Các thành viên sẽ thực hiện việc “đưa tài sản vào công ti để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ti”.1 Theo đó, việc “kê khai khống vốn đăng kí, không góp đủ và đ
Trang 1§Ëu ThÞ Quyªn *
hành lập doanh nghiệp là vấn đề pháp lí
quan trọng hàng đầu trong hệ thống pháp
luật về doanh nghiệp-đầu tư, cũng là
hoạt động thực tế đang diễn ra hàng ngày,
hàng giờ trong đời sống xã hội hiện đại Tuy
nhiên, trên thực tế, hoạt động đăng kí thành
lập doanh nghiệp đang có những biểu hiện và
diễn biến phức tạp do hành vi gian dối của
các chủ thể đăng kí, dẫn đến những hệ quả
pháp lí nghiêm trọng, gây không ít khó khăn
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhìn
nhận vấn đề thực tế này như thế nào? Do đâu
mà có những hành vi gian dối trong quá trình
thành lập doanh nghiệp? Lí giải ra sao khi mà
hoạt động đăng kí kinh doanh trở nên quá tải
nhưng trên thực tế số doanh nghiệp thực sự
“sống” sau “khai sinh” là không nhiều? Những
khía cạnh pháp lí nào chưa được quy định,
hay pháp luật có quy định nhưng không đi
vào thực tiễn, để các chủ thể có cơ hội thực
hiện hành vi gian dối trong quá trình thành
lập doanh nghiệp? Trong phạm vi bài viết, tác
giả chỉ đề cập các dạng hành vi gian dối trong
quá trình thành lập doanh nghiệp
1 Gian dối trong việc góp vốn thành
lập doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp quy định rõ góp vốn
là nghĩa vụ của các thành viên khi tiến hành
hoạt động thành lập doanh nghiệp Các thành
viên sẽ thực hiện việc “đưa tài sản vào công
ti để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở
hữu chung của công ti”.(1)
Theo đó, việc “kê khai khống vốn đăng kí, không góp đủ và
đúng hạn số vốn như đã đăng kí; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế” trở thành một trong những hành vi bị
cấm theo Luật doanh nghiệp.(2)
Hiện nay pháp luật quy định hai loại vốn mà người thành lập doanh nghiệp cần phải tìm hiểu khi tiến hành hoạt động kinh doanh, thành lập doanh nghiệp đó là “vốn pháp định” và “vốn điều lệ”.(3)
Thực tiễn thi hành Luật doanh nghiệp cho thấy các chủ thể thành lập doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện được hành vi gian dối trong việc hợp pháp hoá hai loại vốn này cho đủ điều kiện để thành lập được doanh nghiệp Cụ thể:
- Đối với vốn pháp định:
Luật doanh nghiệp không quy định vốn pháp định là điều kiện để thành lập doanh nghiệp, trừ một số doanh nghiệp đặc thù được quy định trong pháp luật chuyên ngành.(4) Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo cho những điều kiện về cơ sở vật chất nhất định cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vận hành đồng thời đảm bảo khả năng chi trả cho các khoản thanh toán với khách hàng Khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực yêu cầu vốn pháp định thì doanh nghiệp phải đáp ứng đủ số vốn pháp định đó Việc xác định vốn pháp định phải được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và giấy xác nhận về mức vốn cấp cho doanh nghiệp
T
* Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2này là một trong những điều kiện phải có
trước khi doanh nghiệp được xem xét cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Người
trực tiếp xác nhận vốn pháp định cùng liên
đới chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung
thực của số vốn tại thời điểm xác nhận.(5)
Tuy nhiên, quy định về vốn pháp định
còn mang nặng tính hình thức Theo quy định
của pháp luật chuyên ngành, chẳng hạn như
Luật kinh doanh bất động sản, một trong
những điều kiện để các tổ chức, cá nhân được
kinh doanh bất động sản là “phải có vốn pháp
định và đăng kí kinh doanh bất động sản theo
quy định của pháp luật”.(6) Theo đó, Nghị
