1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Gian dối trong quá trình thành lập doanh nghiệp" potx

9 249 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 247,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành viên sẽ thực hiện việc “đưa tài sản vào công ti để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ti”.1 Theo đó, việc “kê khai khống vốn đăng kí, không góp đủ và đ

Trang 1

§Ëu ThÞ Quyªn *

hành lập doanh nghiệp là vấn đề pháp lí

quan trọng hàng đầu trong hệ thống pháp

luật về doanh nghiệp-đầu tư, cũng là

hoạt động thực tế đang diễn ra hàng ngày,

hàng giờ trong đời sống xã hội hiện đại Tuy

nhiên, trên thực tế, hoạt động đăng kí thành

lập doanh nghiệp đang có những biểu hiện và

diễn biến phức tạp do hành vi gian dối của

các chủ thể đăng kí, dẫn đến những hệ quả

pháp lí nghiêm trọng, gây không ít khó khăn

cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhìn

nhận vấn đề thực tế này như thế nào? Do đâu

mà có những hành vi gian dối trong quá trình

thành lập doanh nghiệp? Lí giải ra sao khi mà

hoạt động đăng kí kinh doanh trở nên quá tải

nhưng trên thực tế số doanh nghiệp thực sự

“sống” sau “khai sinh” là không nhiều? Những

khía cạnh pháp lí nào chưa được quy định,

hay pháp luật có quy định nhưng không đi

vào thực tiễn, để các chủ thể có cơ hội thực

hiện hành vi gian dối trong quá trình thành

lập doanh nghiệp? Trong phạm vi bài viết, tác

giả chỉ đề cập các dạng hành vi gian dối trong

quá trình thành lập doanh nghiệp

1 Gian dối trong việc góp vốn thành

lập doanh nghiệp

Luật doanh nghiệp quy định rõ góp vốn

là nghĩa vụ của các thành viên khi tiến hành

hoạt động thành lập doanh nghiệp Các thành

viên sẽ thực hiện việc “đưa tài sản vào công

ti để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở

hữu chung của công ti”.(1)

Theo đó, việc “kê khai khống vốn đăng kí, không góp đủ và

đúng hạn số vốn như đã đăng kí; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế” trở thành một trong những hành vi bị

cấm theo Luật doanh nghiệp.(2)

Hiện nay pháp luật quy định hai loại vốn mà người thành lập doanh nghiệp cần phải tìm hiểu khi tiến hành hoạt động kinh doanh, thành lập doanh nghiệp đó là “vốn pháp định” và “vốn điều lệ”.(3)

Thực tiễn thi hành Luật doanh nghiệp cho thấy các chủ thể thành lập doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện được hành vi gian dối trong việc hợp pháp hoá hai loại vốn này cho đủ điều kiện để thành lập được doanh nghiệp Cụ thể:

- Đối với vốn pháp định:

Luật doanh nghiệp không quy định vốn pháp định là điều kiện để thành lập doanh nghiệp, trừ một số doanh nghiệp đặc thù được quy định trong pháp luật chuyên ngành.(4) Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo cho những điều kiện về cơ sở vật chất nhất định cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vận hành đồng thời đảm bảo khả năng chi trả cho các khoản thanh toán với khách hàng Khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực yêu cầu vốn pháp định thì doanh nghiệp phải đáp ứng đủ số vốn pháp định đó Việc xác định vốn pháp định phải được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và giấy xác nhận về mức vốn cấp cho doanh nghiệp

T

* Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

này là một trong những điều kiện phải có

trước khi doanh nghiệp được xem xét cấp

giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Người

trực tiếp xác nhận vốn pháp định cùng liên

đới chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung

thực của số vốn tại thời điểm xác nhận.(5)

Tuy nhiên, quy định về vốn pháp định

còn mang nặng tính hình thức Theo quy định

của pháp luật chuyên ngành, chẳng hạn như

Luật kinh doanh bất động sản, một trong

những điều kiện để các tổ chức, cá nhân được

kinh doanh bất động sản là “phải có vốn pháp

định và đăng kí kinh doanh bất động sản theo

quy định của pháp luật”.(6) Theo đó, Nghị

định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP quy

định số vốn pháp định cụ thể phải có khi tiến

hành kinh doanh bất động sản là 6 tỉ đồng.(7)

