1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam " pptx

9 811 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 211,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nếu quy định như tiêu đề của khoản 2 Điều 51 BLTTHS “người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền…” nếu xét về ngữ nghĩa, lại phải hiểu là trong trường hợp vụ án

Trang 1

Ts Vò gia l©m *

1 Ở Việt Nam hiện nay, về lí luận,

người bị hại trong tố tụng hình sự là cá nhân

hay có thể vừa là cá nhân vừa là cơ quan, tổ

chức vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận

giữa các nhà nghiên cứu pháp luật và những

người áp dụng pháp luật Trong giới nghiên

cứu luật học vẫn còn tồn tại hai quan điểm

khác nhau về người bị hại:

Quan điểm thứ nhất, người bị hại chỉ có

thể là cá nhân, tức chỉ có thể là con người cụ

thể, giống như khái niệm chủ thể của tội

phạm trong luật hình sự hay khái niệm bị

can, bị cáo trong luật tố tụng hình sự Ví dụ:

quan điểm khoa học của Trường Đại học

Luật Hà Nội cho rằng: “Luật tố tụng hình sự

nước ta chỉ coi người bị hại là công dân,

pháp nhân hay tổ chức xã hội không được

coi là người bị hại Thể chất, tinh thần, tài

sản của họ phải là đối tượng của tội phạm

Thiệt hại mà người bị hại phải chịu phải là

thiệt hại thực tế, nếu thể chất, tinh thần, tài

sản của một người chưa bị thiệt hại do tội

phạm gây ra thì người đó không được coi là

người bị hại”.(1)

Quan điểm này dựa trên quy định của pháp luật thực định, mang tính

truyền thống, là quan điểm được thừa nhận

rộng rãi từ trước tới nay

Quan điểm thứ hai, ngoài cá nhân, người

bị hại còn có thể là pháp nhân, cơ quan, tổ

chức “Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ

chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản

do tội phạm gây ra”.(2)

Tuy nhiên, những người

có quan điểm như vậy hiện nay không nhiều Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất và cho rằng pháp luật hiện hành xác định người bị hại chỉ có thể là cá nhân là hoàn toàn hợp lí, vì các lí do sau:

Thứ nhất, từ “người” mà nhà làm luật sử

dụng ở đây dùng để chỉ con người cụ thể với

tư cách là một thực thể tự nhiên và một thực thể xã hội Thiệt hại mà tội phạm gây ra cho

họ có thể là thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, trong đó thể chất là yếu tố không thể tách rời cá nhân Vì vậy, không thể đánh đồng “người” với tư cách này với các đối tượng khác không được gọi là “người”, đó là các cơ quan, tổ chức

Thứ hai, thiệt hại mà tội phạm gây ra cho

cơ quan, tổ chức chỉ có thể là thiệt hại về vật chất, tinh thần vì thể chất là cái vốn gắn liền với con người cụ thể Việc thay đổi tư cách tham gia tố tụng của họ từ tư cách nguyên đơn dân sự có yêu cầu bồi thường thiệt hại sang tư cách người bị hại liệu có chính xác khi chúng ta sử dụng chữ “người” để chỉ các đối tượng khác không phải là cá nhân, “con người” theo đúng nghĩa của từ đó Nếu làm như vậy liệu có giúp đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các cơ quan, tổ chức này hay không? Theo chúng tôi, trong trường hợp bị thiệt hại

* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

do tội phạm gây ra, việc nguyên đơn dân sự

hoặc người bị hại có bảo vệ được quyền và

lợi ích hợp pháp của mình hay không, phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: họ có

