1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Thực thi một số cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu " potx

9 521 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 281,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của UNFCCC và KP, Việt Nam được xác định là một trong các bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC.1 Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đã cam kết thực

Trang 1

NguyÔn ThÞ Hång YÕn *

iến đổi khí hậu là cuộc khủng hoảng

nghiêm trọng nhất mà nền văn minh

nhân loại từng phải đối mặt từ trước đến nay,

là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh

tế-xã hội và phồn thịnh của hầu hết các quốc

gia trên thế giới trong thế kỉ XXI N hận thức

được điều này, cộng đồng quốc tế đã có

những hành động thiết thực nhằm tạo ra

khuôn khổ pháp lí chung điều chỉnh vấn đề

hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu (viết tắt

là BĐKH) trên phạm vi toàn thế giới, trong

đó Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone

năm 1985, Nghị định thư Montreal về các chất

làm suy giảm tầng Ozone năm 1987, Công

ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm

1992 và Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí

thải nhà kính năm 1997… được xem là những

thành tựu lớn của cộng đồng quốc tế

Việc tham gia thực hiện các cam kết

quốc tế về môi trường nói chung và BĐKH

nói riêng là rất cần thiết trong bối cảnh hội

nhập kinh tế-quốc tế của Việt Nam Một mặt,

thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt

Nam trong việc tham gia giải quyết các vấn

đề chung, mang tính quốc tế Mặt khác, mở

rộng cơ hội để Việt Nam nhận được sự hỗ

trợ quốc tế về kĩ thuật và tài chính, góp phần

bảo vệ và cải thiện môi trường trong nước,

phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững

quốc gia Trong phạm vi bài viết này, tác giả

tập trung vào quá trình thực thi các cam kết

của Việt Nam trong Công ước khung của

Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (viết tắt là UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải nhà kính (viết tắt là KP) ở cả hai khía cạnh lập pháp và thực tiễn triển khai

1 Xây dựng các chính sách, pháp luật của Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu - nỗ lực giải quyết vấn đề chung và thực hiện nghĩa vụ thành viên

Chính phủ Việt Nam kí UNFCCC ngày 11/6/1992 và phê chuẩn ngày 16/11/1994, kí

KP ngày 03/12/1998 và phê chuẩn ngày 25/9/2002 Là một bên tham gia UNFCCC và

KP, trong những năm qua, Việt Nam đã xây dựng và ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần thực hiện mục tiêu

cuối cùng của UNFCCC là: “Ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức

có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”

Theo quy định của UNFCCC và KP, Việt Nam được xác định là một trong các bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC.(1) Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đã cam kết thực hiện một số nghĩa vụ trong UNFCCC như: quan trắc khí tượng và phát triển hệ thống lưu trữ khí tượng; kiểm kê quốc gia khí nhà kính (viết tắt là KNK) trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; xem xét tới vấn đề BĐKH trong các chính sách, hành động về môi

B

* Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

trường, kinh tế-xã hội v.v Đối với KP, cam

kết của Việt Nam bao gồm: thực hiện Điều 4

của KP và tự nguyện tham gia CDM theo

đúng quy định tại Điều 12 của KP.(2)

Để thực thi các cam kết của Việt Nam

trong UNFCCC và KP, năm 2006, Chính

phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc

gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu

quả với mục tiêu tiết kiệm từ 3% - 5% tổng

mức tiêu thụ năng lượng trong toàn quốc giai

đoạn 2006 - 2010 và từ 5% - 8% tổng mức tiêu

thụ năng lượng trong giai đoạn 2011 - 2015

Tiếp đó, ngày 16/4/2007 Thủ tướng Chính

phủ ra Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg phê

duyệt Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định

thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên

hợp quốc về BĐKH giai đoạn 2007 - 2010

với mục tiêu huy động mọi nguồn lực nhằm

góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh

tế-xã hội giai đoạn 2007 - 2010 theo hướng

phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ môi

trường và đóng góp vào việc tổ chức thực

hiện UNFCCC, KP và (CDM).(3) Theo đó:

a Về cơ chế phát triển sạch – CDM

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết

định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007

quy định về một số cơ chế, chính sách tài

chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát

triển sạch, trong đó ghi nhận: Dự án CDM là

dự án đầu tư sản xuất theo công nghệ mới,

tiên tiến thân thiện với môi trường, có kết

quả giảm phát thải KNK được Ban chấp

hành quốc tế về CDM(4) chấp thuận đăng kí

và cấp chứng chỉ giảm phát thải

- Các lĩnh vực xây dựng, đầu tư thực

hiện dự án CDM: Là toàn bộ các lĩnh vực

kinh tế có mang lại kết quả giảm phát thải

KNK, bao gồm các lĩnh vực sau: nâng cao

hiệu quả sử dụng, bảo tồn và tiết kiệm năng lượng; khai thác, ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo; chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hoá thạch nhằm giảm phát thải KNK (5)

- Hình thức xây dựng, đầu tư thực hiện

CDM: Bao gồm 3 hình thức chủ yếu là đầu

tư trong nước, đầu tư nước ngoài và hình thức liên doanh

- Điều kiện đối với dự án CDM: Để được

công nhận là dự án CDM, dự án đó phải thoả

mãn một số điều kiện như: Là dự án được xây

dựng theo quy định của pháp luật hiện hành

về đầu tư, phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển của bộ, ngành, địa phương và góp phần bảo đảm phát triển bền vững của Việt Nam; Nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự

án trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; Bảo đảm tính khả thi với công nghệ tiên tiến và nguồn tài chính phù hợp (6)

- Về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu

tư dự án CDM tại Việt Nam: Để khuyến khích

và quản lí các hoạt động đầu tư dự án CDM

từ các cá nhân, doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, Quyết định số 130/2002/QĐ-TTg cũng ghi nhận rất cụ thể các quyền lợi mà nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM tại Việt Nam được hưởng như: Các ưu đãi về thuế; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được xem xét trợ giá đối với sản phẩm của dự án CDM thuộc lĩnh vực ưu tiên Bên cạnh đó, các nhà đầu tư dự án CDM tại Việt Nam cũng phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật như: Đăng kí với cơ quan thuế khi dự án

đi vào hoạt động để được hưởng các ưu đãi

về thuế; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định đối với dự án CDM, nộp lệ phí bán CERs (7)

Trang 3

- Về hoạt động mua bán, chuyển nhượng

chứng chỉ giảm phát thải KNK (CERs):

CERS là các giảm phát thải được chứng nhận

do Ban chấp hành quốc tế về CDM cấp cho

dự án CDM 1 CERs được xác định bằng

một tấn khí CO2 tương đương Sau khi nhận

CERs, nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự

án CDM có thể chào bán ngay cho các đối

tác có nhu cầu hoặc lựa chọn thời điểm thích

hợp trong thời gian CERs có hiệu lực; Số

lượng và giá bán CER được xác định căn cứ

vào hợp đồng mua bán CERs

- Lệ phí bán CERs: Lệ phí bán CERS

được tính bằng tỉ lệ % trên số tiền bán CERS

mà nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án

CDM thu được Hiện nay, theo quy định tại

Thông tư số 204/2010/TTLT-BTC-BTN&MT,

lệ phí bán CERs phải nộp được xác định

theo công thức sau:

Số tiền lệ

phí bán

CERs

phải nộp

(đồng)

=

Mức thu

lệ phí bán CERs (%)

x

Số lượng CER bán hoặc chuyển

về nước

x

Giá bán CER (đồng/

CER)

