Vì thế, nên có quy định về độ tuổi kết hôn theo hướng khoa học hơn, tránh tình trạng vận dụng một cách tùy tiện, ảnh hưởng đến tính thực thi của pháp luật về điều kiện kết hôn Thứ hai, t
Trang 1
ThS BÙI THỊ MỪNG * heo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000, “nam từ hai
mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở
lên mới được phép kết hôn”.(1)
Đây là quy định điều kiện về độ tuổi tối thiểu nam, nữ
được phép kết hôn So với các quy định
khác, đây là quy định không có nhiều biến
động, vì độ tuổi kết hôn này cũng được quy
định giống như tinh thần của Luật hôn nhân
và gia đình năm 1959 và 1986 Tuy nhiên,
thời gian gần đây, thực tiễn thi hành điều
kiện về độ tuổi kết hôn cũng nảy sinh nhiều
vấn đề gây tranh luận Có quan điểm cho
rằng quy định độ tuổi kết hôn này cần phải
xem xét lại theo hướng hạ thấp độ tuổi kết
hôn Quan điểm khác lại cho rằng quy định
độ tuổi kết hôn có sự chênh lệch giữa nam
và nữ là thể hiện sự bất bình đẳng giới
Chia sẻ với các nhà khoa học xung quanh
vấn đề này, chúng tôi bàn luận thêm về một
số vấn đề xung quanh quy định về độ tuổi
kết hôn, trên cơ sở đó kiến giải một số luận
cứ khoa học cho việc xem xét quy định về
độ tuổi kết hôn theo luật định
1 Cơ sở của việc quy định độ tuổi
kết hôn
Độ tuổi kết hôn được xây dựng dựa trên
các cơ sở khoa học và cơ sở xã hội Trước
hết, nói về cơ sở khoa học Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân để thực hiện chức năng
cơ bản của gia đình là sinh đẻ để duy trì nòi giống Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học đã chỉ ra rằng phải đạt đến độ tuổi này thì việc nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân và sinh con mới đảm bảo được sự
“ưu sinh” Bởi vì, đến độ tuổi này, nam và
nữ mới phát triển hoàn thiện về tâm-sinh lí Một số nghiên cứu trong lĩnh vực sức khoẻ sinh sản đã kết luận: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các vấn đề về sức khoẻ Những đứa con của các cặp hôn nhân xác lập quan hệ trước tuổi luật định hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, sức đề kháng yếu, tỉ lệ tử vong sau sinh cao Chính
vì lẽ đó, việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu dựa trên cơ sở khoa học sẽ góp phần duy trì nòi giống, đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ cho thế hệ đời sau, xây dựng gia đình hạnh phúc Tiếp cận vấn đề dưới góc độ so sánh luật, chúng tôi nhận thấy rằng quy định về
độ tuổi kết hôn có sự khác biệt đáng kể trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới Pháp luật của các nước phương Tây
T
* Giảng viên Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2quy định độ tuổi kết hôn thấp hơn so với
quy định về độ tuổi kết hôn theo pháp luật
Việt Nam Về mặt lí luận, có thể nhận thấy
rằng trong số các nước phương Tây, hầu
hết là các nước công nghiệp phát triển, do
vậy độ tuổi trưởng thành về tâm sinh lí của
nam và nữ sớm hơn so với ở Việt Nam Vì
thế, tuổi kết hôn đối với nam và nữ được
quy định thấp hơn và hầu hết luật của các
quốc gia phương Tây đều cho phép kết hôn
đối với người chưa đến tuổi thành niên
Ngoài lí do xuất phát từ cơ sở lí luận là căn
cứ vào sự phát triển tâm sinh lí của người
kết hôn như phân tích ở trên, còn có thể lí
giải vấn đề này ở phương diện liên quan
đến truyền thống lập pháp Các quốc gia
phương Tây cho phép những người chưa
thành niên có thể kết hôn vì theo pháp luật
phương Tây, hôn nhân được nhìn nhận như
hợp đồng dân sự, việc kết hôn thực chất là
