1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số vấn đề vướng mắc nảy sinh từ các quy định của Luật bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu " pptx

5 615 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 269,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải để phá dỡ tại mục b khoản 2 Điều 42 Luật BVMT Với quan điểm cho rằng hoạt động nhập khẩu các phương tiện giao thông vận tải về để

Trang 1

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG *

uật bảo vệ môi trường (BVMT) được

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2005 và có

hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 Quá

trình triển khai thực hiện Luật BVMT trong

5 năm qua đã đạt được những kết quả tích

cực, góp phần quan trọng trong công tác

BVMT ở nước ta Tuy nhiên, bên cạnh

những kết quả đạt được, các quy định của

Luật BVMT cùng các quy định pháp luật

liên quan đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập

cả về thể chế và thực tiễn thi hành Vì vậy,

việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT là yêu cầu

cấp thiết để tăng cường hiệu lực, hiệu quả

công tác BVMT ở nước ta trong thời gian

tới.(1)

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ

đề cập một số vướng mắc, bất cập và đưa ra

giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về

BVMT trong hoạt động xuất khẩu, nhập

khẩu của Luật BVMT

1 Quy định cấm nhập khẩu phương

tiện giao thông vận tải để phá dỡ tại mục

b khoản 2 Điều 42 Luật BVMT

Với quan điểm cho rằng hoạt động nhập

khẩu các phương tiện giao thông vận tải về

để phá dỡ và hoạt động phá dỡ là nguyên

nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi

trường nên mục b khoản 2 Điều 42 Luật

BVMT quy định cấm nhập khẩu máy móc,

thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã

qua sử dụng để phá dỡ.(2)

Xét về mặt lí luận và thực tiễn thì có một

số vấn đề cần xem xét lại:

- Thứ nhất, phải thấy rằng pháp luật môi

trường trong hoạt động nhập khẩu là “màng lọc” các ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người Do đó, theo nguyên lí này, những hàng hoá có ảnh hưởng lớn tới môi trường sẽ không được phép nhập khẩu vào Việt Nam và ngược lại, những hàng hoá không có ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng nhưng không lớn tới môi trường sẽ được phép nhập khẩu Các phương tiện giao thông vận tải, trong đó có tàu biển, xét về lượng chất thải phát sinh trong và sau khi phá dỡ cũng có nhiều loại, với những tỉ lệ phát sinh chất thải khác nhau, có loại phương tiện phát sinh nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguy hại nhưng cũng có những loại phương tiện phát sinh chất thải không lớn Bên cạnh

đó, nếu so sánh việc phát sinh chất thải của một số loại hình sản xuất hiện nay thì hoạt động phá dỡ tàu cũ đã qua sử dụng sẽ không làm phát sinh nhiều chất thải hơn so với một

số ngành sản xuất Các loại chất thải phát sinh chỉ chiếm khoảng 3% trọng lượng tàu

cũ, còn ít hơn nhiều so với chất thải của

L

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

nhiều hoạt động kinh tế khác.(3)

Do đó, về mặt lí luận và thực tiễn thì không nên cấm

hoàn toàn việc nhập khẩu phương tiện giao

thông vận tải, tàu cũ để phá dỡ mà chỉ nên

cấm một số loại có khả năng làm phát sinh

nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguy

hại và cho phép nhập khẩu những loại

phương tiện giao thông vận tải, tàu cũ chứa

ít chất thải với mục đích phá dỡ

- Thứ hai, không thể lấy lí do các doanh

nghiệp phá dỡ phương tiện giao thông vận

tải, tàu cũ vi phạm pháp luật môi trường để

cấm nhập khẩu Hành vi nhập khẩu phương

tiện giao thông vận tải, tàu cũ và phá dỡ

phương tiện giao thông vận tải, tàu cũ làm

phát sinh những nghĩa vụ pháp lí khác nhau

Do đó, không thể vì những vi phạm nghĩa vụ

từ hành vi này mà cấm việc thực hiện hành

vi khác Bên cạnh đó, trong trường hợp chủ

thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường

(như không thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác

động môi trường, nghĩa vụ quản lí chất

thải ) thì Nhà nước có thể áp dụng trách

nhiệm pháp lí theo quy định, tương ứng với

hành vi vi phạm

- Thứ ba, quy định cấm này thể hiện xu

hướng không quản lí được thì cấm của pháp

luật Các doanh nghiệp, đặc biệt là Hiệp hội

thép Việt Nam thì cho rằng quy định cấm

này đã “khai tử” một lĩnh vực sản xuất, kinh

doanh nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ(4)