Trong đó, mức thu lệ phí bán CERs được

tính theo tỉ lệ phần trăm (%) trên tổng số tiền

bán CERs theo hợp đồng đã kí kết hoặc giá

trị của CERs mà nhà đầu tư nước ngoài

chuyển về nước, áp dụng đối với từng dự án

CDM.(8) Riêng trường hợp chủ sở hữu CERs

không bán mà chuyển CERs về nước thì số

lượng CERs để tính lệ phí là số lượng CERs

thực tế được chủ sở hữu CERs chuyển về

nước, giá CERs để xác định số tiền lệ phí

phải nộp được căn cứ vào giá thị trường tại

thời điểm chuyển CERs về nước

b Về các phương án giảm nhẹ phát thải KNK và chính sách ứng phó với BĐKH

Theo kiểm kê KNK của Bộ tài nguyên

và Môi trường năm 2000, tổng lượng phát thải của Việt Nam vào khoảng trên 150 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó 3 nguồn phát thải chủ yếu là nông nghiệp (43,1%), năng lượng (bao gồm cả giao thông vận tải: 35%), lâm nghiệp và chuyển đổi sử dụng đất - LULUCF (10%) Dựa trên kết quả kiểm kê này, các bộ, ngành đã phối hợp xây dựng một số phương án giảm nhẹ phát thải KNK cho 3 lĩnh vực trên( 9 )

với tổng tiềm năng giảm nhẹ phát thải KNK là 3.270,7 triệu tấn

CO2 tương đương Có thể nói đây là mức giảm tương đối lớn và cần thiết để tránh sự tích tụ nhiều hơn các chất gây hiệu ứng nhà kính đối với Việt Nam

Ngoài ra, để ứng phó với BĐKH, Thủ

tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng

phó với BĐKH trong đó nêu rõ quan điểm

của Nhà nước ta là ứng phó với BĐKH phải được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng, bình đẳng về giới, xoá đói, giảm nghèo; các hoạt động ứng phó với BĐKH được tiến hành có trọng tâm; ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức (10)

c Về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và chống BĐKH nói riêng

Hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung nếu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lí theo các quy định tại

Trang 4

Chương XVII Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa

đổi, bổ sung năm 2009) Đối với những vi

phạm hành chính, việc xử lí sẽ được thực hiện

theo quy định tại Nghị định số

117/2009/NĐ-CP quy định về xử lí vi phạm hành chính

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó,

đối với mỗi hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân

vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử

phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền (mức

phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm

hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

là 500.000.000 đồng) Ngoài ra, tuỳ theo tính

chất và mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi

phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi

trường có thể bị áp dụng một hoặc một số

hình thức xử phạt bổ sung.(11)

d Về hoạt động hợp tác quốc tế trong

ứng phó với BĐKH

Nguyên tắc hợp tác quốc tế được ghi

nhận tại Chương VII Luật bảo vệ môi trường

Việt Nam năm 2005 Theo đó, Nhà nước

Việt Nam đẩy mạnh hợp tác với các nước

láng giềng và khu vực để giải quyết các vấn

đề quản lí, khai thác tài nguyên thiên nhiên

và bảo vệ môi trường có liên quan; Nhà

nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá

nhân hợp tác với tổ chức, cá nhân nước

ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công

tác bảo vệ môi trường trong nước; nâng cao

vị trí, vai trò của Việt Nam về bảo vệ môi

trường trong khu vực và quốc tế

Với những nỗ lực trong quá trình xây

dựng các chính sách, pháp luật về ứng phó

BĐKH, Việt Nam đã đạt được những thành

tựu rất đáng khích lệ, như:

- Về số lượng các văn bản pháp luật: Kể

từ khi trở thành thành viên của các điều ước

quốc tế trên, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn trong việc xây dựng hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm thực thi các cam kết quốc gia Riêng về vấn đề BĐKH, Việt Nam đã ban hành hàng trăm các văn bản khác nhau bao gồm cả nghị định, thông tư, quyết định, các chiến lược, chính sách điều chỉnh vấn đề này

- Về nội dung: Trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế (đặc biệt là nguyên tắc Pacta sunt servanda), trong các văn bản pháp luật quan trọng về bảo vệ môi trường nói chung và BĐKH nói riêng của Việt Nam đều có các điều khoản

quy định “Việt Nam tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia”; đồng thời xác định rõ hiệu

lực của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong trường hợp có quy định khác nhau giữa các văn bản quốc nội với các