Số vốn này phải được cơ quan có thẩm quyền

xác nhận “Trường hợp số vốn được góp bằng

tiền thì phải có văn bản xác nhận của ngân

hàng thương mại được phép hoạt động tại

Việt Nam về số tiền kí quỹ của các thành viên

sáng lập Số tiền kí quỹ tối thiểu phải bằng số

vốn góp bằng tiền của các thành viên sáng

lập và chỉ được giải ngân sau khi doanh

nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí

kinh doanh”.(8) Trên thực tế, những nhà kinh

doanh không nghiêm chỉnh, có ý định lừa dối

vẫn có thể lách qua các quy định này một

cách dễ dàng Họ mượn tiền hoặc hùn hạp

bên ngoài để có đủ số tiền là 6 tỉ đồng mang

đi kí quỹ ở ngân hàng và xin ngân hàng xác

nhận, sau khi doanh nghiệp được cấp giấy

chứng nhận đăng kí kinh doanh thì họ rút

toàn bộ số tiền ra khỏi ngân hàng một cách

hợp pháp Như vậy, số vốn “ma” góp vào

doanh nghiệp được hợp pháp hoá khiến cho

nhiều người nhầm lẫn Nhiều khi, cán bộ

ngân hàng và các bên liên quan đã cùng thông đồng tạo ra bằng chứng hợp pháp giả để khai man vốn pháp định hoặc rút vốn sau khi đã đăng kí vốn pháp định

- Đối với vốn điều lệ:

Trong thực tiễn thi hành luật doanh nghiệp, có hai trường hợp không tiến hành góp vốn: Trường hợp thứ nhất là chỉ cho mượn danh nghĩa, không góp đồng vốn nào; trường hợp thứ hai là thành viên không thực hiện được nghĩa vụ góp vốn như đã cam kết Trường hợp phổ biến hơn là mượn danh nghĩa của người khác để hoàn tất thủ tục đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Những người mượn danh nghĩa

có thể là bạn bè thân thiết hoặc những người cùng gia đình Thành viên này được cho hoặc thuê đứng tên trên danh nghĩa với tỉ lệ

góp vốn không đáng kể Ví dụ: A muốn

thành lập công ti TNHH hai thành viên trở lên để tiến hành hoạt động kinh doanh với số vốn điều lệ là 100 triệu đồng Nhưng do chỉ

có một mình nên A đã nhờ B đứng tên trong giấy đề nghị đăng kí doanh nghiệp với tỉ lệ phần vốn góp tượng trưng của B là 1 triệu đồng chiếm 1% vốn điều lệ Hậu quả của việc làm này là đã gây ra một số mâu thuẫn, tranh chấp giữa công ti và các thành viên danh nghĩa, giữa thành viên thực tế và thành viên danh nghĩa liên quan đến vấn đề chia lợi nhuận, quản lí, chia tài sản của công ti khi công ti giải thể hoặc phá sản

Như vậy, trong trường hợp mượn danh nghĩa để góp vốn vào công ti nhằm thành lập doanh nghiệp thì những người cho mượn danh nghĩa góp vốn thực chất không góp vốn vào công ti (hoặc góp không đáng kể) nhưng lại có tư cách thành viên công ti theo quy

Trang 3

định về hình thức, đã đăng kí kinh doanh với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được sự

thừa nhận của pháp luật Doanh nghiệp về

thực tế vẫn được thành lập một cách hợp

pháp, điều này dẫn tới nhiều hệ luỵ do hành

vi gian dối để được thành lập doanh nghiệp

gây nên Chẳng hạn như việc tranh chấp đề

cập ở trên Vậy khi giải quyết tranh chấp giữa

thành viên thực tế và thành viên danh nghĩa

thì sẽ căn cứ vào thoả thuận “lách luật” của

các bên chỉ là cho mượn danh nghĩa hay căn

cứ vào hồ sơ pháp nhân của công ti là giấy

chứng nhận đăng kí kinh doanh và điều lệ

công ti? Nếu toà án căn cứ vào thoả thuận mà

các bên đã sử dụng để “lách luật” thì liệu có

dung túng cho những thoả thuận này không?(9)