được tạo điều kiện để thực hiện các quyền tố

tụng của mình hay không, việc áp dụng pháp

luật để giải quyết những vấn đề liên quan

đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ có

đúng đắn, khách quan không, phán quyết của

toà án liên quan đến quyền lợi của họ có

được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời

không…? chứ không phải chỉ phụ thuộc vào

tư cách tham gia tố tụng của họ Vì vậy, việc

cho rằng nên coi các cơ quan, tổ chức bị

thiệt hại trực tiếp về tài sản hoặc tinh thần là

người bị hại trong vụ án hình sự thực sự

không chính xác và cần thiết

Thứ ba, trên phương diện khái niệm

pháp lí tố tụng thì hiện nay, “người bị hại” là

khái niệm đã được ghi nhận tương đối thống

nhất trong nhiều văn bản khác nhau Cụ thể,

trong Từ điển tiếng Việt, người bị hại được

xác định là: “Người bị thiệt hại về thể chất,

vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây

ra”;(3)

trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật

học pháp lí, người bị hại được xác định là

“Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần

hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị

hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội

làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc

về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.(4)

Thứ tư, trên phương diện pháp luật thực

định, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) của

nước ta quy định về khái niệm người bị hại

tại khoản 1 Điều 51 như sau: “Người bị hại

là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần,

tài sản do hành vi phạm tội gây ra”

Như vậy, cả trên phương diện pháp lí tố

tụng và phương diện luật thực định hiện nay,

“người bị hại” được hiểu thống nhất là khái niệm dùng để chỉ con người cụ thể, cá nhân

bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không thể là pháp nhân hay cơ quan, tổ chức

2 Quyền của người bị hại, người đại

diện hợp pháp của họ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLTTHS đã tương đối cụ thể và phù hợp với mục đích tham gia tố tụng của họ Tuy nhiên, vẫn có vấn đề cần xác định rõ là trong trường hợp nào thì có người đại diện hợp pháp của người bị hại tham gia

tố tụng Người đại diện hợp pháp của người

bị hại trong tố tụng hình sự là đại diện theo pháp luật, người này xuất hiện trong ba trường hợp cụ thể khi: người bị hại là người chưa thành niên; người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; người

bị hại trong vụ án chết Trong các trường hợp này, việc tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp của người bị hại là bắt buộc, họ có các quyền giống quyền của người bị hại, các quyền này được thực hiện độc lập, phù hợp mục đích tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Tuy nhiên, nếu quy định như tiêu đề của khoản 2 Điều 51 BLTTHS “người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền…” nếu xét về ngữ nghĩa, lại phải hiểu là trong trường hợp vụ án có sự tham gia của người đại diện hợp pháp của người bị hại thì chỉ một trong hai người (người này hoặc người kia chứ không phải cả hai) có các quyền quy định tại khoản 2 điều này Như vậy là chưa hợp lí,

vì mặc dù việc tham gia tố tụng của những người này đều có chung mục đích bảo vệ quyền lợi của người bị hại nhưng các tư cách

Trang 3

tố tụng đó lại có tính độc lập tương đối Do

đối tượng được bảo vệ có những hạn chế nhất

định về khả năng độc lập trong việc thực hiện

các hành vi tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình nên cần phải có người đại

