1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng HCM: Độc lập dân tộc găn liền với chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam cuối tk19 đầu tk 20

15 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Độc lập dân tộc gắn liền với CNTB ở Việt Nam cuối TK19 đầu TK20Xuất phát từ quan điểm của Mác “Sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó phải là quá trình thay thế tuần tự, đi từ thấp đến cao qua 5 hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa. Quá trình tiến hóa đó là khách quan, là quá trình lịch sử – tự nhiên.2. Xuất phát từ quan điểm của Mác về sự phát triển mang tính lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế xã hội, vận dụng vào Việt Nam giai đoạn cuối TK19 đầu TK20

Trang 1

LĐ1: TUẦN TỰ

Xuất phát từ quan điểm của Mác “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”

Trong lời tựa của bộ Tư bản, C Mác đã khẳng định: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên” Đây là luận điểm khái quát quan trọng của C Mác, khẳng định lập trường duy vật triệt để về sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội

• Tại sao nói “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch

sử tự nhiên”? Bởi vì nó bị tác động bởi các quy luật khách quan và hoạt động thực tiễn của con người Xuất phát từ quan niệm xã hội là một bộ phận của tự nhiên, sự vận động phát triển của hình thái kinh tế - xã hội phải tuân theo quy luật khách quan Tính chất lịch sử – tự nhiên trong sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là sự thống nhất giữa cái khách quan và hoạt động chủ quan của con người, được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau đây:

• Sự vận động, phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử chịu sự tác động, chi phối của các quy luật xã hội khách quan

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định sẽ có các thành tố tương ứng là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Các thành tố đó tác động qua lại với nhau theo những quy luật xã hội khách quan Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

Xét đến cùng, sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội khác bắt nguồn sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản xuất, là yếu tố bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển lên của xã hội quy định khuynh hướng phát triển từ thấp Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử Những quan hệ sản xuất lỗi thời được xoá bỏ và được thay thế bằng những kiểu quan hệ sản xuất mới cao hơn và hình thái kinh tế-xã hội mới cao hơn ra đời

Khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức một mức độ nhất định mà quan

hệ sản xuất hiện tồn trở nên mâu thuẫn, chật hẹp, trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất đó, thì tất yếu sẽ diễn ra cách mạng xã hội để xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp Khi đó cơ sở hạ tầng mới cũng xuất hiện,

Trang 2

kéo theo kiến trúc thượng tầng mới tương ứng Và đương nhiên, hình thái kinh tế – xã hội mới xuất hiện thay thế cho hình thái kinh tế – xã hội cũ Như thế, sự phát triển, thay thế nhau từ thấp lên cao của các hình thái kinh

tế – xã hội chịu sự tác động, chi phối của các quy luật nội tại: Quy luật quan

hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng sinh

ra kiến trúc thượng tầng Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội hay của lịch sử nhân loại suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó V.I.Lênin từng nhấn mạnh một phương pháp luận quan trọng khi nghiên cứu về xã hội là: "Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm

sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"

• Quy luật chi phối các hình thái kinh tế – xã hội là quy luật xã hội, thể hiện thông qua hoạt động của con người, nhưng không vì thế mà quy luật đó không mang tính khách quan

Quy luật xã hội không những phụ thuộc vào ý thức, ý chí con người mà ngược lại, quy luật xã hội còn quyết định và chi phối cả ý thức, ý chí của con người Mỗi hình thái kinh tế – xã hội được coi như một cơ thể xã hội phát triển theo những quy luật vốn có của nó

Con người làm nên lịch sử, là chủ thể của lịch sử, nhưng không thể tùy tiện tạo ra hoặc xóa bỏ một quy luật khách quan nào của lịch sử, cho nên sự phát triển của hình thái kinh tế – xã hội tuân theo quy luật khách quan Tính logic của sự phát triển được diễn ra tuần tự từ thấp đến cao, lần lượt trải qua các hình thái kinh tế – xã hội kế tiếp nhau; bên cạnh dòng chính của sự phát triển từ thấp đến cao đó, một dân tộc cụ thể còn có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế – xã hội để tiến lên một hình thái kinh tế – xã hội cao hơn và đây là tính lịch sử trong quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội Thực tế lịch sử còn cho thấy rằng, con người có khả năng nhận thức và vận dụng được quy luật vào thực hiện mục đích của mình Vì vậy, sự phát triển lịch sử– tự nhiên của các hình thái kinh tế – xã hội tất yếu có dấu ấn chủ quan của con người, nó được biểu hiện thông qua các cuộc cách mạng

xã hội của loài người

Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó phải là quá trình thay thế tuần tự, đi từ thấp đến cao qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ

Trang 3

nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa Quá trình tiến hóa đó là khách quan, là quá trình lịch sử – tự nhiên.