Đó vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Như vậy, theo quy định của Luật doanh

nghiệp hiện nay là chỉ thừa nhận việc góp vốn

theo đăng kí tại cơ quan đăng kí kinh doanh

hoặc sổ đăng kí cổ đông Quy định này dẫn

đến hệ quả là buông lỏng hành vi khai khống

vốn của các doanh nghiệp và trong nhiều

trường hợp không bảo vệ được quyền lợi của

các thành viên, cổ đông thực tế Khắc phục

những hạn chế này, Nghị định của Chính phủ

số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật

doanh nghiệp đã thừa nhận việc góp vốn thực

tế làm giảm bớt các tranh chấp liên quan đến

quyền lợi của các thành viên thực tế và thành

viên danh nghĩa.(10)

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu luật học,(11)

Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP chỉ thừa nhận

vốn điều lệ công ti cổ phần là vốn đã thực

góp Cụ thể, theo quy định của Luật doanh

nghiệp, nghĩa vụ góp vốn của thành viên công

ti được xác định theo cam kết góp vốn Tuy

vậy, Luật doanh nghiệp không quy định giới

hạn về mặt thời gian cho việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn Nói cách khác, thời hạn để thành viên góp vốn vào công ti là không hạn chế mà thời hạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào thoả thuận góp vốn giữa các thành viên công ti Tuy vậy, theo Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP, thời hạn để thành viên hoàn thành nghĩa vụ góp vốn là 36 tháng

kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Với việc đưa ra giới hạn này, Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP đã tạo cơ sở cho việc chấm dứt tình trạng nợ vốn không thời hạn của thành viên công ti TNHH

2 Gian dối trong điều kiện về chứng chỉ hành nghề trong đăng kí kinh doanh

Luật doanh nghiệp quy định chứng chỉ hành nghề là loại giấy tờ cần có trong hồ sơ đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên Luật doanh nghiệp không đặt ra yêu cầu cụ thể về chứng chỉ hành nghề mà chỉ dẫn chiếu

để áp dụng các quy định tương ứng của pháp luật chuyên ngành.(12)

Thực ra, trên thực tế, chứng chỉ hành nghề có tính chất là điều kiện thành lập doanh nghiệp hơn là điều kiện để hoạt động kinh doanh, bởi vì ở thời điểm được cấp chứng chỉ hành nghề, chủ thể kinh doanh chưa ra đời và người được cấp văn bản này mới chỉ được Nhà nước cho phép hành nghề mà chưa thể hoạt động kinh doanh trên cơ sở chứng chỉ hành nghề đó Chứng chỉ hành nghề không có nghĩa là sự bảo đảm về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình cung cấp cho khách hàng Bởi lẽ bản chất của chứng chỉ hành nghề là

“văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 4

quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề

nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá

nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh

nghiệm nghề nghiệp về một ngành nghề nhất

định”.(13)