định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP quy
định số vốn pháp định cụ thể phải có khi tiến
hành kinh doanh bất động sản là 6 tỉ đồng.(7)
Số vốn này phải được cơ quan có thẩm quyền
xác nhận “Trường hợp số vốn được góp bằng
tiền thì phải có văn bản xác nhận của ngân
hàng thương mại được phép hoạt động tại
Việt Nam về số tiền kí quỹ của các thành viên
sáng lập Số tiền kí quỹ tối thiểu phải bằng số
vốn góp bằng tiền của các thành viên sáng
lập và chỉ được giải ngân sau khi doanh
nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh”.(8) Trên thực tế, những nhà kinh
doanh không nghiêm chỉnh, có ý định lừa dối
vẫn có thể lách qua các quy định này một
cách dễ dàng Họ mượn tiền hoặc hùn hạp
bên ngoài để có đủ số tiền là 6 tỉ đồng mang
đi kí quỹ ở ngân hàng và xin ngân hàng xác
nhận, sau khi doanh nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh thì họ rút
toàn bộ số tiền ra khỏi ngân hàng một cách
hợp pháp Như vậy, số vốn “ma” góp vào
doanh nghiệp được hợp pháp hoá khiến cho
nhiều người nhầm lẫn Nhiều khi, cán bộ
ngân hàng và các bên liên quan đã cùng thông đồng tạo ra bằng chứng hợp pháp giả để khai man vốn pháp định hoặc rút vốn sau khi đã đăng kí vốn pháp định
- Đối với vốn điều lệ:
Trong thực tiễn thi hành luật doanh nghiệp, có hai trường hợp không tiến hành góp vốn: Trường hợp thứ nhất là chỉ cho mượn danh nghĩa, không góp đồng vốn nào; trường hợp thứ hai là thành viên không thực hiện được nghĩa vụ góp vốn như đã cam kết Trường hợp phổ biến hơn là mượn danh nghĩa của người khác để hoàn tất thủ tục đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Những người mượn danh nghĩa
có thể là bạn bè thân thiết hoặc những người cùng gia đình Thành viên này được cho hoặc thuê đứng tên trên danh nghĩa với tỉ lệ
góp vốn không đáng kể Ví dụ: A muốn
thành lập công ti TNHH hai thành viên trở lên để tiến hành hoạt động kinh doanh với số vốn điều lệ là 100 triệu đồng Nhưng do chỉ
có một mình nên A đã nhờ B đứng tên trong giấy đề nghị đăng kí doanh nghiệp với tỉ lệ phần vốn góp tượng trưng của B là 1 triệu đồng chiếm 1% vốn điều lệ Hậu quả của việc làm này là đã gây ra một số mâu thuẫn, tranh chấp giữa công ti và các thành viên danh nghĩa, giữa thành viên thực tế và thành viên danh nghĩa liên quan đến vấn đề chia lợi nhuận, quản lí, chia tài sản của công ti khi công ti giải thể hoặc phá sản
Như vậy, trong trường hợp mượn danh nghĩa để góp vốn vào công ti nhằm thành lập doanh nghiệp thì những người cho mượn danh nghĩa góp vốn thực chất không góp vốn vào công ti (hoặc góp không đáng kể) nhưng lại có tư cách thành viên công ti theo quy
Trang 3định về hình thức, đã đăng kí kinh doanh với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được sự
thừa nhận của pháp luật Doanh nghiệp về
thực tế vẫn được thành lập một cách hợp
pháp, điều này dẫn tới nhiều hệ luỵ do hành
vi gian dối để được thành lập doanh nghiệp
gây nên Chẳng hạn như việc tranh chấp đề
cập ở trên Vậy khi giải quyết tranh chấp giữa
thành viên thực tế và thành viên danh nghĩa
thì sẽ căn cứ vào thoả thuận “lách luật” của
các bên chỉ là cho mượn danh nghĩa hay căn
cứ vào hồ sơ pháp nhân của công ti là giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh và điều lệ
công ti? Nếu toà án căn cứ vào thoả thuận mà
các bên đã sử dụng để “lách luật” thì liệu có
dung túng cho những thoả thuận này không?(9)
Đó vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ
Như vậy, theo quy định của Luật doanh
nghiệp hiện nay là chỉ thừa nhận việc góp vốn
theo đăng kí tại cơ quan đăng kí kinh doanh
hoặc sổ đăng kí cổ đông Quy định này dẫn
đến hệ quả là buông lỏng hành vi khai khống
vốn của các doanh nghiệp và trong nhiều
trường hợp không bảo vệ được quyền lợi của