diện hợp pháp Tuy nhiên, cho dù có người

đại diện hợp pháp thì người bị hại vẫn có

quyền độc lập của mình với tư cách tố tụng

đã được pháp luật xác định Vì vậy, cần thay

từ “hoặc” bằng cách thêm từ “và” hay dấu

“phẩy” vào sau cụm từ “người bị hại” trong

quy định tại tiêu đề của khoản 2 Điều 51

BLTTHS mới chính xác

BLTTHS quy định trường hợp vụ án

khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc

người đại diện hợp pháp của người bị hại là

người chưa thành niên hoặc người có nhược

điểm về tâm thần, thể chất, người bị hại hoặc

người đại diện hợp pháp của họ có quyền

buộc tội bị cáo tại phiên toà, quy định này là

hợp lí, giúp người bị hại và người đại diện

hợp pháp của họ trực tiếp bảo vệ quan điểm

buộc tội nêu trong yêu cầu khởi tố của mình

Vì vậy, tại phiên toà xét xử, họ cần phải có

mặt và vị trí của họ nên được đặt tương

đương với vị trí của kiểm sát viên thực hành

quyền công tố tại phiên toà, vì quyền buộc

tội bị cáo để bảo vệ quan điểm trong yêu cầu

khởi tố của mình cũng giống như quyền của

kiểm sát viên luận tội để bảo vệ cáo trạng

vậy Do đó, cần quy định sự có mặt của họ

tại phiên toà là bắt buộc và toà án phải hoãn

phiên toà nếu người bị hại, đại diện hợp

pháp của người này vắng mặt có lí do chính

đáng Tuy nhiên, toà án có thể xét xử nếu họ

vắng mặt không có lí do chính đáng hoặc họ

yêu cầu xét xử vắng mặt Nên quy định tại

phiên toà xét xử, người bị hại hoặc người đại

diện hợp pháp của họ có quyền buộc tội bị cáo ngay sau luận tội của kiểm sát viên Do

đó, để đảm bảo quyền lợi của người bị hại, cần bổ sung khoản 2 Điều 191 BLTTHS theo hướng đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu, nếu người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có lí do chính đáng thì toà án phải hoãn phiên toà Toà án chỉ xét xử vắng mặt của họ trong trường hợp họ cố tình không đến theo giấy triệu tập hoặc đã yêu

cầu toà án xét xử vắng mặt

Thực tế hiện nay có trường hợp phạm tội

ít nghiêm trọng, gây hậu quả không lớn khi xảy ra thường ít khi khởi tố, điều tra vì nhiều

vụ người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không muốn giải quyết công khai vụ việc này bằng thủ tục tố tụng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc vì giữa người bị hại và người gây thiệt hại có mối quan hệ đặc biệt như quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ công tác, hoặc tốn kém thời gian và chi phí hay trong nhiều trường hợp ngưòi bị hại chỉ quan tâm đến việc bồi

thường về dân sự v.v Ví dụ: các hành vi cấu

thành tội phạm quy định tại khoản 1 các điều như Điều 107 Bộ luật hình sự (BLHS) tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ; Điều 110 BLHS tội hành hạ người khác; Điều 142 BLHS tội sử dụng trái phép tài sản; Điều 145 BLHS tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản; Điều 202 BLHS tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong trường hợp không gây thiệt hại đến tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ người khác Đối với các trường hợp này, cũng nên quy định