Bởi thế, các chủ thể muốn kinh

doanh trong những lĩnh vực đòi hỏi phải có

chứng chỉ hành nghề thì các chủ thể ấy hoàn

toàn có thể cũng theo cách thức trên là thuê

hoặc nhờ những người có trình độ chuyên

môn, có chứng chỉ hành nghề đứng ra thành

lập doanh nghiệp và cho họ làm giám đốc

nhưng thực tế khi doanh nghiệp được thành

lập thì người được thuê, được nhờ không tiến

hành hoạt động kinh doanh mà những chủ thể

thuê mướn trực tiếp đứng ra hoạt động kinh

doanh Ví dụ: “Để thành lập công ti MH có

ngành nghề kinh doanh là sản xuất, bán buôn

máy móc, trang thiết bị y tế phòng khám đa

khoa, ông Nghĩa và ông Linh đã mượn danh

nghĩa của ông Hùng là phó giáo sư, tiến sĩ,

bác sĩ chuyên môn giỏi, có chứng chỉ hành

nghề khám chữa bệnh Công ti được thành lập

với người đại diện hợp pháp là ông Nghĩa và

số vốn tượng trưng của ông Hùng là 10% số

vốn điều lệ và được bổ nhiệm làm giám đốc

phòng khám Ông Hùng đã kí vào bản cam

kết góp vốn cũng như các giấy tờ thành lập

công ti Tuy nhiên, công việc kinh doanh

không thuận lợi vì ông Hùng thường xuyên

vắng mặt ở phòng khám Ông cũng có đơn

xin rút tên ra khỏi phòng khám Trước tình

hình trên, công ti MH đã kiện ông Hùng ra

toà án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ góp vốn

theo đúng cam kết nhằm ràng buộc trách

nhiệm của ông Hùng với công ti Tại toà, ông

Hùng cho rằng việc kí nhận góp 10% vốn

điều lệ chỉ là thủ tục hành chính nhằm mở

công ti chứ không phải là cam kết góp vốn

của ông Tuy nhiên, toà án ra quyết định xác nhận ông Hùng là cổ đông của công ti và chưa thực hiện nghĩa vụ góp vốn và buộc ông Hùng phải thực hiện nghĩa vụ cổ đông”.(14) Như vậy, vì mục đích duy nhất là thành lập được công ti mà ông Nghĩa và ông Linh đã tiến hành thủ đoạn gian dối là nhờ ông Hùng với học hàm, học vị cao để đứng tên thành lập trong khi ông Hùng hoàn toàn không có ý định góp vốn thành lập công ti Với việc lôi kéo được ông Hùng tham gia đứng tên thành lập doanh nghiệp, công ti MH đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế người hành nghề không phải là ông Hùng mà là ông Nghĩa và ông Linh cho nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại cho khách hàng

Như vậy, để đáp ứng được các điều kiện thành lập doanh nghiệp mà pháp luật đặt ra, người thành lập doanh nghiệp có thể thực hiện được hành vi gian dối và gây ra những thiệt hại thực tế Việc làm này đã vô hiệu hoá mục đích của các điều kiện kinh doanh là đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội Đồng thời hành vi gian dối này còn tạo ra những hậu quả làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp Nó còn tạo ra những doanh nghiệp kém chất lượng, gian dối trong kinh doanh, không bảo đảm cho doanh nghiệp kinh doanh đạt được hiệu quả trong sự tôn trọng lợi ích cộng đồng

3 Gian dối trong việc đứng tên người đại diện theo pháp luật trên giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp và sau này là chứng nhận đăng kí doanh nghiệp

Về thủ tục đăng kí thành lập doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp và các văn bản

Trang 5

hướng dẫn thi hành quy định rõ khi thành lập

doanh nghiệp phải ghi rõ người đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp Theo đó, đối

với công ti TNHH, công ti cổ phần khi tiến

hành đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phải chỉ định người đại

diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong

các giấy tờ như điều lệ công ti, giấy chứng

nhận đăng kí doanh nghiệp phải ghi người

đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (khoản

8 Điều 22; khoản 2 Điều 25; khoản 1 Điều

28 Luật doanh nghiệp; các điều 20, 21, 27,

33 Nghị định của Chính phủ số

43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010), đồng thời quy định

trách nhiệm của người đại diện hợp pháp của

doanh nghiệp

Điều này là không hợp lí vì vào thời điểm

các sáng lập viên làm thủ tục đăng kí kinh

doanh để thành lập doanh nghiệp thì chưa có

doanh nghiệp, sau khi doanh nghiệp được cấp

giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì

doanh nghiệp mới thực sự ra đời Như vậy

phải có người đại diện hợp pháp của doanh

nghiệp vào thời điểm chưa có doanh nghiệp

là điều không thể Điều này càng thể hiện rõ

nét trong trường hợp người tiến hành đăng kí

kinh doanh không đủ điều kiện để được cấp

giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh

Quy định của pháp luật có thể dẫn đến hệ

quả nguy hiểm là: để thành lập được doanh

nghiệp và thực hiện hoạt động kinh doanh

nhằm thu lợi bất chính, các chủ thể muốn

thành lập doanh nghiệp thuê người làm giám

đốc để họ đứng tên trên các giấy tờ pháp lí và

là người đại diện theo pháp luật của doanh

nghiệp Sau khi doanh nghiệp được thành lập

và thực hiện xong mục đích bất chính thì

người thuê có thể dễ dàng trút bỏ trách nhiệm

cho người được thuê và trong trường hợp này các chủ thể được thuê không có khả năng gánh chịu các hậu quả pháp lí do hành vi bất chính của người thuê gây nên Quy định chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ngay trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp một mặt mâu thuẫn với các quy định của luật, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể có ý định thực hiện hành vi bất chính Mâu thuẫn ở chỗ, nếu doanh nghiệp chưa ra đời thì không thể có chủ thể kí hợp đồng thuê giám đốc được, hơn nữa, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp chỉ có thể do đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng thành viên bầu ra hoặc thuê, điều này là không thể khi doanh nghiệp chưa được thành lập Không những thế, quy định này còn là “lỗ hổng” của pháp luật để các chủ thể muốn thực hiện hành

vi bất chính có được tấm lá chắn thoát thân hữu hiệu khi hậu quả từ hành vi bất chính thành lập doanh nghiệp đã bị đổ vỡ

