1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Những bất cập trong chế định "quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và hướng sửa đổi, bổ sung " pdf

6 769 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 357,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm một quy định những nguyên tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân, được thể hiện trong 4 điều từ Điều 49 đến Điều 52, gồm: quốc tịch Việt Nam; các nguyên tắc tôn trọng

Trang 1

1 Những bất cập về hình thức, nội

dung và kĩ thuật lập hiến

1.1 Bất cập về hình thức

Chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của

công dân" dưới hình thức "Chương V" trong

Hiến pháp năm 1992 có 8 nhóm quy phạm

pháp luật Nhóm một quy định những nguyên

tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của

công dân, được thể hiện trong 4 điều (từ

Điều 49 đến Điều 52), gồm: quốc tịch Việt

Nam; các nguyên tắc tôn trọng quyền con

người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá

và xã hội ở Việt Nam; quyền công dân

không tách rời nghĩa vụ công dân; nghĩa vụ,

trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và

công dân; quyền và nghĩa vụ công dân do

Hiến pháp và luật quy định; mọi công dân

đều bình đẳng trước pháp luật Nhóm hai

quy định các quyền cơ bản của công dân về

chính trị, được thể hiện trong 3 điều (các

điều 53, 54, 74), gồm: quyền tham gia quản

lí nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, quyền

ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân,

quyền khiếu nại và quyền tố cáo Nhóm ba

quy định các quyền cơ bản của công dân về

dân sự, được thể hiện trong 8 điều (các điều

58, 60, 68, 69, 70, 71, 72, 73), gồm: quyền

bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được

pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ,

danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm

phạm về chỗ ở; quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền này; quyền thừa kế hợp pháp và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền này; quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín; quyền tự do đi lại ở trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài

về nước theo quy định của pháp luật; quyền

tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền được thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền được Nhà nước bảo hộ những nơi thờ tự; quyền tác giả

và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất

và phục hồi danh dự khi bị thiệt hại do hành

vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, nhân

viên nhà nước Nhóm bốn quy định các

quyền cơ bản của công dân về kinh tế, được thể hiện trong 3 điều (các điều 55, 57, 58), gồm: quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác

và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở

hữu này Nhóm năm quy định các quyền cơ

bản của công dân về văn hoá, giáo dục, khoa

học và công nghệ, được thể hiện ở 2 điều

(các điều 59, 60), gồm: quyền sáng tác văn

học, nghệ thuật; quyền phê bình văn học,

nghệ thuật; quyền tham gia các hoạt động

văn hoá khác; quyền học tập; quyền nghiên

cứu khoa học, kĩ thuật; quyền phát minh,

sáng chế, sáng kiến cải tiến kĩ thuật, hợp lí

hoá sản xuất; quyền được Nhà nước bảo hộ

quyền tác giả và quyền được Nhà nước bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp Nhóm sáu quy

định các quyền cơ bản của công dân về xã

hội, được thể hiện trong 8 điều (các điều 56,

61 - 67), gồm: quyền bình đẳng nam nữ;

quyền nghỉ ngơi; quyền được hưởng chế độ

bảo hiểm, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ;

quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và

gia đình; quyền xây dựng nhà ở, cho thuê

nhà, thuê nhà theo quy định của pháp luật và

quyền được Nhà nước bảo hộ các quyền này;

quyền của lao động nữ, trẻ em, thanh niên,

thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,

người và gia đình có công với nước, người

già, người tàn tật Nhóm bảy quy định các

nghĩa vụ cơ bản của công dân, được thể hiện

trong 8 điều (các điều 55, 59, 61, 76 - 80),

gồm: trung thành với Tổ quốc; bảo vệ Tổ

quốc; làm nghĩa vụ quân sự và xây dựng

quốc phòng toàn dân; tôn trọng và bảo vệ tài

sản của Nhà nước và lợi ích công cộng; tuân

theo Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ an ninh

quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; giữ gìn bí

mật quốc gia và chấp hành những quy tắc

sinh hoạt công cộng; đóng thuế; lao động

công ích; lao động; học tập và thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh

công cộng Nhóm tám quy định chính sách

của Nhà nước đối với người Việt Nam định

cư ở nước ngoài; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và người nước ngoài đấu tranh vì

tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình, khoa học bị bức hại, được thể hiện trong 3 điều luật (các điều 75, 81, 82).(1) Như vậy, toàn bộ nội dung 8 nhóm quy phạm pháp luật của chế định "Quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân" được diễn đạt trong

