Theo quy định của UNFCCC và KP, Việt Nam được xác định là một trong các bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC.1 Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đã cam kết thực
Trang 1NguyÔn ThÞ Hång YÕn *
iến đổi khí hậu là cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng nhất mà nền văn minh
nhân loại từng phải đối mặt từ trước đến nay,
là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội và phồn thịnh của hầu hết các quốc
gia trên thế giới trong thế kỉ XXI N hận thức
được điều này, cộng đồng quốc tế đã có
những hành động thiết thực nhằm tạo ra
khuôn khổ pháp lí chung điều chỉnh vấn đề
hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu (viết tắt
là BĐKH) trên phạm vi toàn thế giới, trong
đó Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone
năm 1985, Nghị định thư Montreal về các chất
làm suy giảm tầng Ozone năm 1987, Công
ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm
1992 và Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí
thải nhà kính năm 1997… được xem là những
thành tựu lớn của cộng đồng quốc tế
Việc tham gia thực hiện các cam kết
quốc tế về môi trường nói chung và BĐKH
nói riêng là rất cần thiết trong bối cảnh hội
nhập kinh tế-quốc tế của Việt Nam Một mặt,
thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt
Nam trong việc tham gia giải quyết các vấn
đề chung, mang tính quốc tế Mặt khác, mở
rộng cơ hội để Việt Nam nhận được sự hỗ
trợ quốc tế về kĩ thuật và tài chính, góp phần
bảo vệ và cải thiện môi trường trong nước,
phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững
quốc gia Trong phạm vi bài viết này, tác giả
tập trung vào quá trình thực thi các cam kết
của Việt Nam trong Công ước khung của
Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (viết tắt là UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải nhà kính (viết tắt là KP) ở cả hai khía cạnh lập pháp và thực tiễn triển khai
1 Xây dựng các chính sách, pháp luật của Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu - nỗ lực giải quyết vấn đề chung và thực hiện nghĩa vụ thành viên
Chính phủ Việt Nam kí UNFCCC ngày 11/6/1992 và phê chuẩn ngày 16/11/1994, kí
KP ngày 03/12/1998 và phê chuẩn ngày 25/9/2002 Là một bên tham gia UNFCCC và
KP, trong những năm qua, Việt Nam đã xây dựng và ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần thực hiện mục tiêu
cuối cùng của UNFCCC là: “Ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức
có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”
Theo quy định của UNFCCC và KP, Việt Nam được xác định là một trong các bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC.(1) Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đã cam kết thực hiện một số nghĩa vụ trong UNFCCC như: quan trắc khí tượng và phát triển hệ thống lưu trữ khí tượng; kiểm kê quốc gia khí nhà kính (viết tắt là KNK) trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; xem xét tới vấn đề BĐKH trong các chính sách, hành động về môi
B
* Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2trường, kinh tế-xã hội v.v Đối với KP, cam
kết của Việt Nam bao gồm: thực hiện Điều 4
của KP và tự nguyện tham gia CDM theo
đúng quy định tại Điều 12 của KP.(2)
Để thực thi các cam kết của Việt Nam
trong UNFCCC và KP, năm 2006, Chính
phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc
gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả với mục tiêu tiết kiệm từ 3% - 5% tổng
mức tiêu thụ năng lượng trong toàn quốc giai
đoạn 2006 - 2010 và từ 5% - 8% tổng mức tiêu
thụ năng lượng trong giai đoạn 2011 - 2015
Tiếp đó, ngày 16/4/2007 Thủ tướng Chính