các thành viên, cổ đông thực tế Khắc phục
những hạn chế này, Nghị định của Chính phủ
số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật
doanh nghiệp đã thừa nhận việc góp vốn thực
tế làm giảm bớt các tranh chấp liên quan đến
quyền lợi của các thành viên thực tế và thành
viên danh nghĩa.(10)
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu luật học,(11)
Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP chỉ thừa nhận
vốn điều lệ công ti cổ phần là vốn đã thực
góp Cụ thể, theo quy định của Luật doanh
nghiệp, nghĩa vụ góp vốn của thành viên công
ti được xác định theo cam kết góp vốn Tuy
vậy, Luật doanh nghiệp không quy định giới
hạn về mặt thời gian cho việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn Nói cách khác, thời hạn để thành viên góp vốn vào công ti là không hạn chế mà thời hạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào thoả thuận góp vốn giữa các thành viên công ti Tuy vậy, theo Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP, thời hạn để thành viên hoàn thành nghĩa vụ góp vốn là 36 tháng
kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Với việc đưa ra giới hạn này, Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP đã tạo cơ sở cho việc chấm dứt tình trạng nợ vốn không thời hạn của thành viên công ti TNHH
2 Gian dối trong điều kiện về chứng chỉ hành nghề trong đăng kí kinh doanh
Luật doanh nghiệp quy định chứng chỉ hành nghề là loại giấy tờ cần có trong hồ sơ đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên Luật doanh nghiệp không đặt ra yêu cầu cụ thể về chứng chỉ hành nghề mà chỉ dẫn chiếu
để áp dụng các quy định tương ứng của pháp luật chuyên ngành.(12)
Thực ra, trên thực tế, chứng chỉ hành nghề có tính chất là điều kiện thành lập doanh nghiệp hơn là điều kiện để hoạt động kinh doanh, bởi vì ở thời điểm được cấp chứng chỉ hành nghề, chủ thể kinh doanh chưa ra đời và người được cấp văn bản này mới chỉ được Nhà nước cho phép hành nghề mà chưa thể hoạt động kinh doanh trên cơ sở chứng chỉ hành nghề đó Chứng chỉ hành nghề không có nghĩa là sự bảo đảm về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình cung cấp cho khách hàng Bởi lẽ bản chất của chứng chỉ hành nghề là
“văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm
Trang 4quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề
nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá
nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm nghề nghiệp về một ngành nghề nhất
định”.(13)
Bởi thế, các chủ thể muốn kinh
doanh trong những lĩnh vực đòi hỏi phải có
chứng chỉ hành nghề thì các chủ thể ấy hoàn
toàn có thể cũng theo cách thức trên là thuê
hoặc nhờ những người có trình độ chuyên
môn, có chứng chỉ hành nghề đứng ra thành
lập doanh nghiệp và cho họ làm giám đốc
nhưng thực tế khi doanh nghiệp được thành
lập thì người được thuê, được nhờ không tiến
hành hoạt động kinh doanh mà những chủ thể
thuê mướn trực tiếp đứng ra hoạt động kinh
doanh Ví dụ: “Để thành lập công ti MH có
ngành nghề kinh doanh là sản xuất, bán buôn
máy móc, trang thiết bị y tế phòng khám đa
khoa, ông Nghĩa và ông Linh đã mượn danh
nghĩa của ông Hùng là phó giáo sư, tiến sĩ,
bác sĩ chuyên môn giỏi, có chứng chỉ hành
nghề khám chữa bệnh Công ti được thành lập
với người đại diện hợp pháp là ông Nghĩa và
số vốn tượng trưng của ông Hùng là 10% số
vốn điều lệ và được bổ nhiệm làm giám đốc
phòng khám Ông Hùng đã kí vào bản cam
kết góp vốn cũng như các giấy tờ thành lập
công ti Tuy nhiên, công việc kinh doanh
không thuận lợi vì ông Hùng thường xuyên
vắng mặt ở phòng khám Ông cũng có đơn
xin rút tên ra khỏi phòng khám Trước tình
hình trên, công ti MH đã kiện ông Hùng ra