• Sự phát triển về phương thức sản xuất qua 3 hình thái kinh tế - xã hội: phong kiến,

tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa

• Phong kiến

Xã hội hình thành chế độ sở hữu phong kiến về tư liệu sản xuất, chủ yếu là ruộng đất và sự lệ thuộc về thân thể của người nông dân vào chúa phong kiến Nông dân canh tác trên ruộng đất của chúa phong kiến với công cụ thủ công, trình độ kỹ thuật rất thấp, quy mô sản xuất nhỏ

Nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển thúc đẩy sự phát triển của sản xuất

và trao đổi Tuy những biến đổi kỹ thuật dưới chế độ phong kiến diễn ra chậm chạp, sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công của nông dân và thợ thủ công nhưng do tính độc lập tương đối của nông dân làm cho sản xuất đạt tiến

bộ nhất định Lực lượng sản xuất phát triển, nông dân quan tâm hơn đến sản xuất, các công cụ lao động như cày sắt phát triển rộng rãi, kỹ thuật canh tác được cải tiến hơn, nhân công trong nông nghiệp được mở rộng Công cụ chủ yếu dùng bằng sắt, phân bón được sử dụng rộng rãi

Mặc dù vậy, nhưng đối với sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất, đặc biệt khi diễn ra các cuộc cách mạng công nghiệp, thì quan hệ sản xuất phong kiến không còn thích ứng và trở thành lực cản bởi quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất phong kiến là sản xuất ra sản phẩm thặng dư cho chúa phong kiến bằng cách bóc lột nông nô dưới hình thức địa tô, chủ yếu

là địa tô hiện vật Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất phong kiến ngày càng trở nên sâu sắc, đó là nguyên nhân làm cho nền kinh tế phong kiến bị đình đốn, khủng hoảng lực lượng sản xuất càng phát triển càng làm cho xã hội phong kiến thêm bất ổn định Khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thì tất yếu phải được thay thế bằng phương thức sản xuất tiến bộ hơn Trải qua các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới thắng lợi đã mở đầu cho lịch sử thời kỳ cận đại toàn thế giới, tức là mở đầu cho thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ TBCN Ở đó, phương thức sản xuất TBCN đã ra đời trên cơ sở của lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và phá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu

• Tư bản chủ nghĩa

Xuất hiện đầu tiên ở châu Âu, phôi thai và phát triển trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức xác lập như một hình thái KTXH đầu tiên ở Anh

và Hà Lan vào thế kỷ 17 Adam Smith (1723-1790) là người có đóng góp to

Trang 4

lớn nhất xây dựng một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh về chủ nghĩa tư bản tự do hay tự do kinh tế

Cá nhân dùng sở hữu tư nhân để kinh doanh trong điều kiện thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế Bản chất sự “bóc lột” nằm ở giá trị thặng dư

mà sức lao động tạo ra khi các nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động

Lực lượng sản xuất và khoa học – kỹ thuật phát triển mạnh, sản xuất và lao động được xã hội hóa cao trên quy mô lớn, năng suất lao động cao…

Phương thức sản xuất xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Dưới chế độ này, xã hội chia thành 2 giai cấp: giai cấp tư sản (người sở hữu tư liệu sản xuất) và giai cấp vô sản (người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, chịu sự bóc lột của nhà tư bản) Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và sản phẩm Mâu thuẫn ấy trở nên đặc biệt gay gắt khi CNTB bước sang giai đoạn phát triển cao nhất và cũng là giai đoạn tột cùng, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Mâu thuẫn giai cấp đó kết hợp với mâu thuẫn giai cấp mới giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc bị áp bức đã dẫn đến sự thay thế bằng phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn như một yếu tố khách quan – phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa

• Xã hội chủ nghĩa

Phương thức sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình

độ cao hơn cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản, có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân với trình độ xã hội hóa ngày càng cao Sự liên hiệp và tương trợ lẫn nhau trong sản xuất giữa những người lao động đã được giải phóng khỏi sự bóc lột và trên cơ sở một nền sản xuất lớn cơ khí hiện đại

Cơ sở vật chất của CNXH là nền sản xuất công nghiệp hiện đại, dựa trên việc

sử dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại, gắn liền với lực lượng sản xuất ở trình độ cao và bao trùm tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề của kinh tế quốc dân

Quan hệ sản xuất XHCN với các hình thức sở hữu đa dạng chiếm vị trí chủ đạo, xóa bỏ những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, giúp gắn bó các thành viên trong xã hội với nhau vì lợi ích căn bản, đồng thời thực hiện nguyên tắc

Trang 5

phân phối theo lao động: cơ sở cho công bằng xã hội Bên cạnh đó CNXH cũng tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới: phù hợp với địa vị làm chủ của người lao động và xóa bỏ tàn sự của tình trạng lao động bị tha hóa trong xã hội cũ, bảo đảm sự phát triển nhanh lực lượng sản xuất Trong xã hội không còn phân chia giai cấp chiếm hữu tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản,con người được giải phóng, nhân dân lao động làm chủ đất nước, lực lượng sản xuất và nền kinh tế phát triển cao, phân phối chủ yếu theo lao động Kết cấu của phương thức sản xuất XHCN tạo nên kết cấu hạ tầng mà trên đó được xây dựng một kiến trúc thượng tầng mới, một nền dân chủ XHCN

2. Xuất phát từ quan điểm của Mác về sự phát triển mang tính lịch sử

-tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội, vận dụng vào Việt Nam giai đoạn cuối TK19 đầu TK20

Sự thay đổi tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam:

Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến

Giai cấp địa chủ, đa số là địa chủ nhỏ và vừa có tinh thần yêu nước, căm ghét, vừa có tinh thần dân tộc chống Pháp, số đại địa chủ, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp là đối tượng của cách mạng

Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột, cuộc sống cực khổ nên rất tích cực chống đế quốc và phong kiến

Tầng lớp tiểu tư sản gồm người buôn bán nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên phát triển khá nhanh Họ nhạy cảm trước thời cuộc, đời sống rất bấp bênh nên hăng hái đấu tranh và là lực lượng quan trọng của cách mạng Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai của chúng Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) và phát triển khá nhanh Năm 1914 khoảng 10 vạn, đến năm 1929 tăng lên 22 vạn Giai cấp công nhân Việt Nam tuy số lượng ít, ra đời muộn so với công nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính kỷ luật và tính chất quốc tế

Trang 6

Trong xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam,

đa số là nông dân với địa chủ phong kiến

Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ XX

→ Vì vậy, trong giai đoạn này, chỉ có sự xuất hiện của giai cấp tư bản mới có thể lật đổ giai cấp phong kiến, giải quyết sự áp bức của thực dân Pháp Chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam nếu có đà phát triển thì rất có khả năng giải phóng tự

do dân tộc

Chủ nghĩa tư bản đã để lại những thành tựu, bài học kinh nghiệm có giá trị và của cải để góp phần ủng hộ cách mạng sau này

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản phản ánh tinh thần dân tộc của một bộ phận trí thức, tư sản Việt Nam Tuy nhiên do chưa được lan rộng và bị dập tắt nhưng đó chính là bài học kinh nghiệm quý giá cho Đảng

Việt Nam cuối TK19 đầu TK20 bắt buộc phải trải qua CNTB do sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình tuần tự.