điều ước quốc tế

- Về tính khả thi: Các chính sách, chiến lược về BĐKH được xây dựng tương đối phù hợp và có tính đến điều kiện của các vùng miền khác nhau và đều kèm theo các giải pháp tương đối cụ thể Các chính sách này cũng đã thu hút được sự quan tâm và tham gia của đông đảo các thành phần khác nhau trong xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước

Mặc dù vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam về ứng phó với BĐKH vẫn còn một số hạn chế nhất định như:

Thứ nhất, các quy định liên quan đến việc

ứng phó với BĐKH còn tản mạn và thiếu đồng bộ khi được ghi nhận rải rác trong rất nhiều văn bản với hiệu lực pháp lí khác nhau (chủ yếu là các văn bản dưới luật)…;

Trang 5

Thứ hai, chưa có các quy định về cơ chế

phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương

đối với hoạt động thích ứng, ứng phó với

BĐKH Đồng thời cũng chưa ghi nhận các

biện pháp thiết thực để thúc đẩy sự tham gia

và phối hợp của các thành phần xã hội khác

nhau trong công tác ứng phó với BĐKH;

Thứ ba, các chính sách, pháp luật được

ban hành chưa thực sự trở thành công cụ đắc

lực để có thể điều chỉnh các hoạt động ứng

phó BĐKH Các chế tài xử lí vi phạm pháp

luật còn chưa phù hợp, chủ yếu là các biện

pháp mang tính chất hành chính, thiếu tính

răn đe, chưa ngăn ngừa được những hành vi

vi phạm về lĩnh vực bảo vệ môi trường nói

chung và BĐKH nói riêng;

Thứ tư, quá trình lồng ghép các vấn đề

về BĐKH vào chính sách, chương trình và

kế hoạch phát triển các ngành kinh tế quốc

dân vẫn còn hạn chế

2 Thực tiễn triển khai các quy định

của UNFCCC và KP

Để tổ chức thực hiện các nghĩa vụ đã

cam kết trong UNFCCC và KP, ngày

17/10/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Chỉ thị số 35/2005/CT-TTG giao trách

nhiệm cho các bộ, ngành trong việc triển

khai thực hiện UNFCCC và KP tại Việt Nam

Với vai trò là cơ quan được Chính phủ giao

chủ trì thực hiện UNFCCC và KP, sau khi

xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về

ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, Bộ

tài nguyên và môi trường (viết tắt là Bộ

TN&MT) đã thành lập Văn phòng BĐKH để

điều phối các hoạt động của UNFCCC và

KP Cơ quan đầu mối UNFCCC và KP là Vụ

hợp tác quốc tế (thuộc Bộ TN&MT)

a Về xây dựng hệ thống quan trắc và theo dõi BĐKH

Việt Nam đã chủ động trong việc xây dựng hệ thống các trạm quan trắc và theo dõi BĐKH ở cả 3 cấp trung ương, khu vực và địa phương Theo báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC năm 2010, đến

nay Việt Nam đã xây dựng được 174 trạm khí

tượng bề mặt, 248 trạm thủy văn, 17 trạm khí tượng hải văn và 393 điểm đo mưa độc lập Các trạm khí tượng chuyên dụng của Việt Nam gồm 10 trạm khí tượng cao không, 6 trạm rađa thời tiết, 29 trạm khí tượng nông nghiệp, 21 trạm khí tượng thuỷ văn biển và

396 trạm đo mưa Hệ thống thông tin liên lạc khí tượng thủy văn hiện nay của Việt Nam bao gồm: mạng viễn thông toàn cầu GTS, mạng Internet và mạng thông tin nội địa

b Tổ chức giám sát, nghiên cứu BĐKH

Các hoạt động giám sát và nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành với nhiều hoạt động khác nhau như: Chỉnh lí sơ

bộ đặc trưng các số liệu quan trắc khí tượng của từng trạm, về từng yếu tố quan trắc theo các quy trình bắt buộc và lập thành các sổ khí tượng (SKT), bảng khí tượng (BKT); công bố các số liệu quan trắc khí tượng trên Tạp chí khí tượng thuỷ văn ra hàng tháng(12)

c Tiến hành kiểm kê quốc gia KNK

Kiểm kê KNK là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác ứng phó với BĐKH Đến nay, Việt Nam đã tiến hành kiểm kê quốc gia KNK cho các năm 1994,