toà án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ góp vốn
theo đúng cam kết nhằm ràng buộc trách
nhiệm của ông Hùng với công ti Tại toà, ông
Hùng cho rằng việc kí nhận góp 10% vốn
điều lệ chỉ là thủ tục hành chính nhằm mở
công ti chứ không phải là cam kết góp vốn
của ông Tuy nhiên, toà án ra quyết định xác nhận ông Hùng là cổ đông của công ti và chưa thực hiện nghĩa vụ góp vốn và buộc ông Hùng phải thực hiện nghĩa vụ cổ đông”.(14) Như vậy, vì mục đích duy nhất là thành lập được công ti mà ông Nghĩa và ông Linh đã tiến hành thủ đoạn gian dối là nhờ ông Hùng với học hàm, học vị cao để đứng tên thành lập trong khi ông Hùng hoàn toàn không có ý định góp vốn thành lập công ti Với việc lôi kéo được ông Hùng tham gia đứng tên thành lập doanh nghiệp, công ti MH đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế người hành nghề không phải là ông Hùng mà là ông Nghĩa và ông Linh cho nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại cho khách hàng
Như vậy, để đáp ứng được các điều kiện thành lập doanh nghiệp mà pháp luật đặt ra, người thành lập doanh nghiệp có thể thực hiện được hành vi gian dối và gây ra những thiệt hại thực tế Việc làm này đã vô hiệu hoá mục đích của các điều kiện kinh doanh là đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội Đồng thời hành vi gian dối này còn tạo ra những hậu quả làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp Nó còn tạo ra những doanh nghiệp kém chất lượng, gian dối trong kinh doanh, không bảo đảm cho doanh nghiệp kinh doanh đạt được hiệu quả trong sự tôn trọng lợi ích cộng đồng
3 Gian dối trong việc đứng tên người đại diện theo pháp luật trên giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp và sau này là chứng nhận đăng kí doanh nghiệp
Về thủ tục đăng kí thành lập doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp và các văn bản
Trang 5hướng dẫn thi hành quy định rõ khi thành lập
doanh nghiệp phải ghi rõ người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp Theo đó, đối
với công ti TNHH, công ti cổ phần khi tiến
hành đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phải chỉ định người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong
các giấy tờ như điều lệ công ti, giấy chứng
nhận đăng kí doanh nghiệp phải ghi người
đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (khoản
8 Điều 22; khoản 2 Điều 25; khoản 1 Điều
28 Luật doanh nghiệp; các điều 20, 21, 27,
33 Nghị định của Chính phủ số
43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010), đồng thời quy định
trách nhiệm của người đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp
Điều này là không hợp lí vì vào thời điểm
các sáng lập viên làm thủ tục đăng kí kinh
doanh để thành lập doanh nghiệp thì chưa có
doanh nghiệp, sau khi doanh nghiệp được cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì
doanh nghiệp mới thực sự ra đời Như vậy
phải có người đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp vào thời điểm chưa có doanh nghiệp
là điều không thể Điều này càng thể hiện rõ
nét trong trường hợp người tiến hành đăng kí
kinh doanh không đủ điều kiện để được cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Quy định của pháp luật có thể dẫn đến hệ
quả nguy hiểm là: để thành lập được doanh
nghiệp và thực hiện hoạt động kinh doanh
nhằm thu lợi bất chính, các chủ thể muốn
thành lập doanh nghiệp thuê người làm giám
đốc để họ đứng tên trên các giấy tờ pháp lí và
là người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp Sau khi doanh nghiệp được thành lập
và thực hiện xong mục đích bất chính thì
người thuê có thể dễ dàng trút bỏ trách nhiệm