Trang 4

chỉ khởi tố vụ án khi người bị hại hoặc đại

diện hợp pháp của người này yêu cầu Vì

những lí do trên, chúng tôi kiến nghị, sửa

đổi, bổ sung khoản 1 Điều 105 BLTTHS theo

hướng mở rộng phạm vi các tội phạm khởi

tố theo yêu cầu của người bị hại, nhất là đối

với một số tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm

phạm sức khoẻ của công dân đã nêu trên…

Về phạm vi quyền kháng cáo bản án,

quyết định sơ thẩm và hiệu lực của kháng cáo

của người bị hại, người đại diện hợp pháp của

họ, hiện nay còn có sự chưa thống nhất trong

các quy định của BLTTHS Khoản 4 Điều 51

BLTTHS quy định: “Người bị hại, người đại

diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo

bản án, quyết định của toà án về phần bồi

thường cũng như về hình phạt đối với bị

cáo” Quy định này được hiểu là người bị hại,

người đại diện hợp pháp của họ chỉ được

kháng cáo phần bồi thường về dân sự và về

hình phạt mà toà án đã áp dụng bao gồm loại

hình phạt, mức hình phạt mà không được

kháng cáo yêu cầu đổi tội danh khác hoặc

kháng cáo về việc toà án cho bị cáo hưởng án

treo, áp dụng biện pháp tư pháp v.v Tuy

nhiên, nếu theo quy định tại đoạn 1 Điều 231

BLTTHS “… người bị hại, người đại diện

hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án,

quyết định của toà án” thì phải hiểu là người

bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có

quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định

sơ thẩm Rõ ràng, Điều 231 đã mở rộng phạm

vi kháng cáo của người bị hại, người đại diện

hợp pháp của họ so với quy định tại khoản 2

Điều 51 nói trên Như vậy, đã có mâu thuẫn

giữa hai điều luật này khi quy định về cùng

vấn đề cụ thể Trong khi đó, Điều 249

BLTTHS quy định quyền sửa bản án của toà

án cấp phúc thẩm không chỉ trong phạm vi hình phạt và bồi thường mà còn mở rộng ra các vấn đề khác ngoài phạm vi mà người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ được kháng cáo như tội danh, khung hình phạt, việc áp dụng án treo… mặc dù xét trên phương diện bảo đảm quyền lợi của người bị hại là phù hợp với quy định của Điều 231 BLTTHS nhưng lại mâu thuẫn với quy định tại Điều 51 Bộ luật này Do không thống nhất

về căn cứ pháp lí như vậy nên điều đó nếu đối chiếu quy định tại Điều 51 Bộ luật này thì quy định tại Điều 249 nói trên làm ảnh hưởng đến sự ổn định của các phần của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật vì pháp luật không cho kháng cáo

Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần sửa đổi,

bổ sung quy định tại Điều 51 BLTTHS về phạm vi quyền kháng cáo của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ (nếu có) đối với mọi vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại cho thống nhất với các quy định khác có liên quan như quy định tại Điều 231 BLTTHS về những người

có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, phù hợp với quy định về quyền sửa, huỷ bản án sơ thẩm của toà án cấp phúc thẩm không chỉ tại Điều 249 BLTTHS mà còn phù hợp với quy định về quyền huỷ bản án sơ thẩm quy định tại Điều 250, 251 Bộ luật này Có thể sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 51 BLTTHS theo hướng quy định cụ thể cho người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định của toà

án nếu xét thấy quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa chính xác, ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người

mà mình đại diện

Trang 5

3 Về nghĩa vụ của người bị hại, khoản 4

Điều 51 BLTTHS quy định như sau: Người

bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ

quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; nếu từ

chối khai báo mà không có lí do chính đáng

thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo

Điều 308 BLHS

Chúng tôi cho rằng BLTTHS không quy

định người bị hại có nghĩa vụ khai báo

nhưng lại quy định người bị hại có thể phải

chịu trách nhiệm hình sự về việc từ chối khai

báo không có lí do chính đáng là chưa hợp lí,

vì những lí do sau:

Thứ nhất, theo lẽ thông thường thì chỉ

khi một người đã được xác định phải làm (có

nghĩa vụ làm) việc gì đó mà không làm hoặc

làm không đúng theo quy định, dẫn đến hậu

quả xấu thì họ mới phải chịu chế tài vì đã vi

phạm nghĩa vụ Chẳng hạn, Điều 55 BLTTHS

quy định người làm chứng có nghĩa vụ khai

báo trung thực những gì mà mình biết về vụ

án và trước khi lấy lời khai trong giai đoạn

điều tra hoặc khi xét hỏi người này tại phiên

toà, các cơ quan có thẩm quyền đã giải thích

cho họ biết về nghĩa vụ này Vì vậy, nếu người

làm chứng cố tình khai báo gian dối, họ mới

phải chịu trách nhiệm hình sự Khoản 3 Điều

50 BLTTHS quy định: “Bị cáo phải có mặt

theo giấy triệu tập của toà án; trong trường

hợp vắng mặt không có lí do chính đáng thì

có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã”