1998 và năm 2000 đối với 5 lĩnh vực: Năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp; lâm nghiệp và chuyển đổi sử dụng đất (LULUCF); chất thải Theo Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho

Trang 6

UNFCCC năm 2010, so với năm 1994 (năm

đầu tiên tiến hành kiểm kê quốc gia KNK

theo hướng dẫn của IPCC), tổng khối lượng

KNK phát thải của Việt Nam trong năm

2000 đã có mức tăng đáng kể, từ 103,8 triệu

tấn lên 150,9 triệu tấn CO2 tương đương/năm,

gấp gần 1,5 lần so với năm 1994.(13)

d Nghiên cứu và phát triển các nguồn

năng lượng tái tạo

Để thay thế cho các nguồn năng lượng

có nguy cơ gây hiệu ứng nhà kính, Việt Nam

đã tiến hành nghiên cứu một số nguồn năng

lượng thay thế, hạn chế sự tích tụ của các

chất gây hiệu ứng nhà kính như: Nghiên cứu

và phát triển năng lượng mặt trời, điện gió,

nghiên cứu và phát triển thuỷ điện nhỏ, phát

triển ứng dụng khí sinh học và sinh khối

e Tổ chức nghiên cứu khoa học và tư

vấn khoa học

Nhằm đáp ứng các nhu cầu về khoa học

kĩ thuật đã ghi trong các điều khoản có liên

quan của UNFCCC và KP, Việt Nam đã thực

hiện thành công nhiều nội dung hoạt động

như: Tổ chức nghiên cứu về khí tượng thuỷ

văn; nghiên cứu và từng bước hoàn thiện

phương pháp kiểm kê KNK; nghiên cứu dự

tính lượng phát thải KNK cho các thập kỉ tới

f Hợp tác quốc tế trong ứng phó với BĐKH

BĐKH là trách nhiệm chung của toàn

nhân loại, do đó việc thực hiện các chương

trình liên quan đến các giải pháp ứng phó và

thích ứng với BĐKH đòi hỏi phải có sự

chung sức của tất cả các quốc gia trên thế

giới, không quốc gia nào được đặt mình độc

lập trong việc thực hiện trách nhiệm chung

này Trong khuôn khổ chương trình ứng phó

với BĐKH, Bộ TN&MT cũng đã tiến hành

rất nhiều dự án nghiên cứu quan trọng có sự

hỗ trợ và hợp tác với nước ngoài, như: Dự án

xây dựng Thông báo quốc gia đầu tiên (1999

- 2002) và Thông báo quốc gia lần thứ hai (2008 - 2010) của Việt Nam về BĐKH cho UNFCCC; Dự án Nghiên cứu chiến lược quốc gia về cơ chế phát triển sạnh (CDM);

Dự án Tăng cường năng lực kiểm kê KNK quốc gia tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng rất chủ động tham gia các hội nghị quốc tế, các diễn đàn quốc tế quan trọng về BĐKH, như: Tham gia hội nghị các bên của UNFCCC và KP; tham gia các diễn đàn về BĐKH trong khuôn khổ

tổ chức ASEAN, APEC

Từ khi triển khai các hoạt động thực hiện UNFCCC và KP đến nay, Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, như: Hoàn thành kiểm kê KNK cho các lĩnh vực năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, LULLUCF và chất thải vào các năm 1994, 1998 và 2000; Hoàn thành 02 báo cáo quốc gia về vấn đề BĐKH gửi Ban thư

kí UNFCCC và xây dựng kịch bản BĐKH

và nước biển dâng của Việt Nam; Thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, các cuộc thi tìm hiểu, các ngày kỉ niệm liên quan đến vấn đề BĐKH; Thực hiện được một số hoạt động ứng phó với BĐKH và nư ớc biển dâng cho các địa phương, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Riêng về số lượng các dự án CDM và CERs, tính đến hết ngày 17/5/2011, Việt Nam đang xếp thứ 6 trên thế giới về số lượng CERs và xếp thứ 7 trên thế giới về số lượng dự án CDM được