cho người được thuê và trong trường hợp này các chủ thể được thuê không có khả năng gánh chịu các hậu quả pháp lí do hành vi bất chính của người thuê gây nên Quy định chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ngay trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp một mặt mâu thuẫn với các quy định của luật, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể có ý định thực hiện hành vi bất chính Mâu thuẫn ở chỗ, nếu doanh nghiệp chưa ra đời thì không thể có chủ thể kí hợp đồng thuê giám đốc được, hơn nữa, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp chỉ có thể do đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng thành viên bầu ra hoặc thuê, điều này là không thể khi doanh nghiệp chưa được thành lập Không những thế, quy định này còn là “lỗ hổng” của pháp luật để các chủ thể muốn thực hiện hành
vi bất chính có được tấm lá chắn thoát thân hữu hiệu khi hậu quả từ hành vi bất chính thành lập doanh nghiệp đã bị đổ vỡ
Thiết nghĩ, không nên yêu cầu các sáng lập viên khi tiến hành đăng kí kinh doanh phải ghi người đại diện diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong điều lệ và trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp tại thời điểm được cấp Sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp,
đã tổ chức họp và bầu hoặc thuê người đại diện theo pháp luật, doanh nghiêp sẽ tiến hành đăng kí người đại diện cho mình tại cơ quan đăng kí kinh doanh
4 Gian dối trong việc ghi tên các cổ đông sáng lập công ti cổ phần và thành viên sáng lập công ti TNHH trên giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp một cách hình thức
- Đối với cổ đông sáng lập:
Khái niệm cổ đông sáng lập được quy
Trang 6định tại khoản 11 Điều 4 Luật doanh nghiệp
như sau: “Cổ đông sáng lập là cổ đông tham
gia xây dựng, thông qua và kí tên vào bản
điều lệ đầu tiên của công ti cổ phần” Theo
quy định của Luật doanh nghiệp, số lượng cổ
đông tối thiểu của công ti cổ phần phải là ba
cổ đông (Điều 77) và công ti bị giải thể khi
không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu
trong thời hạn sáu tháng liên tục (Điều 157)
Như vậy, muốn thành lập công ti cổ phần thì
điều đầu tiên là phải đáp ứng đủ số lượng
thành viên Trong trường hợp nhà đầu tư
không tìm được đủ số lượng thành viên hoặc
trường hợp nhà đầu tư không muốn chia sẻ ý
tưởng kinh doanh của riêng mình cho người
khác và chỉ muốn thành lập công ti cổ phần
để thực hiện ý tưởng đó, họ sẽ tìm cách “lách
luật” để thành lập công ti cổ phần của riêng
mình Điều này dẫn đến tình trạng là: Khi một
người thành lập công ti cổ phần mới để thực
hiện ý tưởng kinh doanh thì người này vẫn
lập hồ sơ đăng kí kinh doanh theo đúng quy
định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên,
ngoài người này, các cổ đông sáng lập khác
chỉ mang danh nghĩa Số cổ phần của những
“cổ đông danh nghĩa” này trên giấy tờ là rất ít
và không thể gây bất kì ảnh hưởng nào đến
công ti Do vậy, về mặt thủ tục, công ti được
thành lập hợp pháp và do các cổ đông cùng
góp vốn nhưng về mặt thực tế thì chỉ có một
cổ đông bỏ vốn ra và thâu tóm toàn bộ công
ti, các cổ đông còn lại chỉ là “hình thức” trên
giấy chứng nhận doanh nghiệp mà thôi Mặc
dù Luật doanh nghiệp đã có nhiều quy định
bảo vệ cổ đông thiểu số nhưng trong trường
hợp một cổ đông thực tế và nhiều “cổ đông
danh nghĩa” sẽ không thể áp dụng các chế
định của Luật để bảo vệ cho quyền lợi của cổ
đông thiểu số bởi việc họ là cổ đông chỉ là
“hình thức”
Ngoài ra, “thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến công ti cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2005 cho thấy, có nhiều công ti cổ phần được thành lập với đúng số lượng cổ đông tối thiểu hoặc nhiều hơn, nhưng khi xảy ra tranh chấp thì chỉ xác định được một cổ đông”.(15)