Thiết nghĩ, không nên yêu cầu các sáng lập viên khi tiến hành đăng kí kinh doanh phải ghi người đại diện diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong điều lệ và trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp tại thời điểm được cấp Sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp,

đã tổ chức họp và bầu hoặc thuê người đại diện theo pháp luật, doanh nghiêp sẽ tiến hành đăng kí người đại diện cho mình tại cơ quan đăng kí kinh doanh

4 Gian dối trong việc ghi tên các cổ đông sáng lập công ti cổ phần và thành viên sáng lập công ti TNHH trên giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp một cách hình thức

- Đối với cổ đông sáng lập:

Khái niệm cổ đông sáng lập được quy

Trang 6

định tại khoản 11 Điều 4 Luật doanh nghiệp

như sau: “Cổ đông sáng lập là cổ đông tham

gia xây dựng, thông qua và kí tên vào bản

điều lệ đầu tiên của công ti cổ phần” Theo

quy định của Luật doanh nghiệp, số lượng cổ

đông tối thiểu của công ti cổ phần phải là ba

cổ đông (Điều 77) và công ti bị giải thể khi

không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu

trong thời hạn sáu tháng liên tục (Điều 157)

Như vậy, muốn thành lập công ti cổ phần thì

điều đầu tiên là phải đáp ứng đủ số lượng

thành viên Trong trường hợp nhà đầu tư

không tìm được đủ số lượng thành viên hoặc

trường hợp nhà đầu tư không muốn chia sẻ ý

tưởng kinh doanh của riêng mình cho người

khác và chỉ muốn thành lập công ti cổ phần

để thực hiện ý tưởng đó, họ sẽ tìm cách “lách

luật” để thành lập công ti cổ phần của riêng

mình Điều này dẫn đến tình trạng là: Khi một

người thành lập công ti cổ phần mới để thực

hiện ý tưởng kinh doanh thì người này vẫn

lập hồ sơ đăng kí kinh doanh theo đúng quy

định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên,

ngoài người này, các cổ đông sáng lập khác

chỉ mang danh nghĩa Số cổ phần của những

“cổ đông danh nghĩa” này trên giấy tờ là rất ít

và không thể gây bất kì ảnh hưởng nào đến

công ti Do vậy, về mặt thủ tục, công ti được

thành lập hợp pháp và do các cổ đông cùng

góp vốn nhưng về mặt thực tế thì chỉ có một

cổ đông bỏ vốn ra và thâu tóm toàn bộ công

ti, các cổ đông còn lại chỉ là “hình thức” trên

giấy chứng nhận doanh nghiệp mà thôi Mặc

dù Luật doanh nghiệp đã có nhiều quy định

bảo vệ cổ đông thiểu số nhưng trong trường

hợp một cổ đông thực tế và nhiều “cổ đông

danh nghĩa” sẽ không thể áp dụng các chế

định của Luật để bảo vệ cho quyền lợi của cổ

đông thiểu số bởi việc họ là cổ đông chỉ là

“hình thức”

Ngoài ra, “thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến công ti cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2005 cho thấy, có nhiều công ti cổ phần được thành lập với đúng số lượng cổ đông tối thiểu hoặc nhiều hơn, nhưng khi xảy ra tranh chấp thì chỉ xác định được một cổ đông”.(15)

Nguyên nhân của vấn

đề này khá đa dạng, có thể do một cổ đông tự nghĩ ra các cổ đông khác để đưa vào danh sách cổ đông sáng lập (trường hợp này xảy ra khá nhiều, đặc biệt là khi áp dụng Luật doanh nghiệp năm 1999 - hồ sơ thành lập công ti không bao gồm chứng minh nhân dân của cổ đông sáng lập); có nhiều trường hợp một người sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thành lập công ti cổ phần… Như vậy, việc đối phó bằng “hình thức” khi ghi tên cổ đông sáng lập vào giấy đề nghị đăng kí doanh nghiệp để hợp thức hoá quy định của pháp luật là hành vi gian dối, có thể coi là “trái luật” Tuy nhiên việc xử lí các công ti được thành lập “trái luật” này chưa có cách thức thoả đáng khi có tranh chấp, bởi trong thực tiễn tư pháp chúng ta chưa quy định vấn đề công ti vô hiệu Trường hợp một người “mượn” thêm tên của những người khác để thành lập công ti cổ phần “lách luật” như trên, là giao dịch vô hiệu do giả tạo, dẫn tới công ti vô hiệu.(16)