34 điều luật của Chương V Hiến pháp năm

1992 Nếu so sánh giữa nội dung và hình thức của chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thì chúng ta thấy chúng không tương xứng nhau, nội dung đã vượt quá giới hạn hình thức (tên gọi) của chế định "Quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân" Cũng chính vì phải chứa đựng quá tải về nội dung

mà các quy phạm pháp luật của chế định

"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" không được sắp xếp theo trật tự chặt chẽ, khoa học, hợp lí, dễ theo dõi Cụ thể là: 1) Nhóm các quy phạm pháp luật quy định những nguyên tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân (nhóm một) và nhóm các quy phạm pháp luật quy định chính sách của Nhà nước đối với người Việt Nam định

cư ở nước ngoài; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và người nước ngoài đấu tranh vì

tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình, khoa học bị bức hại (nhóm tám) lại được xếp chung với 6 nhóm quy phạm pháp luật khác về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam; 2) Năm nhóm quy phạm pháp luật quy định các quyền cơ

Trang 3

bản của công dân (các nhóm hai, ba, bốn,

năm, sáu) không được sắp xếp theo trật tự các

quyền con người, quyền công dân mà Điều

50 của Hiến pháp năm 1992 đã xác lập, là:

quyền con người, quyền công dân về chính

trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội (sau

Điều 53 và Điều 54 về các quyền chính trị là

các điều 55, 56, 57, 58 về các quyền kinh tế,

tiếp đến là các điều 59, 60 về các quyền văn

hoá, tiếp sau là Điều 61 quy định 1 quyền xã

hội là quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức

khoẻ, tiếp đến là các điều từ Điều 62 đến

Điều 67 về các quyền xã hội, tiếp sau là các

điều từ Điều 68 đến Điều 73 về các quyền

dân sự và cuối cùng là Điều 74 quy định 1

quyền chính trị là quyền khiếu nại, tố cáo)

1.2 Bất cập về nội dung

- Trước hết, nói về các quyền cơ bản của

công dân Việt Nam Qua nghiên cứu, tổng

kết, chúng tôi đã xác định được rằng Hiến

pháp năm 1992 quy định 76 quyền cơ bản của

công dân, tăng thêm 19 quyền cơ bản so với

Hiến pháp năm 1980, trong đó có 25 quyền

mới.(2) Tuy nhiên, trải qua gần 10 năm, kể từ

khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành đến

nay, xã hội Việt Nam và thế giới có nhiều

thay đổi tích cực về mọi mặt, do đó nhiều nhu

cầu, lợi ích, đòi hỏi mới, chính đáng của con

người nảy sinh cần được đáp ứng nhằm bảo

vệ lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng

của từng thành viên xã hội đồng thời phục vụ

cho cuộc đấu tranh phòng, chống các vi phạm

pháp luật trong xã hội Thế nhưng, các nhu

cầu, lợi ích, đòi hỏi mới, chính đáng đó của

con người chưa được Hiến pháp ghi nhận

dưới dạng các quyền cơ bản của công dân,

như quyền được sống trong môi trường tự

nhiên trong sạch, quyền tẩy chay hàng hoá của cơ sở sản xuất đã gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, quyền được cứu trợ xã hội trong thảm họa thiên nhiên, quyền được sống trong môi trường văn hoá lành mạnh, quyền phản biện chính sách và pháp luật của Nhà nước, quyền đình công…

- Về nghĩa vụ cơ bản của công dân: Theo

quy định trong chế định "Quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân" của Hiến pháp năm

1992, công dân phải thực hiện 17 nghĩa vụ

cơ bản Tuy nhiên, trước sự mở rộng và gia tăng các quyền cơ bản của công dân phù hợp với sự phát triển mọi mặt của xã hội, cũng như nhu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội

và từng thành viên xã hội, thì còn nhiều hành động bắt buộc công dân phải thực hiện chưa được ghi nhận thành các nghĩa vụ cơ bản trong Hiến pháp năm 1992, như nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ khắc phục hậu quả khi gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi khi gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, nghĩa

vụ bảo vệ di sản văn hoá dân tộc v.v

1.3 Bất cập về kĩ thuật lập hiến

Một là chưa bảo đảm nguyên tắc đối ứng

quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước với công dân trong việc xác lập các quyền cơ bản của công dân, có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của Nhà nước là nghĩa vụ và quyền của công dân; quyền và nghĩa vụ của công dân là nghĩa vụ

và quyền của Nhà nước Sự hạn chế đó thể hiện trên 2 điểm: 1) Không quy định nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước kèm theo quyền cơ bản của công dân trong cùng điều luật, làm