Nguyên nhân của vấn
đề này khá đa dạng, có thể do một cổ đông tự nghĩ ra các cổ đông khác để đưa vào danh sách cổ đông sáng lập (trường hợp này xảy ra khá nhiều, đặc biệt là khi áp dụng Luật doanh nghiệp năm 1999 - hồ sơ thành lập công ti không bao gồm chứng minh nhân dân của cổ đông sáng lập); có nhiều trường hợp một người sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thành lập công ti cổ phần… Như vậy, việc đối phó bằng “hình thức” khi ghi tên cổ đông sáng lập vào giấy đề nghị đăng kí doanh nghiệp để hợp thức hoá quy định của pháp luật là hành vi gian dối, có thể coi là “trái luật” Tuy nhiên việc xử lí các công ti được thành lập “trái luật” này chưa có cách thức thoả đáng khi có tranh chấp, bởi trong thực tiễn tư pháp chúng ta chưa quy định vấn đề công ti vô hiệu Trường hợp một người “mượn” thêm tên của những người khác để thành lập công ti cổ phần “lách luật” như trên, là giao dịch vô hiệu do giả tạo, dẫn tới công ti vô hiệu.(16)
Hành vi này còn dẫn đến hiện tượng “công ti cổ phần một cổ đông” - hiện tượng thực tế chưa được thừa nhận trong pháp luật Việt Nam
- Đối với thành viên sáng lập:
Tương tự như đối với cổ đông sáng lập,
“Thành viên sáng lập là người góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và kí tên vào bản
Trang 7điều lệ đầu tiên của công ti trách nhiệm hữu
hạn, công ti hợp danh” (khoản 10 Điều 4
Luật doanh nghiệp) Pháp luật hiện hành đang
thừa nhận hai loại hình công ti TNHH là công
ti TNHH một thành viên và công ti TNHH
hai thành viên trở lên Do những động cơ vụ
lợi và mục đích thành lập doanh nghiệp khác
nhau cũng dẫn đến tình trạng gian dối trong
quá trình thành lập doanh nghiệp, thể hiện ở
chỗ đứng tên “danh nghĩa” trên giấy đề nghị
thành lập doanh nghiệp Đặc biệt là trong việc
thành lập công ti TNHH hai thành viên, hầu
hết chỉ có một thành viên đứng ra thành lập
và chi phối điều hành, các thành viên còn lại
không tham gia vào hoạt động quản lí, thành
lập mà chỉ đứng tên trên giấy Có thể nghiên
cứu vấn đề thông qua việc tìm hiểu nội dung
một vụ việc sau:
“Tháng 5/2001, ông Ngô Trường Thanh
và ông Nguyễn Văn Long thành lập công ti
TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát Tổng
số vốn ban đầu là 1,6 tỉ đồng, trong đó số vốn
góp của ông Thanh là 900 triệu đồng Đến
tháng 8/2001, tổng số vốn của công ti thay
đổi còn 900 triệu đồng, trong đó phần góp
vốn của ông Thanh chỉ còn 200 triệu đồng
Ông Nguyễn Văn Long khai ông và ông
Thanh là bạn, ông Thanh lại có nghiệp vụ kế
toán nên ông Long mời ông này làm cho công
ti Ông Long muốn ông Thanh có vị trí nhất
định trong công ti với chức danh phó giám
đốc kiêm kế toán trưởng công ti nên ông đã
bảo ông Thanh đứng tên trong Hội đồng
thành viên công ti mà không cần góp vốn Vì
vậy ông đã dùng tiền cá nhân để nộp vào
phần vốn góp của ông Thanh cho đúng quy
định pháp luật là 200.000.000 đồng Thực tế
mọi điều hành, quản lí công ti đều do ông
Long quyết định
Bà Lê Thị Nhất Linh (nhân chứng) là nhân viên công ti TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát từ tháng 8/2003 Đến 17/7/2006 xác nhận có đánh máy và kí vào hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa ông Nguyễn Văn Long, Ngô Trường Thanh và bà mà không có chữ kí của ông Thanh
Ngày 14/6/2006, ông Thanh khởi kiện, yêu cầu công nhận phần vốn của ông tại công
ti và chia lợi nhuận theo tỉ lệ vốn ông đang nắm giữ tại công ti TAND đã chấp nhận yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận phần vốn góp trong công ti Vạn Phát và chia lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp”.(17)