Theo quy định này, vì bị cáo có nghĩa vụ có

mặt khi được toà án triệu tập nên bị cáo vắng

mặt không có lí do chính đáng mới phải chịu

trách nhiệm về việc không thực hiện nghĩa vụ

này Tuy nhiên, đối với người bị hại thì lại

chưa có quy định về nghĩa vụ phải khai báo

mà việc khai báo được quy định là quyền của

họ Nếu chúng ta cho rằng việc khoản 4 Điều

51 quy định người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án đồng nghĩa với việc họ có nghĩa vụ khai báo thì rõ ràng là không có cơ sở Bởi vì, việc phải có mặt theo giấy triệu tập không thể đồng thời bao hàm nghĩa vụ phải khai báo Cho nên, nếu buộc người bị hại phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi từ chối khai báo khi không có quy định nghĩa vụ khai báo của họ là không có căn cứ pháp lí

Thứ hai, cũng theo lẽ tự nhiên, người bị

hại là người bị thiệt hại bởi hành vi phạm tội gây ra nên họ luôn mong muốn người gây thiệt hại phải bị trừng trị, thiệt hại của họ phải nhanh chóng được khắc phục và bồi thường nên họ thường tích cực cộng tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khai báo Tuy nhiên, thực tế cho thấy có trường hợp người

bị hại lại thiếu hợp tác trong việc khai báo, thậm chí tìm cách trốn tránh để không phải đến cơ quan điều tra hoặc đến phiên toà để khai báo và việc này cũng ít nhiều gây ra những khó khăn cho việc giải quyết vụ án Mặc dù vậy, cũng khó có thể bắt họ phải chịu hình thức trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc (trách nhiệm hình sự) như quy định hiện nay được Bởi vì, xét cho cùng nếu họ từ chối khai báo trong bất cứ trường hợp nào cũng chính là việc họ đã mất đi cơ hội để có thể trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình hoặc người mà mình đại diện Ngay cả bị cáo là người đã thực hiện hành vi phạm tội bị đưa ra toà để xét xử, luật cũng không quy định trách nhiệm phải khai báo và khai báo trung thực mà chỉ khuyến khích, động viên bị cáo khai báo thành khẩn bằng việc quy định một tình tiết giảm nhẹ tại

Trang 6

điểm d khoản 1 Điều 46 BLHS để áp dụng

cho trường hợp này.(5)

Nếu bị cáo không chịu khai báo hoặc khai báo gian dối thì hậu quả

của nó cũng khiến cho việc giải quyết vụ án

gặp khó khăn giống như trường hợp người bị

hại từ chối việc khai báo vậy Tuy nhiên,

trong trường hợp này BLTTHS cũng không

quy định cho bị cáo phải chịu bất kì hình thức

trách nhiệm pháp lí nào

Thứ ba, lí do khiến người bị hại, người

đại diện hợp pháp của người bị hại từ chối

khai báo hoặc không có mặt khi được triệu

tập có thể nằm ngoài ý muốn chủ quan của

họ Chẳng hạn, có vụ án bị can, bị cáo nhận

thức được hậu quả pháp lí xấu mà mình có

thể phải chịu nếu bị phát hiện, xử lí nên đã đe

doạ, cưỡng ép người bị hại không được tố giác

tội phạm, không khai báo với cơ quan tiến

hành tố tụng Thậm chí, có trường hợp người

bị hại đã làm đơn yêu cầu khởi tố nhưng sau

đó do bị đe doạ, hành hung… đã phải đến cơ

quan tiến hành tố tụng để rút yêu cầu khởi tố

của mình Có trường hợp sau khi khai báo các

tình tiết giúp chứng minh hành vi phạm tội của

bị can, do bị đe doạ nhiều lần và vì quá lo sợ

cho tính mạng của mình hoặc của người thân

nên người bị hại đã thay đổi lời khai theo

hướng có lợi cho người phạm tội… Trong tất

cả các tình huống nêu trên, việc người bị hại,

người đại diện hợp pháp của người bị hại từ

chối, trốn tránh khai báo hoặc không có mặt

khi được triệu tập có thể được xem là sự lựa

chọn bất đắc dĩ Trong trường hợp này có thể

coi như họ đã phải hi sinh lợi ích trước mắt có

thể là không lớn để bảo vệ lợi ích mà họ cho

là lớn và là lợi ích lâu dài hơn

Thứ tư, khảo sát thực tiễn thi hành BLHS

trong nhiều năm qua, chúng tôi chưa thấy

một ghi nhận nào về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị hại về hành