Hành vi này còn dẫn đến hiện tượng “công ti cổ phần một cổ đông” - hiện tượng thực tế chưa được thừa nhận trong pháp luật Việt Nam

- Đối với thành viên sáng lập:

Tương tự như đối với cổ đông sáng lập,

“Thành viên sáng lập là người góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và kí tên vào bản

Trang 7

điều lệ đầu tiên của công ti trách nhiệm hữu

hạn, công ti hợp danh” (khoản 10 Điều 4

Luật doanh nghiệp) Pháp luật hiện hành đang

thừa nhận hai loại hình công ti TNHH là công

ti TNHH một thành viên và công ti TNHH

hai thành viên trở lên Do những động cơ vụ

lợi và mục đích thành lập doanh nghiệp khác

nhau cũng dẫn đến tình trạng gian dối trong

quá trình thành lập doanh nghiệp, thể hiện ở

chỗ đứng tên “danh nghĩa” trên giấy đề nghị

thành lập doanh nghiệp Đặc biệt là trong việc

thành lập công ti TNHH hai thành viên, hầu

hết chỉ có một thành viên đứng ra thành lập

và chi phối điều hành, các thành viên còn lại

không tham gia vào hoạt động quản lí, thành

lập mà chỉ đứng tên trên giấy Có thể nghiên

cứu vấn đề thông qua việc tìm hiểu nội dung

một vụ việc sau:

“Tháng 5/2001, ông Ngô Trường Thanh

và ông Nguyễn Văn Long thành lập công ti

TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát Tổng

số vốn ban đầu là 1,6 tỉ đồng, trong đó số vốn

góp của ông Thanh là 900 triệu đồng Đến

tháng 8/2001, tổng số vốn của công ti thay

đổi còn 900 triệu đồng, trong đó phần góp

vốn của ông Thanh chỉ còn 200 triệu đồng

Ông Nguyễn Văn Long khai ông và ông

Thanh là bạn, ông Thanh lại có nghiệp vụ kế

toán nên ông Long mời ông này làm cho công

ti Ông Long muốn ông Thanh có vị trí nhất

định trong công ti với chức danh phó giám

đốc kiêm kế toán trưởng công ti nên ông đã

bảo ông Thanh đứng tên trong Hội đồng

thành viên công ti mà không cần góp vốn Vì

vậy ông đã dùng tiền cá nhân để nộp vào

phần vốn góp của ông Thanh cho đúng quy

định pháp luật là 200.000.000 đồng Thực tế

mọi điều hành, quản lí công ti đều do ông

Long quyết định

Bà Lê Thị Nhất Linh (nhân chứng) là nhân viên công ti TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát từ tháng 8/2003 Đến 17/7/2006 xác nhận có đánh máy và kí vào hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa ông Nguyễn Văn Long, Ngô Trường Thanh và bà mà không có chữ kí của ông Thanh

Ngày 14/6/2006, ông Thanh khởi kiện, yêu cầu công nhận phần vốn của ông tại công

ti và chia lợi nhuận theo tỉ lệ vốn ông đang nắm giữ tại công ti TAND đã chấp nhận yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận phần vốn góp trong công ti Vạn Phát và chia lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp”.(17)

Đây chỉ là một trong số rất nhiều tranh chấp trên thực tế minh chứng cho hành vi gian dối trong việc nhờ người khác đứng tên trên giấy đăng kí doanh nghiệp cho đủ số lượng thành viên bắt buộc mà người được đứng tên trên thực tế không tham gia góp vốn hay tham gia vào bất cứ hoạt động nào của công ti từ khi thành lập Luật doanh nghiệp hiện hành quy định muốn thành lập công ti TNHH hai thành viên trở lên phải có tối thiểu hai thành viên Do đó, để sẻ chi rủi ro trong các hoạt động kinh doanh hoặc để lách các quy định của luật về điều kiện chuyên môn, chứng chỉ hành nghề…, tình trạng người thành lập doanh nghiệp nhờ người khác đứng tên trong công ti diễn ra ngày càng phổ biến Hành vi “ẩn danh” của nhà đầu tư thông qua việc nhờ người khác đứng tên trong công ti là việc làm đầy rủi ro Đa phần các tranh chấp thuộc loại này, toà án sẽ xác định tư cách thành viên của công ti được xác lập từ thời điểm nào để xác định quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ti