và không bảo đảm phát triển bền vững

2 Quy định về BVMT trong hoạt động

nhập khẩu phế liệu tại Điều 43 Luật BVMT

Đây là quy định không minh bạch và

mâu thuẫn với các quy định khác của pháp

luật Trong khi mục a khoản 1 Điều 43 Luật

BVMT năm 2005 đã xác định điều kiện phế liệu được phép nhập khẩu là đã được phân loại, làm sạch thì tại mục b khoản 1 Điều 43 lại cho phép phế liệu có chứa những tạp chất không nguy hại Mục b khoản 1 Điều 43 quy

định: "không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời

ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển"

Như vậy, có thể hiểu rằng trước khi "bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển" thì các tạp chất này lẫn trong phế liệu và như vậy các phế liệu nhập khẩu được phép chứa một

số những tạp chất không nguy hại Khẳng định này còn được củng cố bởi quy định tại mục b khoản 2 Điều 43 về điều kiện của tổ

chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là: "có đủ năng lực xử lí các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu" Nếu phế liệu đáp ứng đầy

đủ yêu cầu là được làm sạch thì việc pháp luật quy định bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có năng lực xử

lí tạp chất đi kèm là không cần thiết Và nếu điều này là cần thiết nhằm BVMT chung thì

rõ ràng pháp luật đã cho phép nhập khẩu phế liệu chứa những tạp chất không nguy hại, ít nhất được hiểu là chứa một tỉ lệ nhất định những tạp chất này

Mặc dù trong quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu không khẳng định rõ

sự cho phép nhập khẩu những phế liệu có lẫn những tạp chất không nguy hại nhưng với những phân tích ở trên chúng ta thấy rõ sự cho phép đó

Như vậy, các quy định nêu trên có tính chất loại trừ lẫn nhau Theo bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định này và sẽ là nguyên nhân

Trang 3

gây ra những khó khăn trong quá trình áp

dụng pháp luật

Tại Phụ lục I Nghị định của Chính phủ số

12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định

chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt

động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt

động đại lí mua, bán, gia công và quá cảnh

hàng hoá với nước ngoài quy định cấm nhập

khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm thuỷ

tinh, kim loại, nhựa Trong khi đó, Quyết định

của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường số

12/2006/QĐ-BTNMT ngày 8/9/2006 về việc

ban hành Danh mục các phế liệu được phép

nhập khẩu làm nguyên liệu (gọi tắt là Quyết

định số 12/2006/QĐ-BTNMT) xác định các

loại phế liệu gồm kim loại, thuỷ tinh, nhựa

được phép nhập khẩu phát sinh từ các

nguồn khác nhau, trong đó có thể phát sinh

từ các loại sản phẩm “đã qua sử dụng” Căn

cứ để cho phép nhập khẩu hoặc không cho

phép nhập khẩu phế liệu phụ thuộc vào khả

năng gây ảnh hưởng tới môi trường chứ

không căn cứ vào nguồn phát sinh là hoạt

động sản xuất hay hoạt động tiêu dùng

Tại mục 18 Danh mục các phế liệu được

phép nhập khẩu làm nguyên liệu ban hành kèm

theo Quyết định số 12/2006/QĐ- BTNMT xác

định các loại bao bì nhựa đựng nước khoáng,

nước tinh khiết đã qua sử dụng là loại phế

liệu được phép nhập khẩu Như vậy, theo

quy định này, chỉ các loại bao bì đựng nước

khoáng hoặc nước tinh khiết đã qua sử dụng

mới được phép nhập khẩu còn các bao bì

nhựa nhưng đựng nước giải khát các loại

như Coca cola, Pepsi, 7 up , hoặc đựng các

sản phẩm khác sẽ không được phép nhập

khẩu, kể cả trong trường hợp đáp ứng những

điều kiện khác của các quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu Muốn được phép nhập khẩu, các loại chai nhựa này đã phải được băm, cắt với kích thước mỗi chiều của mẩu vụn không quá 5 cm