LĐ2A NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CUỐI THẾ KỈ 19- ĐẦU THẾ KỈ 20

Nhóm chúng tôi muốn phản biện ý kiến về sự “nhảy vọt” của đội ủng hộ, bởi nhảy vọt như các bạn trình bày là bỏ qua chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với việc bỏ qua cả một chế độ xã hội, bỏ qua toàn bộ những thành tựu to lớn của chủ nghĩa tư bản cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội:

1 Về kinh tế:

Không thể không nói đến những sự nâng cao về năng suất lao động và phát triển của

tư liệu sản xuất Theo như Mác định nghĩa: năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian,

Trang 7

hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Tăng năng suất lao động là tăng năng lực sản xuất của người lao động, là sự thay đổi trong cách thức lao động, thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn Đó là kết quả từ 2 cuộc CM kỹ thuật:

Cuộc cách mạng kỹ thuật lần 1( năm 60 của thế kỷ XVIII) mở ra kỷ nguyên sản xuất cơ

khí, cơ giới hóa Cuộc cách mạng này đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thời đại nông nghiệp, chủ yếu dựa vào sức mạnh cơ bắp (lao động thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động vật => bằng một hệ thống kỹ thuật mới với nguồn động lực là động cơ hơi nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng mới là sắt và than đá: “thoi bay” của Giôn Kay (1733); động cơ hơi nước Giêm Oát

(1784), nhờ đó năng suất lao động của ngành dệt tăng đến 40 lần, năng lực vận chuyển

hàng hóa tăng gấp nhiều lần nhờ các phương tiện giao thông mới chạy bằng hơi nước

=> Từ đó lực lượng sản xuất phát triển, từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang phát triển hàng hóa tư bản chủ nghĩa, từ sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn → Sự phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và kinh tế

Không dừng lại ở đó, nền kinh tế tiếp tục phát triển hơn nữa với Cuộc cách mạng kỹ

thuật lần 2( cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX) giúp chuyển nền sản

xuất cơ khí sang nền sản xuất điện - cơ khí và tự động hóa cục bộ trong sản xuất.

Xuất hiện năng lượng điện và động cơ điện tạo ra dây chuyền sản xuất tập trung quy mô lớn, chuyên môn hóa cao, với những phát minh, sản phẩm mới như: xăng dầu, động cơ đốt trong (1885), công nghệ luyện thép, ô tô, điện thoại

=> Đã tạo ra tư liệu sản xuất hiện đại, giải phóng sức lao động, tạo ra khối lượng việc làm lớn, phát triển các ngành khoa học kỹ thuật hiện đại.

Trong khi đó, xã hội phong kiến vẫn còn là nền kinh tế tự nhiên (tự cấp, tự túc).Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp dựa trên sản xuất nhỏ của nông dân Mặt khác lại áp dụng chính sách bế quan tỏa cảng: hạn chế giao lưu với nước ngoài, tiếp thu tri thức, thành tựu khoa học và kìm hãm phát triển kinh tế

2 Về chính trị:

Các cuộc cách mạng tư sản, đặc biệt là cuộc cách mạng tư sản Pháp, Mỹ đã thủ tiêu chế độ phong kiến và những tàn dư của nó, hình thành thị trường dân tộc thống nhất mở đường cho lực lượng TBCN phát triển Từ đó làm xuất hiện hai bản tuyên ngôn nổi tiếng

là tuyên ngôn độc lập của Mỹ(1776) và tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp(1789)

Trang 8

=> thiết lập khái niệm về quyền con người, quyền công dân, đề cao tính chất dân chủ , khích lệ quyền tự do cá nhân, thực hiện chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng.

Xã hội tư bản chủ nghĩa không bắt buộc công nhận bất cứ "chủ nghĩa", học thuyết hoặc nhân vật thần thánh nào Mọi lý thuyết xã hội, chính trị hoặc lý luận của các tổ chức và cá nhân đều phải qua thực tế kiểm nghiệm và phán xét công khai và được chấp nhận hoặc loại bỏ

Còn xã hội phong kiến thì vẫn theo chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ này đã bộc lộ những biểu hiện suy yếu trầm trọng Toàn bộ quyền tập trung vào tay vua, các quan đứng đầu.