phủ ra Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg phê
duyệt Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định
thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên
hợp quốc về BĐKH giai đoạn 2007 - 2010
với mục tiêu huy động mọi nguồn lực nhằm
góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế-xã hội giai đoạn 2007 - 2010 theo hướng
phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ môi
trường và đóng góp vào việc tổ chức thực
hiện UNFCCC, KP và (CDM).(3) Theo đó:
a Về cơ chế phát triển sạch – CDM
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007
quy định về một số cơ chế, chính sách tài
chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát
triển sạch, trong đó ghi nhận: Dự án CDM là
dự án đầu tư sản xuất theo công nghệ mới,
tiên tiến thân thiện với môi trường, có kết
quả giảm phát thải KNK được Ban chấp
hành quốc tế về CDM(4) chấp thuận đăng kí
và cấp chứng chỉ giảm phát thải
- Các lĩnh vực xây dựng, đầu tư thực
hiện dự án CDM: Là toàn bộ các lĩnh vực
kinh tế có mang lại kết quả giảm phát thải
KNK, bao gồm các lĩnh vực sau: nâng cao
hiệu quả sử dụng, bảo tồn và tiết kiệm năng lượng; khai thác, ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo; chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hoá thạch nhằm giảm phát thải KNK (5)
- Hình thức xây dựng, đầu tư thực hiện
CDM: Bao gồm 3 hình thức chủ yếu là đầu
tư trong nước, đầu tư nước ngoài và hình thức liên doanh
- Điều kiện đối với dự án CDM: Để được
công nhận là dự án CDM, dự án đó phải thoả
mãn một số điều kiện như: Là dự án được xây
dựng theo quy định của pháp luật hiện hành
về đầu tư, phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển của bộ, ngành, địa phương và góp phần bảo đảm phát triển bền vững của Việt Nam; Nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự
án trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; Bảo đảm tính khả thi với công nghệ tiên tiến và nguồn tài chính phù hợp (6)
- Về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu
tư dự án CDM tại Việt Nam: Để khuyến khích
và quản lí các hoạt động đầu tư dự án CDM
từ các cá nhân, doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, Quyết định số 130/2002/QĐ-TTg cũng ghi nhận rất cụ thể các quyền lợi mà nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM tại Việt Nam được hưởng như: Các ưu đãi về thuế; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được xem xét trợ giá đối với sản phẩm của dự án CDM thuộc lĩnh vực ưu tiên Bên cạnh đó, các nhà đầu tư dự án CDM tại Việt Nam cũng phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật như: Đăng kí với cơ quan thuế khi dự án
đi vào hoạt động để được hưởng các ưu đãi
về thuế; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định đối với dự án CDM, nộp lệ phí bán CERs (7)
Trang 3- Về hoạt động mua bán, chuyển nhượng
chứng chỉ giảm phát thải KNK (CERs):
CERS là các giảm phát thải được chứng nhận
do Ban chấp hành quốc tế về CDM cấp cho
dự án CDM 1 CERs được xác định bằng
một tấn khí CO2 tương đương Sau khi nhận
CERs, nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự
án CDM có thể chào bán ngay cho các đối
tác có nhu cầu hoặc lựa chọn thời điểm thích
hợp trong thời gian CERs có hiệu lực; Số
lượng và giá bán CER được xác định căn cứ
vào hợp đồng mua bán CERs
- Lệ phí bán CERs: Lệ phí bán CERS
được tính bằng tỉ lệ % trên số tiền bán CERS
mà nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án
CDM thu được Hiện nay, theo quy định tại
Thông tư số 204/2010/TTLT-BTC-BTN&MT,
lệ phí bán CERs phải nộp được xác định
theo công thức sau:
Số tiền lệ
phí bán
CERs
phải nộp
(đồng)
=
Mức thu
lệ phí bán CERs (%)
x
Số lượng CER bán hoặc chuyển
về nước
x
Giá bán CER (đồng/
CER)
Trong đó, mức thu lệ phí bán CERs được
tính theo tỉ lệ phần trăm (%) trên tổng số tiền
bán CERs theo hợp đồng đã kí kết hoặc giá
trị của CERs mà nhà đầu tư nước ngoài
chuyển về nước, áp dụng đối với từng dự án
CDM.(8) Riêng trường hợp chủ sở hữu CERs
không bán mà chuyển CERs về nước thì số
lượng CERs để tính lệ phí là số lượng CERs
thực tế được chủ sở hữu CERs chuyển về
nước, giá CERs để xác định số tiền lệ phí
phải nộp được căn cứ vào giá thị trường tại
thời điểm chuyển CERs về nước
b Về các phương án giảm nhẹ phát thải KNK và chính sách ứng phó với BĐKH
Theo kiểm kê KNK của Bộ tài nguyên
và Môi trường năm 2000, tổng lượng phát thải của Việt Nam vào khoảng trên 150 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó 3 nguồn phát thải chủ yếu là nông nghiệp (43,1%), năng lượng (bao gồm cả giao thông vận tải: 35%), lâm nghiệp và chuyển đổi sử dụng đất - LULUCF (10%) Dựa trên kết quả kiểm kê này, các bộ, ngành đã phối hợp xây dựng một số phương án giảm nhẹ phát thải KNK cho 3 lĩnh vực trên( 9 )
với tổng tiềm năng giảm nhẹ phát thải KNK là 3.270,7 triệu tấn
CO2 tương đương Có thể nói đây là mức giảm tương đối lớn và cần thiết để tránh sự tích tụ nhiều hơn các chất gây hiệu ứng nhà kính đối với Việt Nam
Ngoài ra, để ứng phó với BĐKH, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng
phó với BĐKH trong đó nêu rõ quan điểm
của Nhà nước ta là ứng phó với BĐKH phải được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng, bình đẳng về giới, xoá đói, giảm nghèo; các hoạt động ứng phó với BĐKH được tiến hành có trọng tâm; ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức (10)
c Về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và chống BĐKH nói riêng
Hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung nếu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lí theo các quy định tại
Trang 4Chương XVII Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009) Đối với những vi
phạm hành chính, việc xử lí sẽ được thực hiện
theo quy định tại Nghị định số
117/2009/NĐ-CP quy định về xử lí vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó,
đối với mỗi hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân
vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử
phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền (mức
phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
là 500.000.000 đồng) Ngoài ra, tuỳ theo tính
chất và mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường có thể bị áp dụng một hoặc một số
hình thức xử phạt bổ sung.(11)
d Về hoạt động hợp tác quốc tế trong
ứng phó với BĐKH
Nguyên tắc hợp tác quốc tế được ghi
nhận tại Chương VII Luật bảo vệ môi trường
Việt Nam năm 2005 Theo đó, Nhà nước
Việt Nam đẩy mạnh hợp tác với các nước
láng giềng và khu vực để giải quyết các vấn
đề quản lí, khai thác tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường có liên quan; Nhà
nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá
nhân hợp tác với tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công
tác bảo vệ môi trường trong nước; nâng cao
vị trí, vai trò của Việt Nam về bảo vệ môi
trường trong khu vực và quốc tế
Với những nỗ lực trong quá trình xây
dựng các chính sách, pháp luật về ứng phó
BĐKH, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu rất đáng khích lệ, như:
- Về số lượng các văn bản pháp luật: Kể
từ khi trở thành thành viên của các điều ước