Một điều hiển nhiên là các chai nhựa đựng Coca cola, Pepsi, 7 up nếu đã được làm sạch thì tính chất lí, hoá và nguy cơ gây ảnh hưởng tới môi trường không có sự khác biệt với chai nhựa đựng nước khoáng, nước tinh khiết Trong trường hợp này, mặc dù không xuất hiện những nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường nhưng nếu cho phép nhập khẩu sẽ vi phạm mục c khoản 1 Điều 43 Luật BVMT và Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT Hậu quả là doanh nghiệp nhập khẩu

sẽ gánh chịu những thiệt hại về kinh tế phát sinh từ hoạt động nhập khẩu phế liệu này Việc quy định mang tính chất liệt kê các loại phế liệu được phép nhập khẩu (điểm c khoản 1 Điều 43 Luật bảo vệ môi trường và Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT) có thể tránh được sự tranh luận giữa cơ quan quản lí nhà nước và doanh nghiệp nhập khẩu về loại phế liệu nhập khẩu có được phép hay không

Mặc dù vậy, với xu hướng quy định: "chỉ được thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép", những nhu cầu chính đáng trong

việc sử dụng phế liệu làm nguyên liệu có thể

sẽ không được đáp ứng, mặc dù hoạt động nhập khẩu này không có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Ví dụ như có một

số cơ sở sử dụng các loại phế liệu như lông

vũ, vỏ bắp ngô, gỗ phế liệu, da lông cừu đã thuộc, mảnh da cừu vụn, vải vụn, sợi rối làm nguyên liệu và có nhu cầu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất nhưng do Danh

Trang 4

mục các phế liệu được phép nhập khẩu không

liệt kê nên các doanh nghiệp không được

phép nhập khẩu

3 Khái niệm nhập khẩu theo pháp

luật môi trường

Luật BVMT không đưa ra khái niệm

xuất khẩu, nhập khẩu Do đó, phải áp dụng

khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu trong các

lĩnh vực pháp luật khác

Khoản 2 Điều 28 Luật thương mại năm

2005 xác định: "Nhập khẩu hàng hoá là việc

hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam

từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm

trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực

hải quan riêng theo quy định của pháp luật"

Các quy định của Luật hải quan, Luật thuế

xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định: “Khu

vực hải quan riêng bao gồm khu chế xuất,

doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho

ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt,

khu thương mại-công nghiệp và khu vực kinh

tế khác được thành lập theo Quyết định của

Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán

trao đổi hàng hoá giữa khu này với bên

ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”.(5)

Khi các doanh nghiệp trong các khu vực

có quy chế kinh tế đặc biệt làm phát sinh

chất thải mà không có hệ thống xử lí chất

thải thì chất thải phải được đưa ra ngoài để

tái chế, tái sử dụng hoặc xử lí Dưới giác độ

của luật thương mại, hoạt động này là hoạt

động nhập khẩu chất thải vào Việt Nam

Theo quy định tại khoản 9 Điều 7 Luật

BVMT, hành vi nhập khẩu chất thải dưới

mọi hình thức đều bị cấm Tuy nhiên, đặc

thù là chất thải được sản sinh ra trên lãnh thổ

Việt Nam và nếu không vận chuyển ra ngoài

khu vực có quy chế kinh tế đặc biệt để tái chế hoặc xử lí thì các chất thải phát sinh sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Việt Nam, không bảo đảm phát triển bền vững

4 Các quy định liên quan đến xuất khẩu chất thải

Khoản 9 Điều 7 Luật BVMT và các quy định khác chỉ cấm nhập khẩu, quá cảnh chất thải Do đó có thể khẳng định rằng pháp luật Việt Nam cho phép xuất khẩu chất thải Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, pháp luật môi trường chưa có những quy định hướng dẫn về

hồ sơ, trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải Theo nguyên lí chung, nếu chưa có quy định hướng dẫn (và kể cả trong trường hợp đã có quy định hướng dẫn) các nhà xuất khẩu chất thải của Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Công ước Basel về vận chuyển chất thải xuyên biên giới và việc tiêu huỷ chúng Tuy nhiên, có những quy định của Công ước Basel uỷ quyền cho các quốc gia thành viên quy định cụ thể về những vấn đề nhất định Việc thiếu những quy định hướng dẫn về

hồ sơ, trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải gây ra sự lúng túng cho cơ quan quản lí nhà nước và doanh nghiệp khi doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu chất thải