Trang 8

Trong vụ việc trên, TAND đã chấp nhận

yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận

phần vốn góp trong Công ti Vạn Phát và chia

lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp là quyết định

đúng và có cơ sở Bởi lẽ: Theo quy định của

luật thì tư cách thành viên được xác lập kể từ

khi thành viên cam kết góp vốn vào công ti

không phụ thuộc vào việc góp vốn đó đủ hay

chưa đủ Toà án đã ra phán quyết dựa trên

chứng từ xác nhận phần vốn góp của thành

viên Với chứng từ thể hiện việc hoàn thành

nghĩa vụ góp vốn cùng với tên của ông Thanh

được ghi nhận vào trong điều lệ Công ti là

bằng chứng chứng minh cho tư cách thành

viên của ông này trong Công ti Vạn Phát

Như vậy, về mặt thực tế thì ông Long

một mình tự thành lập, tự bỏ vốn ra và điều

hành hoạt động của Công ti nhưng do “lách

luật” bằng việc nhờ ông Thanh đứng tên

cùng đã gây ra thiệt hại không đáng có Về

bản chất hành vi này được coi là hành vi

gian dối và có tính trái luật, nên hậu quả

thường là người thành lập doanh nghiệp phải

gánh chịu thiệt hại vì tất cả mọi chứng cứ

thuyết phục nhất đều thuộc về người đang

đứng tên hộ Trong trường hợp này, muốn

bảo vệ quyền lợi của mình, người nhờ người

khác đứng tên có nghĩa vụ chứng minh

người được nhờ không có tư cách thành viên

trong công ti Nếu không chứng minh được,

đương nhiên thành viên đang đứng tên trong

công ti là người có quyền sở hữu phần vốn

góp trong công ti theo giấy chứng nhận phần

vốn góp và sổ thành viên của công ti Đồng

thời người này cũng sẽ có các quyền của

thành viên công ti như quyền hưởng lợi

nhuận và quyết định các vấn đề của công ti

theo quy định của Luật doanh nghiệp

5 Gian dối về địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp

Khi tiến hành đăng kí thành lập doanh nghiệp, một trong những yêu cầu bắt buộc là người thành lập doanh nghiệp phải kê khai trụ

sở chính của doanh nghiệp dự định thành lập Theo quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp

năm 2005: “Trụ sở chính của doanh nghiệp

là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)” Tuy vậy, trên

thực tế, cơ quan đăng kí kinh doanh khó có thể kiểm tra được trụ sở của doanh nghiệp ghi trên giấy đề nghị đăng kí kinh doanh là có thực hay chỉ là địa chỉ “ảo” Vì lẽ đó, nhiều người thành lập doanh nghiệp đã kê khai gian dối trụ sở của doanh nghiệp, với mục đích trốn tránh nghĩa vụ khi tiến hành kinh doanh bất hợp pháp như lừa đảo khách hàng, mua bán hoá đơn…

Trụ sở doanh nghiệp là một trong những địa điểm để chứng tỏ sự tồn tại của doanh nghiệp trên thực tế Khi tiến hành hoạt động, công ti phải sử dụng địa điểm đặt trụ sở của mình làm nơi giao dịch với khách hàng Vì lẽ

đó, đối với những công ti được thành lập chỉ

để tiến hành các hoạt động kinh doanh gian dối thì họ thường tiến hành thủ đoạn thuê trụ

sở doanh nghiệp trong thời gian ngắn, đủ để thực hiện xong ý đồ của mình rồi “biến mất” Hoặc ngay từ lúc đăng kí kinh doanh họ đã sử dụng một địa chỉ “ma” không có thực trên thực tế để thành lập doanh nghiệp Đây là hành vi vi phạm phổ biến của nhiều doanh