Đây chỉ là một trong số rất nhiều tranh chấp trên thực tế minh chứng cho hành vi gian dối trong việc nhờ người khác đứng tên trên giấy đăng kí doanh nghiệp cho đủ số lượng thành viên bắt buộc mà người được đứng tên trên thực tế không tham gia góp vốn hay tham gia vào bất cứ hoạt động nào của công ti từ khi thành lập Luật doanh nghiệp hiện hành quy định muốn thành lập công ti TNHH hai thành viên trở lên phải có tối thiểu hai thành viên Do đó, để sẻ chi rủi ro trong các hoạt động kinh doanh hoặc để lách các quy định của luật về điều kiện chuyên môn, chứng chỉ hành nghề…, tình trạng người thành lập doanh nghiệp nhờ người khác đứng tên trong công ti diễn ra ngày càng phổ biến Hành vi “ẩn danh” của nhà đầu tư thông qua việc nhờ người khác đứng tên trong công ti là việc làm đầy rủi ro Đa phần các tranh chấp thuộc loại này, toà án sẽ xác định tư cách thành viên của công ti được xác lập từ thời điểm nào để xác định quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ti
Trang 8Trong vụ việc trên, TAND đã chấp nhận
yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận
phần vốn góp trong Công ti Vạn Phát và chia
lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp là quyết định
đúng và có cơ sở Bởi lẽ: Theo quy định của
luật thì tư cách thành viên được xác lập kể từ
khi thành viên cam kết góp vốn vào công ti
không phụ thuộc vào việc góp vốn đó đủ hay
chưa đủ Toà án đã ra phán quyết dựa trên
chứng từ xác nhận phần vốn góp của thành
viên Với chứng từ thể hiện việc hoàn thành
nghĩa vụ góp vốn cùng với tên của ông Thanh
được ghi nhận vào trong điều lệ Công ti là
bằng chứng chứng minh cho tư cách thành
viên của ông này trong Công ti Vạn Phát
Như vậy, về mặt thực tế thì ông Long
một mình tự thành lập, tự bỏ vốn ra và điều
hành hoạt động của Công ti nhưng do “lách
luật” bằng việc nhờ ông Thanh đứng tên
cùng đã gây ra thiệt hại không đáng có Về
bản chất hành vi này được coi là hành vi
gian dối và có tính trái luật, nên hậu quả
thường là người thành lập doanh nghiệp phải
gánh chịu thiệt hại vì tất cả mọi chứng cứ
thuyết phục nhất đều thuộc về người đang
đứng tên hộ Trong trường hợp này, muốn
bảo vệ quyền lợi của mình, người nhờ người
khác đứng tên có nghĩa vụ chứng minh
người được nhờ không có tư cách thành viên
trong công ti Nếu không chứng minh được,
đương nhiên thành viên đang đứng tên trong
công ti là người có quyền sở hữu phần vốn
góp trong công ti theo giấy chứng nhận phần
vốn góp và sổ thành viên của công ti Đồng
thời người này cũng sẽ có các quyền của
thành viên công ti như quyền hưởng lợi
nhuận và quyết định các vấn đề của công ti
theo quy định của Luật doanh nghiệp
5 Gian dối về địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp
Khi tiến hành đăng kí thành lập doanh nghiệp, một trong những yêu cầu bắt buộc là người thành lập doanh nghiệp phải kê khai trụ
sở chính của doanh nghiệp dự định thành lập Theo quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp
năm 2005: “Trụ sở chính của doanh nghiệp
là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)” Tuy vậy, trên
thực tế, cơ quan đăng kí kinh doanh khó có thể kiểm tra được trụ sở của doanh nghiệp ghi trên giấy đề nghị đăng kí kinh doanh là có thực hay chỉ là địa chỉ “ảo” Vì lẽ đó, nhiều người thành lập doanh nghiệp đã kê khai gian dối trụ sở của doanh nghiệp, với mục đích trốn tránh nghĩa vụ khi tiến hành kinh doanh bất hợp pháp như lừa đảo khách hàng, mua bán hoá đơn…
Trụ sở doanh nghiệp là một trong những địa điểm để chứng tỏ sự tồn tại của doanh nghiệp trên thực tế Khi tiến hành hoạt động, công ti phải sử dụng địa điểm đặt trụ sở của mình làm nơi giao dịch với khách hàng Vì lẽ
đó, đối với những công ti được thành lập chỉ
để tiến hành các hoạt động kinh doanh gian dối thì họ thường tiến hành thủ đoạn thuê trụ