vi từ chối khai báo Mặt khác, đối với hành

vi này, việc hiểu như thế nào là từ chối khai báo có lí do chính đáng (không bị xử lí hình sự) với từ chối khai báo không có lí do chính đáng (bị xử lí hình sự) cho đến nay cũng chưa có văn bản nào giải thích chính thức cả Chính vì vậy, quy định này càng trở nên không có tính khả thi

Từ những lí do trên, chúng tôi kiến nghị

bỏ quy định tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS đoạn

có nội dung là “… nếu từ chối khai báo mà không có lí do chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS”

Mặt khác, khi nghiên cứu về địa vị pháp

lí của người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ, chúng tôi thấy BLTTHS hiện hành quy định quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại nhưng không quy định nghĩa vụ cho họ cũng chưa hợp lí Hiến pháp quy định quyền của công dân bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ của công dân nên về nguyên tắc lập pháp, nếu một người được quy định có quyền thì họ đồng thời cũng có nghĩa vụ tương ứng Do đó, chúng tôi đề nghị quy định bổ sung nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp của người bị hại để có cơ

sở pháp lí buộc họ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Nên quy định sự có mặt của họ tại phiên toà là quyền và nghĩa vụ, nếu họ vắng mặt có lí do chính đáng thì phải hoãn phiên toà, nếu đã được triệu tập hợp lệ

mà vắng mặt không có lí do chính đáng thì toà án vẫn tiến hành xét xử

4 Nghiên cứu quy định về quyền hạn của toà án cấp phúc thẩm khi xét xử lại vụ án mà

Trang 7

bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị

kháng cáo, kháng nghị, chúng tôi thấy rằng

quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm theo

hướng không có lợi cho bị cáo theo kháng

cáo của người bị hại tại BLTTHS là chưa

đảm bảo tối đa hiệu lực kháng cáo của người

bị hại, người đại diện hợp pháp của họ (nếu

có) đối với bản án, quyết định của toà án cấp

sơ thẩm Đoạn 1 Điều 231 BLTTHS ghi rõ:

“… người bị hại, người đại diện hợp pháp

của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết

định của toà án” Theo đó, trong vụ án có sự

tham gia của người đại diện hợp pháp của

người bị hại, cả người bị hại và người đại

diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng

cáo bản án, quyết định sơ thẩm với phạm vi

kháng cáo hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc

vào ý chí của nhau Bất kì ai kháng cáo thì

kháng cáo đó đều làm bản án, quyết định sơ

thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và phải được

xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Đoạn 1 của

điều luật này cũng thống nhất với quy định tại

điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS, quy định

tại điểm này cũng không hạn chế quyền

kháng cáo của người đại diện hợp pháp của

người bị hại chỉ trong phạm vi quyết định bồi

thường thiệt hại của bản án Do đó, khi có

kháng cáo của người đại diện hợp pháp của

người bị hại, mọi yêu cầu nêu trong kháng

cáo đối với bản án, quyết định đều phải được

toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết tại

phiên toà Tuy nhiên, theo quy định tại khoản

3 Điều 249 BLTTHS, cơ sở để toà án cấp

phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng

tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về

tội nặng hơn chỉ là khi kháng nghị của viện

kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại có

yêu cầu Điều đó cũng đồng nghĩa với việc

nếu có kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần hình sự thì dù kháng cáo đó có căn cứ, toà án cấp phúc thẩm cũng không chấp nhận để sửa bản án sơ thẩm theo hướng bất lợi cho bị cáo (có lợi cho người bị hại) Như vậy, hiệu lực của kháng cáo quy định cho những người này tại BLTTHS chưa được đảm bảo thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng không đảm bảo tối đa quyền lợi của người bị hại trong vụ án Đồng thời, biến quy định về quyền kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại trở thành hình thức Đây là một trong các hạn chế về lập pháp cần phải được khắc phục Theo chúng tôi, để đảm bảo