việc xác lập hợp đồng Chính vì vậy, người
chưa thành niên kết hôn phải có sự đồng ý
của người giám hộ Điều này cho thấy,
pháp luật phương Tây đã thừa nhận vấn đề
đại diện trong việc kết hôn Đây là vấn đề
hoàn toàn khác với quan điểm của các nhà
lập pháp Việt Nam Nhà làm luật Việt Nam
không nhìn nhận hôn nhân như hợp đồng
dân sự Cho nên, sự tự nguyện kết hôn của
các bên kết hôn luôn được đề cao, việc thể
hiện ý chí trong việc xác lập quan hệ hôn
nhân luôn được xác định là quyền của chủ
thể kết hôn mà không thể thông qua tư
cách người đại diện
Từ việc tiếp cận dưới góc độ so sánh
luật, có thể nhận thấy rằng quy định về độ tuổi kết hôn chịu sự chi phối của nhiều yếu
tố như cơ sở lí luận, cơ sở xã hội và truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia Trong
đó, cơ sở xã hội là yếu tố chi phối cả tới truyền thống lập pháp Chính vì vậy, khi quy định về độ tuổi kết hôn trong pháp luật, nhà làm luật cần phải cân nhắc một cách thận trọng các yếu tố là căn cứ, tiền
đề của độ tuổi kết hôn, có như vậy mới đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
về độ tuổi kết hôn
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, điều kiện kinh tế phát triển đáng kể, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, vì thế độ tuổi dậy thì đối với trẻ em trai và trẻ em gái đã có những thay đổi nhất định Điều này dẫn đến xu hướng, chưa đến tuổi kết hôn luật định, các em đã
có quan hệ tình yêu vượt quá giới hạn Nhiều trường hợp, ở vào tình trạng phải làm bố, làm mẹ ngoài ý muốn, do đó, phải
“cưới chạy, cưới chui”, kéo theo rất nhiều
hệ lụy, tác động tiêu cực tới đời sống hôn nhân và gia đình Xuất phát từ vấn đề này, cũng có ý kiến cho rằng cần phải xem xét
hạ thấp độ tuổi kết hôn để phù hợp với thực tiễn.(2)
Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng việc xem xét hạ thấp độ tuổi kết hôn cần phải được đánh giá một cách toàn diện Thừa nhận rằng trong thời điểm hiện nay,
do điều kiện sống tốt hơn cho nên sự phát triển ở trẻ sớm hơn trước đây nhưng điều
đó cũng chỉ đúng với dân số sinh sống ở các đô thị Ở vùng nông thôn, chỉ số phát
Trang 3triển của trẻ so với thành phố còn có những
khoảng cách nhất định Trong khi đó, ở
nước ta hiện nay mặc dù tốc độ đô thị hoá
khá nhanh nhưng dân số sống ở vùng nông
thôn vẫn chiếm đa số Chính vì vậy, xét
dưới góc độ khoa học chúng tôi cho rằng
việc hạ thấp độ tuổi kết hôn cần được cân
nhắc một cách kĩ lưỡng Có thể sẽ hạ thấp
độ tuổi kết hôn nhưng chúng ta chưa thể hạ
thấp độ tuổi trong tương lai gần mà cần
phải có lộ trình phù hợp
Ngoài cơ sở khoa học như đã phân tích
ở trên, quy định điều kiện độ tuổi kết hôn
còn được xem xét dựa trên các khía cạnh
như phong tục, tập quán, đạo đức xã hội,
truyền thống tâm lí của người Việt Nam về
vấn đề kết hôn Do ảnh hưởng của tư tưởng
Nho giáo, với truyền thống coi trọng gia
đình, người Việt Nam hình thành thói quen
lấy vợ, lấy chồng sớm theo quan niệm “nữ
thập tam, nam thập lục” Từ đó, phong tục
này ảnh hưởng đáng kể đến đời sống hôn
nhân của người Việt Nam Cho đến nay, các
vùng nông thôn Việt Nam vẫn còn ít nhiều
bị ảnh hưởng bởi tâm lí này Vì vậy, nạn
“tảo hôn” vẫn tồn tại ở nhiều nơi, nhất là ở
nông thôn và miền núi.(3)
Chính vì thế, quy định độ tuổi như hiện nay còn là sự hài hoà
giữa cơ sở khoa học với cơ sở xã hội, đảm
bảo để điều kiện kết hôn về độ tuổi mang
tính thực thi Nếu chúng ta hạ thấp độ tuổi
kết hôn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc
khuyến khích nam nữ thanh niên ở vùng