Trang 9

nghiệp - là lí do khiến cho hiện tượng các

doanh nghiệp “ma” bùng phát mạnh mẽ trong

mấy năm trước đây

Như vậy, từ việc nghiên cứu những vấn

đề pháp lí về đăng kí kinh doanh và hành vi

gian dối trong quá trình thành lập doanh

nghiệp ở trên, tác giả rút ra kết luận như sau:

Thứ nhất, thủ tục thành lập doanh nghiệp

ngày càng thông thoáng và đơn giản hoá đến

mức tối đa, không những tạo điều kiện cho

các chủ thể thành lập doanh nghiệp có thể

thực thi quyền tự do kinh doanh của mình

một cách dễ dàng, mà còn tạo cơ hội cho

một số đối tượng lợi dụng để trục lợi riêng

cho mình Sự xuất hiện của những hành vi

tiêu cực trong việc thành lập “công ti ma” để

mua bán hoá đơn hay việc “thuê làm giám

đốc” nở rộ trong những năm qua là một

trong những hiện tượng điển hình của hệ quả

từ cơ chế thành lập doanh nghiệp dễ dàng và

thông thoáng có “tiền đăng” nhưng chưa chú

trọng “hậu kiểm” Vì thế, việc thắt chặt cơ

chế kiểm tra sau đăng kí kinh doanh là yêu

cầu cần được chú trọng và thực thi nhanh

chóng, có hiệu quả

Thứ hai, hành vi gian dối trong quá trình

thành lập doanh nghiệp về bản chất đó là

hành vi vi phạm pháp luật Hành vi này biểu

hiện ở nhiều dạng khác nhau, nhiều cách thức

tiến hành khác nhau và cần phải được xử lí và

ngăn chặn kịp thời để đảm bảo môi trường

kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp

hoạt động kinh doanh./

(1).Xe m: Kh o ả n 4 Điề u 4 Lu ậ t d o a n h n g h iệ p

n ăm 2005

(2).Xem: Khoản 4 Điều 11 Luật doanh nghiệp

năm 2005

(3) - Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông

góp hoặc cam k ết góp trong một thời hạn nhất định

và được ghi vào Điều lệ công ti” (khoản 6 Điều 4

Luật doanh nghiệp năm 2005)

- “Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo

quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp”

(khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005)

(4) Các ngành nghề cần vốn pháp định như: kinh doanh vàng, kinh doanh chứng khoán, sàn giao dịch bất động sản…

(5).Xem: ThS Nguyễn Việt Khoa & ThS Từ Thanh

Thảo, Luật k inh tế, Nxb Phương Đông, 2010, tr 38

(6) Xem: Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản (7).Xem: Khoản 1 Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP

(8).Xem: Mục 1 Phần I Thông tư s ố 13/2008/TT-BXD ngày 21/05/2008 hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP

(9) ThS Nguyễn Thị Vân Anh, “Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật doanh nghiệp và một số đề xuất nhằm

hoàn thiện Luật doanh nghiệp năm 2005”, Tạp chí

luật học, số 9/2010.

(10).Xem: Khoản 3 Điều 6 Nghị định của Chính phủ

số 102/2010/NĐ-CP

(11).Xem: ThS Phạm Hoài Huấn, “Vốn điều lệ của công ti từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP”,

Tạp chí nghiên cứu lập pháp, nguồn: http://www

nclp.org.vn (12) Pháp luật hiện hành quy định 6 nhóm ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề, bao gồm: Kinh doanh dịch vụ pháp lí; khám chữa bệnh và dược phẩm; dịch

vụ thú y và thuốc thú y; dịch vụ thiết kế công trình; dịch vụ kiểm toán; dịch vụ môi giới chứng khoán (13).Xem: Khoản 4 Điều 11 Luật doanh nghiệp năm 2005

(14).Xem: Nguyễn Thị Vân Anh, tlđd

(15).Xem: ThS Hoàng Anh Tuấn, “Công ti cổ phần

một cổ đông”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19/2010

(16).Xem: Điều 129 BLDS

(17) Dẫn theo: Phạm Hoài Huấn, “Tư cách thành

viên công ti TNHH: Thời điểm xác lập?”, Diễn đàn

doanh nghiệp, ngày 22/04/2010 Xem: http://dddn

com.vn/20100420100511810cat78/tu-cach-thanh-vien-cong-ty-tnhh-thoi-diem-xac-lap-.htm

Ngày đăng: 06/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w