EB đăng kí Trong đó, tổng số lượng CERs được cấp là 6.646.339 chứng chỉ và 56 dự

án được Ban chấp hành quốc tế về CDM (EB) cho đăng kí là dự án CDM với tổng

Trang 7

tiềm năng giảm phát thải khoảng 25,2 triệu

tấn CO2 tương đương trong thời kì tín dụng

Mặc dù đạt được những thành tích nhất

định, tuy nhiên quá trình triển khai, thực

hiện các nghĩa vụ cam kết theo UNFCCC và

KP của Việt Nam cũng còn một số khó khăn

nhất định như:

Thứ nhất, sự phối hợp về chuyên môn và

trao đổi thông tin giữa các cơ quan liên quan,

giữa các chuyên gia chưa thật chặt chẽ,

thường xuyên; đầu mối thực hiện Công ước

còn kiêm nhiệm; sự tham gia của các thành

phần xã hội vào công tác chống BĐKH còn

hạn chế, thiếu những hướng dẫn đồng bộ, cụ

thể từ trung ương xuống địa phương

Thứ hai, số lượng các dự án CDM được

phê duyệt của Việt Nam trong thời gian qua

chưa cao và hầu hết là các dự án thủy điện, dự

án về thu hồi khí metan tại bãi rác, trồng rừng

sinh khối Trong khi đó, các dự án thuộc các

nhóm tiêu thụ năng lượng, đòi hỏi công nghệ

cao và thân thiện môi trường còn rất hạn chế

Thứ ba, việc đào tạo nguồn nhân lực chất

lượng cao đáp ứng nhu cầu ứng phó với BĐKH

còn gặp nhiều khó khăn như: chưa có nhiều

chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xây

dựng kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH;

nguồn tài chính dành cho việc phát triển năng

lực xây dựng dự án còn eo hẹp, hầu hết chỉ

dựa vào các dự án tài trợ từ nước ngoài

Thứ tư, chưa hình thành quy trình thống

nhất trong việc giám sát, đánh giá và báo cáo

về BĐKH; công tác kiểm kê KNK chưa được

thực hiện định kì

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ

biến kiến thức về BĐKH còn nhiều hạn chế;

hình thức truyền thông vẫn chưa phong phú,

nội dung còn nghèo nàn và chưa phổ cập đến

mọi tầng lớp nhân dân

Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, trong khuôn khổ bài viết, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả hoạt động thực thi UNFCCC và KP của Việt Nam như sau:

* Ở phương diện quốc tế

Do đây là nhiệm vụ mang tính toàn cầu nhưng có sự phân biệt giữa các quốc gia, chính vì vậy, để thực hiện tốt nghĩa vụ cũng như các cam kết của mình, chúng ta nên xem xét tập trung vào một số giải pháp như: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương và đa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động thích ứng và ứng phó với BĐKH; tích cực tham gia vào tiến trình xây dựng thoả thuận toàn cầu mới về BĐKH thay thế cho KP sau năm 2012; nghiêm chỉnh thực thi các nghĩa vụ pháp lí trong UNFCCC, KP; tranh thủ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế

để tiến hành các biện pháp giảm phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính, tăng cường ứng dụng công nghệ sạch

* Ở phương diện quốc gia

- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật quốc gia về ứng phó với BĐKH theo các

hướng như: Tiến hành rà soát toàn bộ hệ

thống các văn bản pháp luật quy định về vấn

đề chống BĐKH nhằm có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; tiếp tục lồng ghép vấn đề BĐKH trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng, địa phương; Nghiên cứu việc xây dựng, ban hành Luật BĐKH và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật; Tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong công tác tổ chức chỉ đạo, phối hợp liên ngành về ứng phó với BĐKH; Tiếp tục xây dựng và hoàn

