thừa Trong đa số các trường hợp gà mắc bệnh đầu đen, bệnh tích ở ruột thừa (manh tràng) là biểu hiện đặc trưng luôn đi kèm và dễ dàng nhận biết nhất
Bệnh tích ở gan: Đặc trưng nhất là gan sưng to hơn bình thường và xuất hiện những vết hoại tử
hình hoa cúc với bề mặt hoai tử hơi lõm khắp bề mặt gan, (ý kiến cá nhân: thực ra thì rất khó để hình dung ra vết hoại tử hình hoa cúc là như thế nào, nên tôi hay gọi nó là vết hoại tử loang lổ) – Phần chẩn đoán phân biệt sẽ nói rõ hơn làm sao để phân biệt vết hoại tử gan trong bệnh đầu đen với vết hoại tử gan trong các bệnh khác
Gan gà mắc bệnh histomonas Gab hoại tử lõm hình
nón
Trang 33Vết hoại tử lõm, hình
nón
Trang 34Bệnh tích ở manh tràng:
tình trạng đặc trưng nhất là ruột thừa sưng to, thành ruột thừa tăng sinh dày, chất chứa bên trong ruột thừa trở thành dạng cứng chắc tạo khối dạng như canxi hóa lấp đầy bên trong, khi mổ khám sẽ
dễ dàng phát hiện 2 manh tràng rắn lại, chất chứa bên trong rắn có màu trắng, cũng từ đây mà bệnh
có thêm một tên gọi nữa – Bệnh kén ruột, nhiều trường hợp có thể phát hiện thấy giun kim nhỏ li ti tại đây Một số dạng khác của manh tràng trong bệnh đầu đen
+ Bên trong không có chất chứa dạng canxi hóa, mà chỉ thấy thành ruột thừa tăng sinh dày lên, bên trong có chất màu nhờ nhờ máu cá (dạng máu lẫn trong dịch thẩm xuất, màu hồng nhạt, nhớt nhớt) Có thể tìm thấy giun kim hoặc không
+ Manh tràng không tăng sinh sưng to, mà tăng sinh kiểu teo nhỏ, nhìn manh tràng có cảm giác nhỏ quắt lại, nhưng thực chất là do thành ruột tăng sinh dày làm cho toàn bộ manh tràng co lại, cắt đôi cảm thấy lòng manh tràng hẹp lại, bên trong không có chất chứa, có thể thấy giun kim hoặc không
+ Manh tràng bắt đầu tăng sinh dày lên, bên trong không có chất chứa nhưng có máu tươi bắt đầu khô lại Thường gặp trong trường hợp đàn gà mắc bệnh Cầu trùng máu tươi, sau đó kế phát bệnh đầu đen
Nốt hoại
tử loang
lổ lên bề mặt gan
Trang 35
Manh tràng chứa kén
Manh tràng tăng sinh
Trang 36Trong quá trình mổ khám phát hiện bệnh, ngoài kết hợp những triệu chứng không điển hình thì việc dựa vào những bệnh tích điển hình là việc quan trọng không thể bỏ qua, nên mổ khám ít nhất 2 con
gà mang triệu chứng chung của đàn để đưa ra kết luận chính xác nhất có thể, nên mổ cả con đã chết và con còn sống (nếu có) Nếu phát hiện ra dù chỉ 1 trong 2 biến đổi đặc trưng ở ruột thừa (manh tràng) hoặc gan thì đều có thể kết luận chẩn đoán nghi bệnh đầu đen, nếu phát hiện cả 2 biểu hiện bệnh tích thì chính xác hơn nữa, ngoài ra cần phát hiện những bệnh ghép hoặc các dạng kế phát để đưa ra phác đồ điều trị hợp lí
b Điều trị
Hiện trên thị trường có rất nhiều bộ sản phẩm trị bệnh Viêm gan ruột truyền nhiễm – bệnh đầu đen – bệnh kén ruột Dù sử dụng bất cứ bộ sản phẩm của công ty nào, bà con nên điều trị liệu trình ít nhất 4 ngày cho toàn đàn gà, kết hợp với giải độc gan thận lách và hạ sốt để mang lại hiệu quả cao nhất Khi kết thúc liệu trình bà con nên cho gà uống monosunfa kết hợp với ivermectin 1% pha 1ml vào 1lit nước cho đàn gà uống
c Chẩn đoán phân biệt
Vết hoại tử loang lổ hoa cúc, có dạng hơi lõm xuống chứ không lồi lên như dạng khối u, vết hoại tử
ăn sâu xuống dưới, càng sâu phía dưới thì càng nhỏ lại, vì thế khi cắt dọc xuống tại bề mặt vết hoại tử ta thấy mặt cắt có dạng như hình nón ngược Vết hoại tử xuất hiện ở bề mặt gan, không xuất hiện
ở mặt nơi tiếp giáp giữa 2 thùy gan
Bệnh Marek
Vết hoại tử chính là khối u tăng sinh, bề mặt gồ lên, khối U thường có màu vàng nhạt đến vàng chanh trên nền gan sưng, cắt đôi vết hoại tử ta không thấy có dạng hình nón ngược, ổ hoại tử gọn gàng hơn, vết hoại tử (khối u) xuất hiện cả ở mặt tiếp giáp giữa 2 thùy gan
Một số trường hợp manh tràng chứa máu
Trang 37Bệnh tụ huyết trùng
Gan cũng sưng và xuất hiện những vết hoại tử nhưng vết hoại tử trong bệnh tụ huyết trùng rất nhỏ, xuất hiện lấm chấm màu vàng ngà, chỉ bé bằng đầu đinh ghim tới hạt kê, nhìn vào bề mặt gan trong bệnh tụ huyết trùng có thể liên tưởng đến một vùng trời nhiều sao lấm chấm sáng
Bệnh Newcatle là một bệnh rất phổ biến và cũng được rất nhiều người chăn nuôi quan tâm, bởi bệnh
có tỷ lệ chết rất cao và tỷ lệ lây lan rất nhanh, có thể lây lan trên một diện rộng Cũng chính bởi tính chất nguy hiểm như vậy mà trong chăn nuôi, bệnh này được người chăn nuôi luôn chú trọng hàng đầu
a Triệu chứng và bệnh tích
* Thể tiêu hóa
- Xuất hiện bất thình lình, sốt cao, bỏ ăn
- Khó thở, khát nước, liệt chân Chết sau 4 - 8 ngày
- Phù mắt, mũi, đầu, chảy nước mắt, nước mũi
- Tiêu chảy phân xanh, có thể vấy máu
U marek có viền chân rõ
Hoại tử chấm vàng ngà
Trang 39* Thể hô hấp - thần kinh
- Xuất hiện đột ngột
- Khó thở, ngáp gió, ho, bỏ ăn, giảm hay ngừng đẻ
- 1-2 ngày sau xuất hiện triệu chứng thần kinh
- Tỷ lệ chết ở gà lớn 50%, ở gà con lên đến 90%
Trieu chứng thần kinh
Mào tím tái, chảy nước mắt
Hen khẹc
Trang 40Bệnh tích của bệnh Newcastle trên gà
- Tích dịch viêm ở thanh quan, khí quản
- Có thể viêm ở phổi
- Túi khí viêm dày đục, tích dịch viêm và casein
- Dạ dày cơ có thể xuất huyết
Xung huyết, xuất huyết khí quản
Gà ngọe đầu