5 Kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật BVMT

Trong quá trình hoàn thiện Luật BVMT, cần kết hợp một cách có hiệu quả ba mặt của

sự phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và BVMT Do đó phải bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường trong các quy định về BVMT trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Bên cạnh đó, cần nhìn nhận rõ, chính xác mối quan hệ giữa những quy định về BVMT

Trang 5

trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và vấn

đề bảo đảm quyền sở hữu của công dân,

quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Cũng cần thấy rằng xác định được giới hạn

của việc hạn chế quyền tài sản của công dân,

quyền tự do kinh doanh nhằm bảo đảm lợi

ích công cộng, lợi ích môi trường là vấn đề

lớn, không đơn giản và cần phải được nghiên

cứu một cách thấu đáo

Trên cơ sở định hướng và với những

phân tích trên đây, cần hoàn thiện các quy

định về BVMT trong hoạt động xuất khẩu,

nhập khẩu của Luật BVMT trong những vấn

đề cụ thể theo hướng sau:

Kiến nghị 1: Luật BVMT cần quy định

khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu theo cách

hiểu của pháp luật môi trường theo hướng:

Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chỉ bao

hàm hoạt động đưa hàng hoá vào lãnh thổ

Việt Nam từ nước ngoài hoặc đưa hàng hoá

ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

Kiến nghị 2: Thay thế yêu cầu đối với

phế liệu được phép nhập khẩu quy định tại

điểm a khoản 1 Điều 43 Luật BVMT về nội

dung: đã được phân loại, làm sạch… bằng

quy định: “Tuân thủ quy chuẩn kĩ thuật môi

trường đối với phế liệu nhập khẩu”

Kiến nghị 3: Đổi mới hoạt động ban

hành Danh mục phế liệu được phép nhập

khẩu theo hướng sử dụng tiêu chí những vấn

đề BVMT cần đáp ứng chứ không dựa vào

nguồn gốc phát sinh phế liệu và mở rộng loại

phế liệu đuợc phép nhập khẩu sau đó hướng

tới ban hành danh mục chất thải thông

thường để sử dụng nó như danh mục phế liệu

được phép nhập khẩu

Kiến nghị 4: Bỏ quy định cấm nhập khẩu

hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm thuỷ tinh, kim loại, nhựa được quy định tại Phụ lục I Nghị định của Chính phủ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lí mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài

Kiến nghị 5: Sửa đổi Luật BVMT theo

hướng quy định rõ quyền được xuất khẩu chất thải của các chủ thể khác nhau và uỷ quyền cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải Trên cơ

sở đó, Chính phủ ban hành quy định này

Kiến nghị 6: Sửa đổi điểm b khoản 2

Điều 42 Luật BVMT theo hướng: Cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải đã qua

sử dụng không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường để phá dỡ./

(1).Xem: PGS.TS Phạm Văn Lợi, “Những hạn chế, bất cập cơ bản của Luật bảo vệ môi trường năm 2005

và yêu cầu sửa đổi, bổ sung (phần I)”, Báo pháp luật

TP Hồ Chí Minh, số ra ngày 15/12/2010

(2).Nguồn: http://vietbao.vn/Kinh-te/Ngung-ngay-nha p-khau-tau-cu-de-do-lay-sat-vun/55124702/88/; http://vietbao.vn/Kinh-te/Nhap-khau-tau-bien-Xung-dot-giua-kinh-te-va-moi-truong/20616185/ 87/ (3) Thông tin do ông Nguyễn Tiên Nghi - Phó chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam cung cấp, nguồn: http://tuoitre vn/Kinh-te/164282/Cam-nhap-tau-cu-khong-co-lo-trinh -doanh-nghiep-gap-kho.html

(4).Nguồn: http://tuoitre.vn/Kinh-te/164282/Cam-nhap-tau-cu-khong-co-lo-trinh -doanh-nghiep-gap-kho.html (5).Xem: Khoản 1 Điều 4 Luật hải quan năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2006, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ngày đăng: 06/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w