quốc tế trên, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn trong việc xây dựng hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm thực thi các cam kết quốc gia Riêng về vấn đề BĐKH, Việt Nam đã ban hành hàng trăm các văn bản khác nhau bao gồm cả nghị định, thông tư, quyết định, các chiến lược, chính sách điều chỉnh vấn đề này
- Về nội dung: Trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế (đặc biệt là nguyên tắc Pacta sunt servanda), trong các văn bản pháp luật quan trọng về bảo vệ môi trường nói chung và BĐKH nói riêng của Việt Nam đều có các điều khoản
quy định “Việt Nam tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia”; đồng thời xác định rõ hiệu
lực của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong trường hợp có quy định khác nhau giữa các văn bản quốc nội với các
điều ước quốc tế
- Về tính khả thi: Các chính sách, chiến lược về BĐKH được xây dựng tương đối phù hợp và có tính đến điều kiện của các vùng miền khác nhau và đều kèm theo các giải pháp tương đối cụ thể Các chính sách này cũng đã thu hút được sự quan tâm và tham gia của đông đảo các thành phần khác nhau trong xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước
Mặc dù vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam về ứng phó với BĐKH vẫn còn một số hạn chế nhất định như:
Thứ nhất, các quy định liên quan đến việc
ứng phó với BĐKH còn tản mạn và thiếu đồng bộ khi được ghi nhận rải rác trong rất nhiều văn bản với hiệu lực pháp lí khác nhau (chủ yếu là các văn bản dưới luật)…;
Trang 5Thứ hai, chưa có các quy định về cơ chế
phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương
đối với hoạt động thích ứng, ứng phó với
BĐKH Đồng thời cũng chưa ghi nhận các
biện pháp thiết thực để thúc đẩy sự tham gia
và phối hợp của các thành phần xã hội khác
nhau trong công tác ứng phó với BĐKH;
Thứ ba, các chính sách, pháp luật được
ban hành chưa thực sự trở thành công cụ đắc
lực để có thể điều chỉnh các hoạt động ứng
phó BĐKH Các chế tài xử lí vi phạm pháp
luật còn chưa phù hợp, chủ yếu là các biện
pháp mang tính chất hành chính, thiếu tính
răn đe, chưa ngăn ngừa được những hành vi
vi phạm về lĩnh vực bảo vệ môi trường nói
chung và BĐKH nói riêng;
Thứ tư, quá trình lồng ghép các vấn đề
về BĐKH vào chính sách, chương trình và
kế hoạch phát triển các ngành kinh tế quốc
dân vẫn còn hạn chế
2 Thực tiễn triển khai các quy định
của UNFCCC và KP
Để tổ chức thực hiện các nghĩa vụ đã
cam kết trong UNFCCC và KP, ngày
17/10/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị số 35/2005/CT-TTG giao trách
nhiệm cho các bộ, ngành trong việc triển
khai thực hiện UNFCCC và KP tại Việt Nam
Với vai trò là cơ quan được Chính phủ giao
chủ trì thực hiện UNFCCC và KP, sau khi
xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về
ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, Bộ
tài nguyên và môi trường (viết tắt là Bộ
TN&MT) đã thành lập Văn phòng BĐKH để
điều phối các hoạt động của UNFCCC và
KP Cơ quan đầu mối UNFCCC và KP là Vụ
hợp tác quốc tế (thuộc Bộ TN&MT)
a Về xây dựng hệ thống quan trắc và theo dõi BĐKH
Việt Nam đã chủ động trong việc xây dựng hệ thống các trạm quan trắc và theo dõi BĐKH ở cả 3 cấp trung ương, khu vực và địa phương Theo báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC năm 2010, đến
nay Việt Nam đã xây dựng được 174 trạm khí
tượng bề mặt, 248 trạm thủy văn, 17 trạm khí tượng hải văn và 393 điểm đo mưa độc lập Các trạm khí tượng chuyên dụng của Việt Nam gồm 10 trạm khí tượng cao không, 6 trạm rađa thời tiết, 29 trạm khí tượng nông nghiệp, 21 trạm khí tượng thuỷ văn biển và