LĐ2B.PHÁP KHAI HÓA VIỆT NAM

Lĩnh

vực

Việt Nam khi chưa được

khai hóa

Việt nam sau khi được Pháp sang khai hóa

Kinh tế - Việt Nam chưa mở rộng

tuyển đường 3 miền, việc vận chuyển hàng hóa Việt Nam đang còn rất hạn chế

_Trước khi Pháp tiến hành xâm

lược, tăng trưởng ở Việt Nam chỉ ở

mức 2,5% đến 3%

-Nền kinh tế việt nam phát triển rất nhanh dưới

sự bảo hộ của Pháp Pháp khai hoang khiến nông nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp bản địa đang trên đà suy thoái phát triển Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, các đô thị lớn mà đến ngày nay nền kinh tế Việt Nam vẫn đang vận hành dựa vào hệ thống này

-Sau khi Pháp chiếm được Nam kỳ, tăng trưởng của Nam Kỳ lên 6% Tiếp đến việc chiếm nốt Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tăng trưởng của Việt Nam

đã lên khoảng 6% Trong thời kỳ 1885-1900, kinh tế Việt Nam phát triển ở mức 7%/năm

- Pháp công cuộc thiết lập cơ sở, kiến trúc ,

Pháp đã du nhập kỹ thuật thiết kế đô thị và nghệ thuật Tây Phương, kể cả việc nhập cảng vật liệu và đưa các nhà trang trí từ Pháp sang giúp

+> Tại Hà Nội : Nhà hát lớn Hà Nội, Nhà thờ lớn Hà Nội,Bảo tàng lịch sử, Phố cổ Hà Nội,

Ga Hà Nội

+> Tại TPHCM : Bến nhà rồng, Dinh Biệt Thự, Thương xá TAX, Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM,

- Pháp thiết lập hệ thống chuyển vận hàng hóa đường thủy và đường bộ.

- Khai hóa là để khai thác kinh tế và muốn khai thác kinh tế, Pháp cần thiết lập nhanh chóng hệ

Trang 9

thống chuyển vận hàng hóa đường thủy và đường bộ Về đường thủy , các kinh rạch được vét sâu hơn, đất sông đem lên đắp làm bờ Thương cảng Saigon hoạt động ngay từ năm 1860

- Để khai thác tiềm năng nông nghiệp và chuyên chở nông sản, Pháp cũng sớm lo phát triển hệ thống đường thủy nối liền Saigon đi miền Tây

- Pháp xây dung công trình cầu Long Biên vừa phát triển đưa hàng hóa của đường sông, đường tàu và 2 bên đường bộ phát triển việc đi lại

- Từ 1900 đến 1935, Pháp đã sử dụng 145 triệu quan để lập đường xe lửa và 45 triệu quan để

mở mang đường sá

- Về y tế : Chúng xây bệnh viện cho người Việt

Nam Nhưng công trình bây giờ vẫn còn tồn tại như : Bệnh viện K(1927), Bệnh viện Bạch Mai (1931), Bệnh viện Việt Đức (1904)

-> Kiến trúc Pháp ở Hà Nội đã trở thành một quỹ di sản kiến trúc mang ý nghĩa lịch sử, kết hợp hài hòa với các thành phần kiến trúc và cảnh quan đô thị truyền thống Những bài học

và di sản của nó là một tiền đề thuận lợi cho kiến trúc Việt Nam tiếp cận với kiến trúc hiện đại phương Tây trong xu thế hội nhập quốc tế tất yếu hiện nay-> Thu hút khách du lịch trong

và ngoài nước tham quan kiến trúc lịch sử tại Việt Nam ngày nay -> Nền kinh tế Việt phát triển hơn

Chính

trị, xã

hội

_Quyền lực được tập trung vào

vua,

Nhà nước vẫn là nhà nước quân

chủ chuyên chế trung ương tập

quyền

_Chính sách ngoại giao giữ được

quan hệ thân thiện với các nước

láng giềng nhưng vẫn còn thể hiện

sự bảo thủ, lạc hậu, không tạo điều

kiện giao lưu với các nước và các

nền văn hóa tiên tiến trên thế giới

-Về chính trị, chúng trực tiếp nắm giữ các chức

vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính sách cai trị chuyên chế, biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực Đồng thời chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã man, tàn bạo, làm cho nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự

do dân chủ

- Chính sách khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến,

xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa dân tộc

Trang 10

ta với đế quốc Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến Nhiệm vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống phong kiến tay sai không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra

-> Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước : Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

- Lực lượng nòng cốt cho cách mạng giải phóng dân tộc đã ra đời.Giai cấp công nhân được tiếp cận với nền sản xuất tiên tiến, được đào tạo về tính tập thể, tổ chức kỷ luật, đó chính là những năng lực tiềm tàng để lãnh đạo nhân dân sau này

Ngày đăng: 28/08/2022, 10:27

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w