nông thôn xác lập quan hệ hôn nhân sớm
hơn Trong khi đó, như chúng tôi đã phân
tích ở trên, ở vùng nông thôn do điều kiện kinh tế, xã hội vẫn còn khoảng cách so với thành phố cho nên sự phát triển của trẻ em thành phố và nông thôn còn chênh lệch đáng kể Vì thế, hạ thấp độ tuổi kết hôn chỉ phù hợp với số ít cư dân thành thị nếu xem xét dưới khía cạnh khoa học
Có ý kiến cho rằng để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới nên hạ thấp độ tuổi kết hôn của nam cho ngang bằng với nữ.(4)
Chúng tôi cho rằng luận điểm này không có
cơ sở vì nhìn nhận vấn đề bình đẳng giới còn phải dựa trên những khác biệt về giới tính giữa nam và nữ Từ sự phân tích trên khía cạnh khoa học, các chuyên gia y tế cũng chỉ
ra rằng sự phát triển và hoàn thiện tâm sinh
lí ở nam và nữ có sự khác nhau Do vậy, quy định độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ như hiện nay không phải là quy định thể hiện sự bất bình đẳng giới mà đã dựa trên những cơ
sở khoa học, căn cứ vào sự phát triển và hình thành tâm sinh lí của nam và nữ Bởi vậy, quy định về độ tuổi kết hôn chênh lệch giữa nam và nữ như hiện nay là cần thiết
2 Những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi điều kiện độ tuổi kết hôn
Độ tuổi kết hôn, theo luật hiện hành là
từ 18 tuổi trở lên đối với nữ và từ 20 tuổi trở lên đối với nam Theo đó, không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên,
nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn Vì vậy, nam bước sang 20 tuổi, nữ bước sang 18 tuổi mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.(5)
Vì lẽ đó, thực tiễn áp dụng quy định độ tuổi kết hôn
Trang 4nảy sinh một số vấn đề sau:
Thứ nhất, với cách quy định độ tuổi kết
hôn như hiện nay dễ nảy sinh việc áp dụng
tuỳ tiện quy định về độ tuổi kết hôn Thực
tế cho thấy chỉ cần bước sang tuổi 18 đối
với nữ và 20 tuổi đối với nam là nữ nam
được phép kết hôn Điều đó dễ dàng tạo ra
kẽ hở nhất định để các bên kết hôn vi phạm
điều kiện kết hôn về độ tuổi Vì thế, nên có
quy định về độ tuổi kết hôn theo hướng
khoa học hơn, tránh tình trạng vận dụng
một cách tùy tiện, ảnh hưởng đến tính thực
thi của pháp luật về điều kiện kết hôn
Thứ hai, trong mối liên hệ với quy định
của pháp luật dân sự, chúng ta dễ dàng nhận
thấy điểm bất cập liên quan đến độ tuổi kết
hôn hiện nay Pháp luật dân sự quy định
người có khả năng nhận thức và điều chỉnh
hành vi của mình phải là người đủ 18 tuổi.(6)
Tuy nhiên, độ tuổi kết hôn tối thiểu, theo
pháp luật hiện hành đối với nữ không phải
là đủ 18 tuổi Điều này tạo 2 nội dung đáng
bàn trong khía cạnh áp dụng pháp luật:
- Trước tiên, độ tuổi kết hôn không chỉ
là quy định điều kiện nhằm đảm bảo tốt
việc sinh con đẻ cái nhằm duy trì nòi giống
của các cặp hôn nhân mà nó còn là nhân tố,
tiền đề để gây dựng các cuộc hôn nhân hạnh
phúc Bởi vì, trong mối liên hệ với quy định
về sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết
hôn, chúng ta thấy người kết hôn còn phải
thực hiện việc bày tỏ ý chí cá nhân trong
việc xác lập quan hệ hôn nhân Quy định về
độ tuổi kết hôn đối với nữ như hiện nay dẫn
đến thực trạng một người chưa có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ vẫn có quyền bày tỏ
ý chí khi xác lập quan hệ hôn nhân Pháp luật Việt Nam cũng không cho phép bày tỏ
ý chí kết hôn thông qua người đại diện Do vậy, người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà bày tỏ ý chí trong việc kết hôn là không phù hợp và tương thích với các quy định của pháp luật liên quan đến sự tự nguyện của người kết hôn