396 trạm đo mưa Hệ thống thông tin liên lạc khí tượng thủy văn hiện nay của Việt Nam bao gồm: mạng viễn thông toàn cầu GTS, mạng Internet và mạng thông tin nội địa
b Tổ chức giám sát, nghiên cứu BĐKH
Các hoạt động giám sát và nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành với nhiều hoạt động khác nhau như: Chỉnh lí sơ
bộ đặc trưng các số liệu quan trắc khí tượng của từng trạm, về từng yếu tố quan trắc theo các quy trình bắt buộc và lập thành các sổ khí tượng (SKT), bảng khí tượng (BKT); công bố các số liệu quan trắc khí tượng trên Tạp chí khí tượng thuỷ văn ra hàng tháng(12)
c Tiến hành kiểm kê quốc gia KNK
Kiểm kê KNK là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác ứng phó với BĐKH Đến nay, Việt Nam đã tiến hành kiểm kê quốc gia KNK cho các năm 1994,
1998 và năm 2000 đối với 5 lĩnh vực: Năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp; lâm nghiệp và chuyển đổi sử dụng đất (LULUCF); chất thải Theo Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho
Trang 6UNFCCC năm 2010, so với năm 1994 (năm
đầu tiên tiến hành kiểm kê quốc gia KNK
theo hướng dẫn của IPCC), tổng khối lượng
KNK phát thải của Việt Nam trong năm
2000 đã có mức tăng đáng kể, từ 103,8 triệu
tấn lên 150,9 triệu tấn CO2 tương đương/năm,
gấp gần 1,5 lần so với năm 1994.(13)
d Nghiên cứu và phát triển các nguồn
năng lượng tái tạo
Để thay thế cho các nguồn năng lượng
có nguy cơ gây hiệu ứng nhà kính, Việt Nam
đã tiến hành nghiên cứu một số nguồn năng
lượng thay thế, hạn chế sự tích tụ của các
chất gây hiệu ứng nhà kính như: Nghiên cứu
và phát triển năng lượng mặt trời, điện gió,
nghiên cứu và phát triển thuỷ điện nhỏ, phát
triển ứng dụng khí sinh học và sinh khối
e Tổ chức nghiên cứu khoa học và tư
vấn khoa học
Nhằm đáp ứng các nhu cầu về khoa học
kĩ thuật đã ghi trong các điều khoản có liên
quan của UNFCCC và KP, Việt Nam đã thực
hiện thành công nhiều nội dung hoạt động
như: Tổ chức nghiên cứu về khí tượng thuỷ
văn; nghiên cứu và từng bước hoàn thiện
phương pháp kiểm kê KNK; nghiên cứu dự
tính lượng phát thải KNK cho các thập kỉ tới
f Hợp tác quốc tế trong ứng phó với BĐKH
BĐKH là trách nhiệm chung của toàn
nhân loại, do đó việc thực hiện các chương
trình liên quan đến các giải pháp ứng phó và
thích ứng với BĐKH đòi hỏi phải có sự
chung sức của tất cả các quốc gia trên thế
giới, không quốc gia nào được đặt mình độc
lập trong việc thực hiện trách nhiệm chung
này Trong khuôn khổ chương trình ứng phó
với BĐKH, Bộ TN&MT cũng đã tiến hành
rất nhiều dự án nghiên cứu quan trọng có sự
hỗ trợ và hợp tác với nước ngoài, như: Dự án
xây dựng Thông báo quốc gia đầu tiên (1999
- 2002) và Thông báo quốc gia lần thứ hai (2008 - 2010) của Việt Nam về BĐKH cho UNFCCC; Dự án Nghiên cứu chiến lược quốc gia về cơ chế phát triển sạnh (CDM);
Dự án Tăng cường năng lực kiểm kê KNK quốc gia tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng rất chủ động tham gia các hội nghị quốc tế, các diễn đàn quốc tế quan trọng về BĐKH, như: Tham gia hội nghị các bên của UNFCCC và KP; tham gia các diễn đàn về BĐKH trong khuôn khổ
tổ chức ASEAN, APEC
Từ khi triển khai các hoạt động thực hiện UNFCCC và KP đến nay, Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, như: Hoàn thành kiểm kê KNK cho các lĩnh vực năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, LULLUCF và chất thải vào các năm 1994, 1998 và 2000; Hoàn thành 02 báo cáo quốc gia về vấn đề BĐKH gửi Ban thư
kí UNFCCC và xây dựng kịch bản BĐKH