Trang 8

thiện các chương trình, kế hoạch hành động

thực hiện các điều ước quốc tế về BĐKH

trong thời gian tới

- Giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu

phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ ứng

phó với BĐKH: Nghị quyết Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt

Nam (tháng 1/2011) đã xác định một trong

những nhiệm chủ yếu của Đảng và Nhà nước

ta trong giai đoạn 2011-2015 là “bảo vệ môi

trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng

phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu”.(14 )

Ứng phó với BĐKH là công việc khó khăn,

đòi hỏi sự tiêu hao lớn về tiền của và thời

gian Có thể nói rằng giải quyết tốt mối quan

hệ giữa chi phí đầu tư cho phát triển đất

nước và chi phí đầu tư ứng phó với BĐKH là

bài toán khó, đặc biệt đối với các quốc gia

đang phát triển - những nước còn đang nhận

các nguồn viện trợ phát triển khác nhau từ

cộng đồng quốc tế như Việt Nam.(15) Thực tế

này cũng giải thích tại sao các hoạt động ứng

phó với BĐKH của Việt Nam trong thời gian

qua còn dè dặt và cầm chừng Thiết nghĩ,

trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có

thẩm quyền nên tiếp tục xây dựng những kế

hoạch, lộ trình thực hiện công tác ứng phó

và thích ứng với BĐKH cụ thể hơn, cân đối

giữa các nguồn chi cho cả nhu cầu phát triển

và nhiệm vụ ứng phó với BĐKH, để các hoạt

động này của Việt Nam ngày càng đi vào

thực chất và thiết thực hơn

- Chủ động ứng phó với thiên tai, giảm

nhẹ thiệt hại do BĐKH gây ra: Xây dựng và

vận hành hiệu quả hệ thống giám sát BĐKH

và nước biển dâng; hiện đại hóa hệ thống

quan trắc và công nghệ dự báo khí tượng

thủy văn bảo đảm cảnh báo, dự báo sớm các

hiện tượng khí hậu cực đoan; nâng cao chất lượng rừng, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo đảm khai thác hiệu quả các loại rừng để duy trì và nâng cao khả năng phòng chống thiên tai, chống sa mạc hóa, suy thoái đất… Đảm bảo an ninh lương thực,

an ninh tài nguyên nước, an ninh năng lượng… trong điều kiện BĐKH

- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân

lực: Việc đào tạo và hình thành nguồn cán

bộ chất lượng cao, am hiểu sâu sắc về BĐKH là nhu cầu cấp bách Bởi lẽ, nguồn cán bộ này không chỉ góp phần tham gia trực tiếp vào quá trình chuẩn bị, đàm phán các điều ước quốc tế về BĐKH mà còn là nguồn

cố vấn quan trọng cho quá trình xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật về

BĐKH của quốc gia

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc

ứng phó với BĐKH: Tăng cường hợp tác với

các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong quá trình thực hiện UNFCCC, KP và các điều ước quốc tế khác có liên quan; tích cực, chủ động trong xây dựng các thoả thuận, hiệp định đa phương và song phương về BĐKH; Tăng cường thông tin đối ngoại về BĐKH, chú trọng các hoạt động hợp tác trong giám sát, chia sẻ thông tin trong các vấn đề xuyên biên giới nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích giữa

các quốc gia

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về BĐKH và hoạt động thích ứng và ứng phó

với BĐKH cho mọi tầng lớp nhân dân: Ở nước

ta, nhận thức về BĐKH của toàn xã hội, ở mọi cấp độ, từ các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ ở các ngành và địa phương, các tổ chức xã hội cũng như bản thân mỗi người dân còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản

Trang 9

lí của nhà nước và nhu cầu của xã hội Để đạt

được hiệu quả cao, công tác tuyên truyền nên

được triển khai theo một số hướng sau: Xây

dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp

cận và sử dụng thông tin về BĐKH cho các

thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức

tuyên truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ

và cơ hội từ BĐKH; đưa kiến thức về BĐKH

vào trong các chương trình học và các bậc

giáo dục; tăng cường ý thức, trách nhiệm cá

nhân và trách nhiệm hỗ trợ cộng đồng trong

phòng, tránh rủi ro thiên tai

Được xác định là một trong 5 quốc gia sẽ

chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH,

Việt Nam luôn coi ứng phó với BĐKH là

“cuộc chiến” có ý nghĩa sống còn và mang

tầm chiến lược Trong những năm qua, Việt

Nam đã rất tích cực trong việc thực thi các

cam kết quốc tế về BĐKH ở cả phương diện

pháp luật và hoạt động thực tiễn Tuy nhiên,

để tăng cường và đạt hiệu quả cao trong ứng

phó và giảm thiểu các tác động của BĐKH

trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực

hơn nữa trong việc xây dựng các chính sách,

pháp luật chung, tăng cường hợp tác quốc tế

và tiến đến mục tiêu xã hội hóa vấn đề

BĐKH, loại bỏ dần các tác động nguy hiểm

của BĐKH đối với sự phát triển bền vững

của Việt Nam./

(1) Phụ lục I của UNFCCC bao gồm các quốc gia

phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Đây

là những nước phải tiến hành cắt giảm kh í thải theo

quy định của UNFCCC và KP

(2).Xem thêm Điều 4 và Điều 12 của KP

(3).Xe m thê m Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định

thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc

về BĐKH giai đoạn 2007 – 2010

(4) Là tổ chức được các nước tha m gia UNFCC C

thành lập và ủy quyền giám sát các dự án CDM

(5).Xem thêm: Điều 3 Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (6).Xe m thê m Điều 5 Quyết định 130/2007/ QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (7).Xem thêm: Điều 6 Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (8).Xe m chi t iết mức thu lệ phí bán CERs tính theo tỉ

lệ % đối với từng lĩnh vực thuộc dự án CDM trong phần II Thông tư liên t ịch số 58/2008/TTLT -BTC-BTN&MT ngày 04/7/2008 h ướng dẫn th ực h iện một

số điều của Quyết đ ịnh của Thủ tướng Ch ính phủ

số 130/ 2007/ QĐ-TTg ngà y 02/ 8/ 2007 về một số

cơ chế, ch ính sách tài ch ính đố i v ới dự án đ ầu tư theo cơ chế phát triển sạch

(9).Xe m thê m: Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC năm 2010

(10) Về lộ trình, các giải pháp của chương trình, xe m thêm Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (11).Xem thêm: Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ( 12 ).Xe m GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ, GS.TS

Nguyễn Trọng Hiệu, Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2004.

(13) Trong các nguồn phát thải, phát thải từ các quá trình công nghiệp tăng mạnh nhất, từ 3,8 triệu tấn lên

10 triệu tấn CO 2 tương đương, gấp gần 3 lần so với năm 1994; phát thải từ lĩnh vực năng lượng tăng gấp

2 lần từ 25,6 triệu tấn lên 52,8 triệu tấn CO2 tương đương; riêng phát thải KNK trong lĩnh vực LULUCF lại có xu hướng giả m từ 19,4 t riệu tấn xuống còn 15,1 triệu tấn CO 2 tương đương

(14) Trích Ngh ị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 1/2011) (15) Theo nhận định của một số nhà khoa học, trong giai đoạn 2010 – 2050 Việt Nam phải đầu tư 850 triệu USD mỗ i nă m để thích ứng với BĐKH Trong đó, chi phí hàng năm cho 4 lĩnh vực đầu tư nhằm th ích ứng với BĐKH ở Việt Na m gồ m: Lĩnh vực nông nghiệp:

160 triệu USD; cơ sở hạ tầng chống ngập úng: 540 triệu USD; lĩnh vực nuôi trồng thủy sản: 130 triệu USD và cho các cảng biển là 12 triệu USD Đây quả thực là con số rất lớn đối với Việt Na m, là bài toán khó đối với “hầu bao” của Việt Nam

Ngày đăng: 06/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w