- Mặt khác, trong mối liên hệ với pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự, quy định về độ tuổi kết hôn đối với nữ hiện nay
đã tạo ra sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật Bởi lẽ, bước sang tuổi 18, theo Luật hôn nhân và gia đình, nữ được phép kết hôn, trong khi đó, theo quy định của pháp luật dân sự, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ Liên quan đến tư cách khởi kiện của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định, người khởi kiện và tham gia tố tụng phải là người từ đủ 18 tuổi.(7)
Tuy nhiên, trường hợp người vợ chưa đủ 18 tuổi
mà vợ chồng li hôn thì người vợ vẫn được coi là người có năng lực hành vi dân sự về
li hôn.(8) Bởi lẽ đó, việc cho phép người vợ tham gia vụ án li hôn với tư cách là đương
sự khi chưa đủ 18 tuổi tạo ra sự thiếu đồng
bộ trong hệ thống pháp luật
Với hai lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc xem xét quy định độ tuổi kết hôn cho phù hợp và đồng bộ là đòi hỏi tất yếu
để đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về điều kiện kết hôn
Thứ ba, thực tiễn thi hành pháp luật hôn
Trang 5nhân và gia đình hiện nay cũng chỉ ra rằng
việc tảo hôn vẫn diễn ra ở nhiều nơi Theo
Luật hôn nhân và gia đình hiện hành thì tảo
hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng khi
một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết
hôn theo quy định của pháp luật Việc tảo
hôn thật sự nguy hại cho đời sống hôn nhân
và gia đình nên cần phải có các biện pháp
hạn chế tình trạng tảo hôn Tuy nhiên, biện
pháp về pháp luật hiện nay mới chỉ tập
trung vào trường hợp kết hôn trước tuổi luật
định Đối với trường hợp này, khi có yêu
cầu, toà án sẽ xem xét và có thể sử dụng chế
tài xử huỷ việc kết hôn trái pháp luật Trong
khi đó, những trường hợp nam nữ chung
sống như vợ chồng trước tuổi luật định,
không đăng kí kết hôn mới thực sự là “tảng
băng chìm” mà hiện nay chúng ta chưa có
các biện pháp can thiệp thoả đáng Nhà
nước không công nhận những cuộc hôn
nhân này nhưng những đứa trẻ vẫn ra đời,
các gia đình như vậy vẫn tồn tại trong đời
sống xã hội Vậy “hệ lụy” từ những cuộc
“hôn nhân” này được giải quyết như thế
nào? Đây là vấn đề đòi hỏi phải có giải
pháp xử lí thích hợp
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật về điều kiện độ tuổi kết hôn và nâng
cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều
kiện kết hôn
Quy định về điều kiện kết hôn có ý
nghĩa sâu sắc đối với đời sống hôn nhân và
gia đình Bởi lẽ đó, việc hoàn thiện pháp
luật về điều kiện kết hôn và nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật về điều kiện kết hôn
luôn đòi hỏi phải có sự quan tâm thoả đáng Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề lí luận và thực tiễn của quy định về điều kiện kết hôn, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn
Một là sửa khoản 1 Điều 9 Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 theo hướng quy định độ tuổi kết hôn đối với nữ
là từ đủ mười tám tuổi trở lên, với nam là từ
đủ 20 tuổi trở lên
Như đã phân tích ở trên, việc quy định
độ tuổi kết hôn theo luật hiện hành là không đồng bộ với quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, mặt khác tạo ra sự vận dụng tuỳ tiện pháp luật về độ tuổi kết hôn tối thiểu