và nước biển dâng của Việt Nam; Thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, các cuộc thi tìm hiểu, các ngày kỉ niệm liên quan đến vấn đề BĐKH; Thực hiện được một số hoạt động ứng phó với BĐKH và nư ớc biển dâng cho các địa phương, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Riêng về số lượng các dự án CDM và CERs, tính đến hết ngày 17/5/2011, Việt Nam đang xếp thứ 6 trên thế giới về số lượng CERs và xếp thứ 7 trên thế giới về số lượng dự án CDM được
EB đăng kí Trong đó, tổng số lượng CERs được cấp là 6.646.339 chứng chỉ và 56 dự
án được Ban chấp hành quốc tế về CDM (EB) cho đăng kí là dự án CDM với tổng
Trang 7tiềm năng giảm phát thải khoảng 25,2 triệu
tấn CO2 tương đương trong thời kì tín dụng
Mặc dù đạt được những thành tích nhất
định, tuy nhiên quá trình triển khai, thực
hiện các nghĩa vụ cam kết theo UNFCCC và
KP của Việt Nam cũng còn một số khó khăn
nhất định như:
Thứ nhất, sự phối hợp về chuyên môn và
trao đổi thông tin giữa các cơ quan liên quan,
giữa các chuyên gia chưa thật chặt chẽ,
thường xuyên; đầu mối thực hiện Công ước
còn kiêm nhiệm; sự tham gia của các thành
phần xã hội vào công tác chống BĐKH còn
hạn chế, thiếu những hướng dẫn đồng bộ, cụ
thể từ trung ương xuống địa phương
Thứ hai, số lượng các dự án CDM được
phê duyệt của Việt Nam trong thời gian qua
chưa cao và hầu hết là các dự án thủy điện, dự
án về thu hồi khí metan tại bãi rác, trồng rừng
sinh khối Trong khi đó, các dự án thuộc các
nhóm tiêu thụ năng lượng, đòi hỏi công nghệ
cao và thân thiện môi trường còn rất hạn chế
Thứ ba, việc đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu ứng phó với BĐKH
còn gặp nhiều khó khăn như: chưa có nhiều
chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xây
dựng kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH;
nguồn tài chính dành cho việc phát triển năng
lực xây dựng dự án còn eo hẹp, hầu hết chỉ
dựa vào các dự án tài trợ từ nước ngoài
Thứ tư, chưa hình thành quy trình thống
nhất trong việc giám sát, đánh giá và báo cáo
về BĐKH; công tác kiểm kê KNK chưa được
thực hiện định kì
Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ
biến kiến thức về BĐKH còn nhiều hạn chế;
hình thức truyền thông vẫn chưa phong phú,
nội dung còn nghèo nàn và chưa phổ cập đến
mọi tầng lớp nhân dân
Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, trong khuôn khổ bài viết, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả hoạt động thực thi UNFCCC và KP của Việt Nam như sau:
* Ở phương diện quốc tế
Do đây là nhiệm vụ mang tính toàn cầu nhưng có sự phân biệt giữa các quốc gia, chính vì vậy, để thực hiện tốt nghĩa vụ cũng như các cam kết của mình, chúng ta nên xem xét tập trung vào một số giải pháp như: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương và đa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động thích ứng và ứng phó với BĐKH; tích cực tham gia vào tiến trình xây dựng thoả thuận toàn cầu mới về BĐKH thay thế cho KP sau năm 2012; nghiêm chỉnh thực thi các nghĩa vụ pháp lí trong UNFCCC, KP; tranh thủ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế
để tiến hành các biện pháp giảm phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính, tăng cường ứng dụng công nghệ sạch
* Ở phương diện quốc gia
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật quốc gia về ứng phó với BĐKH theo các
hướng như: Tiến hành rà soát toàn bộ hệ
thống các văn bản pháp luật quy định về vấn
đề chống BĐKH nhằm có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; tiếp tục lồng ghép vấn đề BĐKH trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng, địa phương; Nghiên cứu việc xây dựng, ban hành Luật BĐKH và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật; Tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong công tác tổ chức chỉ đạo, phối hợp liên ngành về ứng phó với BĐKH; Tiếp tục xây dựng và hoàn