sự thống nhất giữa các điều 51, 59, 231 và khoản 3 Điều 249 BLTTHS, đảm bảo hiệu lực kháng cáo của người tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 249 Bộ luật này cần phải bổ sung một lí do (cơ sở) nữa để xem xét, sửa án

sơ thẩm theo hướng tăng nặng cả về phần hình sự và dân sự, đó là: khi có kháng cáo có căn cứ của người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của người bị hại

Phạm vi quyền kháng cáo của người bị hại, đại diện hợp pháp của họ không chỉ giới hạn trong việc yêu cầu tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại mà còn có thể

có yêu cầu toà án cấp phúc thẩm kết tội bị cáo được toà án cấp sơ thẩm tuyên vô tội; áp dụng hình phạt đối với bị cáo được toà án cấp sơ thẩm miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt; yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị cáo được hưởng án treo và không cho bị cáo hưởng án treo hoặc không yêu cầu tăng hình phạt tù nhưng lại yêu cầu không cho bị cáo hưởng án treo như bản án sơ thẩm đã tuyên

Trang 8

v.v Trong những trường hợp này, nếu yêu

cầu của họ có căn cứ thì theo quy định tại

khoản 3 Điều 249 BLTTHS hiện hành, toà án

cấp phúc thẩm cũng không có cơ sở pháp lí

để sửa án sơ thẩm Như vậy, sẽ không đạt

được mục đích của xét xử phúc thẩm là kịp

thời sửa chữa những sai lầm, thiếu sót của toà

án cấp sơ thẩm Đồng thời, không đảm bảo

các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham

gia tố tụng nói chung và người bị hại nói

riêng Hiện nay, về giới hạn của việc kháng

cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm của

người bị hại, người đại diện hợp pháp của

người bị hại, đã được Hội đồng thẩm phán

Toà án nhân dân tối cao có hướng dẫn như

sau: “ Người bị hại, người đại diện hợp

pháp (đại diện theo pháp luật) của người bị

hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc

trong trường hợp người bị hại là người chưa

thành niên, người có nhược điểm về tâm thần

hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ

bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng

có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu

hơn tình trạng của bị cáo… ”.(6)

Để hiện thực hoá quyền kháng cáo này, cần sửa đổi, bổ

sung quy định của khoản 3 Điều 249 BLTTHS

theo hướng quy định quyền sửa bản án sơ

thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo cả

khi có kháng cáo của người đại diện hợp pháp

của họ Có như vậy, việc nhận thức mới được

thống nhất và nhờ đó có thể đảm bảo tối đa

quyền kháng cáo của người bị hại hoặc người

đại diện hợp pháp (nếu có) của họ

5 Dựa vào những phân tích, lí giải và kết

luận nêu trên chúng tôi đề xuất hoàn thiện

một số quy định của BLTTHS về người bị hại

nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp

pháp của họ trong tố tụng hình sự như sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều

51 về các nội dung cơ bản sau:

- Bổ sung tiêu chí xác định tư cách người

bị hại theo hướng giúp phân biệt rõ tư cách người bị hại với tư cách nguyên đơn dân sự

để tránh việc hiểu và thực hiện không thống nhất và chính xác trong thực tiễn Các tiêu chí đó là: chỉ cá nhân bị thiệt hại do tội phạm gây ra mới tham gia tố tụng với tư cách người bị hại để phân biệt với các đối tượng khác không phải là cá nhân bị tội phạm gây

ra thiệt hại; thiệt hại mà tội phạm gây ra cho

cá nhân đó phải là thiệt hại trực tiếp để phân biệt với các cá nhân khác cũng bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra

- Bổ sung vào khoản 1 Điều 51 BLTTHS điều kiện về hình thức để xác định tư cách của người bị hại: người bị hại phải là người được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận

- Sửa đổi, bổ sung tiêu đề của khoản 2 Điều 51 BLTTHS theo hướng trong vụ án có

sự tham gia của người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ thì cả hai người này đều có quyền như nhau

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 51 BLTTHS theo hướng mở rộng phạm vi quyền kháng cáo của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với toàn

bộ bản án, quyết định sơ thẩm

- Bỏ đoạn quy định tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS quy định nghĩa vụ của người bị hại

có nội dung là “… nếu từ chối khai báo mà không có lí do chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS”

- Bổ sung nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp của người bị hại để có cơ sở pháp

lí buộc họ có trách nhiệm hơn trong việc bảo

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người

Trang 9

bị hại Cần quy định theo hướng người đại

diện hợp pháp của người bị hại có nghĩa vụ

có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều

tra, viện kiểm sát, toà án; phải sử dụng mọi

biện pháp luật định để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của người bị hại

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều

105 BLTTHS quy định về khởi tố vụ án theo

yêu cầu của người bị hại theo hướng mở

rộng phạm vi các tội phạm khởi tố theo yêu

cầu, chủ yếu đối với các tội phạm xâm phạm

sở hữu, xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân

phẩm của công dân (đã nêu và phân tích ở

trên) và tội mới được bổ sung trong luật sủa

đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày

19/6/2009 là tội xâm phạm quyền tác giả và

các quyền khác quy định tại Điều 170a

Đồng thời đưa Điều 131 BLHS ra khỏi quy

định của Điều 105 BLTTHS vì Điều này đã

bị luật nói trên bãi bỏ Ngoài ra, với việc quy

định quyền yêu cầu khởi tố cho người đại

diện hợp pháp của người bị hại là người

chưa thành niên, người có nhược điểm về

tâm thần, thể chất thì nội dung điều luật hiện

hành đã vượt quá phạm vi tên điều luật xác

định Do vậy, cần sửa đổi tiêu đề của điều

luật từ “Khởi tố vụ án theo yêu cầu của

người bị hại” thành “Khởi tố vụ án theo yêu

cầu” cho phù hợp với nội dung của nó Bên

cạnh đó, để bảo đảm triệt để quyền lợi của

người bị hại, nên bỏ từ “hoặc” trong đoạn

“ chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của

người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp

của người bị hại là người chưa thành niên,

người có ” của khoản 1 Điều 105 và thay

vào đó bằng dấu “phẩy” để xác định rằng

trong trường hợp này cả người bị hại và đại

diện hợp pháp của họ đều có quyền yêu cầu

khởi tố vụ án, chứ không phải là hoặc người này hoặc người kia như quy định hiện hành

Thứ ba, bổ sung khoản 1 Điều 191

BLTTHS quy định sự có mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của họ theo hướng vừa là quyền vừa là nghĩa vụ Đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu, nếu người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có lí do chính đáng thì phải hoãn phiên toà Toà án chỉ xét xử vắng mặt của họ trong trường hợp

họ cố tình không đến theo giấy triệu tập hoặc

đã yêu cầu toà án xét xử vắng mặt

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 249

BLTTHS đoạn quy định về quyền sửa bản án

sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo,

mở rộng phạm vi thực hiện quyền sửa bản án

sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo cả trong trường hợp có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu nhằm đảm bảo tối đa quyền kháng cáo của người bị hại, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo

vệ quyền lợi của người bị hại./

(1).Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 128 (2).Xem: Lê Tiến Châu,“Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí k hoa học pháp lí, số 1(38)/2007 (3).Xem: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm

2004, tr 698

(4).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 1999, tr 198

(5) Điểm d khoản 1 Điều 46 BLHS quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải

(6).Xem: Tiểu mục 1.3 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003

Ngày đăng: 06/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w