Có nhiều ý kiến cho rằng nên hạ thấp độ tuổi kết hôn nhưng trong thời điểm hiện nay, thiết nghĩ, ý kiến này chưa thực sự thuyết phục Như chúng tôi đã phân tích ở trên, sự phát triển sớm ở trẻ mới chỉ tập trung trong một bộ phận nhỏ mà chưa có tính phổ biến ở bình diện rộng Chính vì vậy, việc hạ thấp độ tuổi kết hôn sẽ không phù hợp Chúng tôi cũng không tán đồng với việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu giữa nam và nữ là như nhau là bởi lẽ, hầu hết pháp luật của các quốc gia hiện nay đều xuất phát từ những lí giải về sự phát triển
về tâm sinh lí của hai phái nam nữ là khác nhau để quy định về độ tuổi kết hôn Chính
vì vậy, việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu giữa nam và nữ đều có sự chênh lệch đáng kể Vấn đề này cũng được soi chiếu
Trang 6qua các quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam qua các thời kì Bởi
vậy, xét trên khía cạnh khoa học hay thực
tiễn, việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu
giữa nam và nữ có sự chênh lệch là cần
thiết và phù hợp
Hai là cần phải có những điều tra xã hội
học cụ thể để minh chứng cho những luận
cứ về việc chuẩn bị lộ trình phù hợp cho
việc hạ thấp độ tuổi kết hôn Chúng tôi
cũng nhất trí với khía cạnh về việc có thể
xem xét hạ thấp độ tuổi kết hôn tối thiểu
trong tương lai Tuy nhiên, điều này phải
được xem xét một cách thận trọng Phải chú
trọng đến các kết luận đánh giá mang tính
khách quan và toàn diện của điều tra xã hội
học về độ tuổi kết hôn để quyết định việc hạ
thấp tuổi kết hôn tối thiểu trong tương lai
Có như vậy mới có thể đánh giá được tác
động của các quy phạm tới đời sống hôn
nhân và gia đình
Ba là đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của
pháp luật về điều kiện kết hôn, việc hoàn
thiện pháp luật về điều kiện kết hôn là nội
dung quan trọng Tuy nhiên, để các quy
phạm này được thực thi, cũng đòi hỏi phải
có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng
bộ Trong mối liên hệ với việc thực thi
pháp luật về điều kiện kết hôn, chúng tôi
cho rằng cần phải có những giải pháp phù
hợp nhằm hoàn thiện pháp luật ở một số
khía cạnh sau:
Thứ nhất, cần tiếp tục thực hiện việc sửa
đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về
hộ tịch để quản lí tốt hơn công tác hộ tịch,
tạo tiền đề quan trọng cho việc thi hành pháp luật về độ tuổi tối thiểu khi kết hôn
Thứ hai, cần xây dựng các chế tài hành
chính, hình sự thật nghiêm khắc nhằm đảm bảo tốt mục đích răn đe, phòng ngừa đối với các trường hợp vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn
Thứ ba, cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc
tuyên truyền phổ biến pháp luật đến mỗi người dân Việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật hôn nhân và gia đình phải đi cùng với việc nâng cao kiến thức mọi mặt cho người dân nhất là đối với nam nữ thanh niên, loại bỏ những hủ tục trong đời sống hôn nhân và gia đình, từ đó định hướng cho nam nữ thanh niên cách ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, tiến tới xoá bỏ tình trạng tảo hôn, góp phần xây dựng những gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc và bền vững./
(1).Xem: Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
(2) Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com (3).Xem: Chính phủ Việt Nam, Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước CEDAW, báo cáo 3 và 4 (4) Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com (5) Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
(6).Xem: Điều 18, Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2005 (7).Xem: Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (8).Xem: Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004