Trang 8thiện các chương trình, kế hoạch hành động
thực hiện các điều ước quốc tế về BĐKH
trong thời gian tới
- Giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu
phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ ứng
phó với BĐKH: Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt
Nam (tháng 1/2011) đã xác định một trong
những nhiệm chủ yếu của Đảng và Nhà nước
ta trong giai đoạn 2011-2015 là “bảo vệ môi
trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng
phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu”.(14 )
Ứng phó với BĐKH là công việc khó khăn,
đòi hỏi sự tiêu hao lớn về tiền của và thời
gian Có thể nói rằng giải quyết tốt mối quan
hệ giữa chi phí đầu tư cho phát triển đất
nước và chi phí đầu tư ứng phó với BĐKH là
bài toán khó, đặc biệt đối với các quốc gia
đang phát triển - những nước còn đang nhận
các nguồn viện trợ phát triển khác nhau từ
cộng đồng quốc tế như Việt Nam.(15) Thực tế
này cũng giải thích tại sao các hoạt động ứng
phó với BĐKH của Việt Nam trong thời gian
qua còn dè dặt và cầm chừng Thiết nghĩ,
trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền nên tiếp tục xây dựng những kế
hoạch, lộ trình thực hiện công tác ứng phó
và thích ứng với BĐKH cụ thể hơn, cân đối
giữa các nguồn chi cho cả nhu cầu phát triển
và nhiệm vụ ứng phó với BĐKH, để các hoạt
động này của Việt Nam ngày càng đi vào
thực chất và thiết thực hơn
- Chủ động ứng phó với thiên tai, giảm
nhẹ thiệt hại do BĐKH gây ra: Xây dựng và
vận hành hiệu quả hệ thống giám sát BĐKH
và nước biển dâng; hiện đại hóa hệ thống
quan trắc và công nghệ dự báo khí tượng
thủy văn bảo đảm cảnh báo, dự báo sớm các
hiện tượng khí hậu cực đoan; nâng cao chất lượng rừng, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo đảm khai thác hiệu quả các loại rừng để duy trì và nâng cao khả năng phòng chống thiên tai, chống sa mạc hóa, suy thoái đất… Đảm bảo an ninh lương thực,
an ninh tài nguyên nước, an ninh năng lượng… trong điều kiện BĐKH
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân
lực: Việc đào tạo và hình thành nguồn cán
bộ chất lượng cao, am hiểu sâu sắc về BĐKH là nhu cầu cấp bách Bởi lẽ, nguồn cán bộ này không chỉ góp phần tham gia trực tiếp vào quá trình chuẩn bị, đàm phán các điều ước quốc tế về BĐKH mà còn là nguồn
cố vấn quan trọng cho quá trình xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật về
BĐKH của quốc gia
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc
ứng phó với BĐKH: Tăng cường hợp tác với
các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong quá trình thực hiện UNFCCC, KP và các điều ước quốc tế khác có liên quan; tích cực, chủ động trong xây dựng các thoả thuận, hiệp định đa phương và song phương về BĐKH; Tăng cường thông tin đối ngoại về BĐKH, chú trọng các hoạt động hợp tác trong giám sát, chia sẻ thông tin trong các vấn đề xuyên biên giới nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích giữa
các quốc gia
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về BĐKH và hoạt động thích ứng và ứng phó
với BĐKH cho mọi tầng lớp nhân dân: Ở nước
ta, nhận thức về BĐKH của toàn xã hội, ở mọi cấp độ, từ các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ ở các ngành và địa phương, các tổ chức xã hội cũng như bản thân mỗi người dân còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản
Trang 9lí của nhà nước và nhu cầu của xã hội Để đạt
được hiệu quả cao, công tác tuyên truyền nên
được triển khai theo một số hướng sau: Xây
dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp
cận và sử dụng thông tin về BĐKH cho các
thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức
tuyên truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ
và cơ hội từ BĐKH; đưa kiến thức về BĐKH
vào trong các chương trình học và các bậc
giáo dục; tăng cường ý thức, trách nhiệm cá
nhân và trách nhiệm hỗ trợ cộng đồng trong
phòng, tránh rủi ro thiên tai
Được xác định là một trong 5 quốc gia sẽ
chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH,
Việt Nam luôn coi ứng phó với BĐKH là
“cuộc chiến” có ý nghĩa sống còn và mang
tầm chiến lược Trong những năm qua, Việt
Nam đã rất tích cực trong việc thực thi các
cam kết quốc tế về BĐKH ở cả phương diện
pháp luật và hoạt động thực tiễn Tuy nhiên,
để tăng cường và đạt hiệu quả cao trong ứng
phó và giảm thiểu các tác động của BĐKH
trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực
hơn nữa trong việc xây dựng các chính sách,
pháp luật chung, tăng cường hợp tác quốc tế
và tiến đến mục tiêu xã hội hóa vấn đề
BĐKH, loại bỏ dần các tác động nguy hiểm
của BĐKH đối với sự phát triển bền vững
của Việt Nam./
(1) Phụ lục I của UNFCCC bao gồm các quốc gia
phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Đây
là những nước phải tiến hành cắt giảm kh í thải theo
quy định của UNFCCC và KP
(2).Xem thêm Điều 4 và Điều 12 của KP
(3).Xe m thê m Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định
thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc
về BĐKH giai đoạn 2007 – 2010
(4) Là tổ chức được các nước tha m gia UNFCC C
thành lập và ủy quyền giám sát các dự án CDM
(5).Xem thêm: Điều 3 Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (6).Xe m thê m Điều 5 Quyết định 130/2007/ QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (7).Xem thêm: Điều 6 Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (8).Xe m chi t iết mức thu lệ phí bán CERs tính theo tỉ
lệ % đối với từng lĩnh vực thuộc dự án CDM trong phần II Thông tư liên t ịch số 58/2008/TTLT -BTC-BTN&MT ngày 04/7/2008 h ướng dẫn th ực h iện một
số điều của Quyết đ ịnh của Thủ tướng Ch ính phủ
số 130/ 2007/ QĐ-TTg ngà y 02/ 8/ 2007 về một số
cơ chế, ch ính sách tài ch ính đố i v ới dự án đ ầu tư theo cơ chế phát triển sạch
(9).Xe m thê m: Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC năm 2010
(10) Về lộ trình, các giải pháp của chương trình, xe m thêm Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (11).Xem thêm: Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ( 12 ).Xe m GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ, GS.TS
Nguyễn Trọng Hiệu, Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2004.
(13) Trong các nguồn phát thải, phát thải từ các quá trình công nghiệp tăng mạnh nhất, từ 3,8 triệu tấn lên
10 triệu tấn CO 2 tương đương, gấp gần 3 lần so với năm 1994; phát thải từ lĩnh vực năng lượng tăng gấp
2 lần từ 25,6 triệu tấn lên 52,8 triệu tấn CO2 tương đương; riêng phát thải KNK trong lĩnh vực LULUCF lại có xu hướng giả m từ 19,4 t riệu tấn xuống còn 15,1 triệu tấn CO 2 tương đương
(14) Trích Ngh ị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 1/2011) (15) Theo nhận định của một số nhà khoa học, trong giai đoạn 2010 – 2050 Việt Nam phải đầu tư 850 triệu USD mỗ i nă m để thích ứng với BĐKH Trong đó, chi phí hàng năm cho 4 lĩnh vực đầu tư nhằm th ích ứng với BĐKH ở Việt Na m gồ m: Lĩnh vực nông nghiệp:
160 triệu USD; cơ sở hạ tầng chống ngập úng: 540 triệu USD; lĩnh vực nuôi trồng thủy sản: 130 triệu USD và cho các cảng biển là 12 triệu USD Đây quả thực là con số rất lớn đối với Việt Na m, là bài toán khó đối với “hầu bao” của Việt Nam