sở doanh nghiệp trong thời gian ngắn, đủ để thực hiện xong ý đồ của mình rồi “biến mất” Hoặc ngay từ lúc đăng kí kinh doanh họ đã sử dụng một địa chỉ “ma” không có thực trên thực tế để thành lập doanh nghiệp Đây là hành vi vi phạm phổ biến của nhiều doanh
Trang 9nghiệp - là lí do khiến cho hiện tượng các
doanh nghiệp “ma” bùng phát mạnh mẽ trong
mấy năm trước đây
Như vậy, từ việc nghiên cứu những vấn
đề pháp lí về đăng kí kinh doanh và hành vi
gian dối trong quá trình thành lập doanh
nghiệp ở trên, tác giả rút ra kết luận như sau:
Thứ nhất, thủ tục thành lập doanh nghiệp
ngày càng thông thoáng và đơn giản hoá đến
mức tối đa, không những tạo điều kiện cho
các chủ thể thành lập doanh nghiệp có thể
thực thi quyền tự do kinh doanh của mình
một cách dễ dàng, mà còn tạo cơ hội cho
một số đối tượng lợi dụng để trục lợi riêng
cho mình Sự xuất hiện của những hành vi
tiêu cực trong việc thành lập “công ti ma” để
mua bán hoá đơn hay việc “thuê làm giám
đốc” nở rộ trong những năm qua là một
trong những hiện tượng điển hình của hệ quả
từ cơ chế thành lập doanh nghiệp dễ dàng và
thông thoáng có “tiền đăng” nhưng chưa chú
trọng “hậu kiểm” Vì thế, việc thắt chặt cơ
chế kiểm tra sau đăng kí kinh doanh là yêu
cầu cần được chú trọng và thực thi nhanh
chóng, có hiệu quả
Thứ hai, hành vi gian dối trong quá trình
thành lập doanh nghiệp về bản chất đó là
hành vi vi phạm pháp luật Hành vi này biểu
hiện ở nhiều dạng khác nhau, nhiều cách thức
tiến hành khác nhau và cần phải được xử lí và
ngăn chặn kịp thời để đảm bảo môi trường
kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh./
(1).Xe m: Kh o ả n 4 Điề u 4 Lu ậ t d o a n h n g h iệ p
n ăm 2005
(2).Xem: Khoản 4 Điều 11 Luật doanh nghiệp
năm 2005
(3) - Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông
góp hoặc cam k ết góp trong một thời hạn nhất định
và được ghi vào Điều lệ công ti” (khoản 6 Điều 4
Luật doanh nghiệp năm 2005)
- “Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo
quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp”
(khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005)
(4) Các ngành nghề cần vốn pháp định như: kinh doanh vàng, kinh doanh chứng khoán, sàn giao dịch bất động sản…
(5).Xem: ThS Nguyễn Việt Khoa & ThS Từ Thanh
Thảo, Luật k inh tế, Nxb Phương Đông, 2010, tr 38
(6) Xem: Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản (7).Xem: Khoản 1 Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP
(8).Xem: Mục 1 Phần I Thông tư s ố 13/2008/TT-BXD ngày 21/05/2008 hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP
(9) ThS Nguyễn Thị Vân Anh, “Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật doanh nghiệp và một số đề xuất nhằm
hoàn thiện Luật doanh nghiệp năm 2005”, Tạp chí
luật học, số 9/2010.
(10).Xem: Khoản 3 Điều 6 Nghị định của Chính phủ
số 102/2010/NĐ-CP
(11).Xem: ThS Phạm Hoài Huấn, “Vốn điều lệ của công ti từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, nguồn: http://www
nclp.org.vn (12) Pháp luật hiện hành quy định 6 nhóm ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề, bao gồm: Kinh doanh dịch vụ pháp lí; khám chữa bệnh và dược phẩm; dịch
vụ thú y và thuốc thú y; dịch vụ thiết kế công trình; dịch vụ kiểm toán; dịch vụ môi giới chứng khoán (13).Xem: Khoản 4 Điều 11 Luật doanh nghiệp năm 2005
(14).Xem: Nguyễn Thị Vân Anh, tlđd
(15).Xem: ThS Hoàng Anh Tuấn, “Công ti cổ phần
một cổ đông”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19/2010
(16).Xem: Điều 129 BLDS
(17) Dẫn theo: Phạm Hoài Huấn, “Tư cách thành
viên công ti TNHH: Thời điểm xác lập?”, Diễn đàn
doanh nghiệp, ngày 22/04/2010 Xem: http://dddn
com.vn/20100420100511810cat78/tu-cach-thanh-vien-cong-ty-tnhh-thoi-diem-xac-lap-.htm