Trang 4

cho các quyền này còn mang tính "tuyên

ngôn", tính "tuyên bố", tính "hình thức", chưa

có tính hiện thực Ví dụ: Điều 53 về quyền

tham gia quản lí nhà nước và xã hội, tham gia

thảo luận các vấn đề chung của cả nước và

địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước,

biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý

dân; Điều 54 quy định quyền bầu cử, ứng cử;

Điều 57 về quyền tự do kinh doanh; Điều 68

quy định quyền tự do đi lại và cư trú ở trong

nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài

về nước; Điều 69 về quyền tự do báo chí,

được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; 2)

Không quy định quyền của Nhà nước được

áp dụng các biện pháp bảo đảm cho công

dân không trốn tránh nghĩa vụ và phải thực

hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ đối với Nhà

nước, xã hội trong các điều luật quy định

nghĩa vụ cơ bản của công dân

Hai là gộp nhiều nghĩa vụ cơ bản của

công dân trong một điều luật, làm cho điều

luật vừa nặng nề, vừa không còn chỗ để đưa

quyền của Nhà nước áp dụng các biện pháp

bảo đảm thực hiện từng nghĩa vụ cụ thể ấy

Trong 8 điều luật quy định nghĩa vụ cơ bản

của công dân thì có tới 5 điều trong tình

trạng đó (từ Điều 77 đến Điều 80)

Ba là gộp quyền cơ bản và nghĩa vụ cơ

bản của công dân trong cùng một điều luật,

làm cho điều luật "quá tải" và không thể

cùng một lúc vừa quy định nghĩa vụ của Nhà

nước bảo đảm quyền cơ bản của công dân,

vừa xác lập quyền của Nhà nước áp dụng

các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cơ

bản của công dân Đó là Điều 55 (quyền và

nghĩa vụ lao động), Điều 59 (quyền và nghĩa

vụ học tập) và Điều 61 (quyền được hưởng hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ và nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng)

Bốn là nội dung trong khá nhiều điều

luật quá lớn, bao gồm nhiều vấn đề, được chia thành nhiều phần (hay nhiều đoạn) với lời văn dài dòng, làm mất đi tính cô đọng, hàm súc, ngắn gọn… vốn là những yêu cầu quan trọng về hình thức đối với các điều của hiến pháp - với tư cách là luật cơ bản Trong khá nhiều điều của Chương V Hiến pháp năm 1992 lâm vào tình trạng này thì Điều 63 (về quyền bình đẳng nam nữ, quyền của phụ

nữ thai sản là viên chức và người làm công

ăn lương) là "nặng nề" nhất, gồm 177 từ, với

6 câu và được chia thành 4 phần (đoạn), trong đó phần (đoạn) cuối cùng là một câu dài nhất có tới 80 từ

Năm là có một số quyền cơ bản của công

dân được quy định một cách gián tiếp thông qua việc quy định trực tiếp nghĩa vụ bảo hộ của Nhà nước đối với quyền mà công dân được hưởng Chẳng hạn, quyền nghỉ ngơi và quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56), quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế (Điều 58), quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp (Điều 60)…

Sáu là có một số quyền và nghĩa vụ cơ

bản của công dân được xác định thông qua cách quy định theo dạng "quan niệm", "định

nghĩa" về sự vật, hiện tượng xã hội Ví dụ:

quyền lao động và nghĩa vụ lao động (Điều

55 - Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân), quyền học tập và nghĩa vụ học tập (Điều 59 - Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân)

Trang 5

2 Những yêu cầu về nội dung, hình

thức và kĩ thuật lập hiến đối với chế định

"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"

cần được sửa đổi, bổ sung

- Yêu cầu về nội dung: 1) Cần triệt để

tuân theo nguyên tắc chỉ quy định quyền,

nghĩa vụ cơ bản của công dân có khả năng

thực tế để thực hiện; 2) Kế thừa 8 nhóm quy

phạm pháp luật về 8 vấn đề trong chế định

hiện hành nhưng có bổ sung một số quyền và

nghĩa vụ cơ bản mới của công dân như đã

nêu ở trên cho phù hợp với sự phát triển và

yêu cầu của xã hội hiện nay; 3) Quy định

nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước đối với

quyền cơ bản của công dân trong cùng điều

luật tuyên bố quyền đó, cũng như quyền của

Nhà nước được áp dụng biện pháp bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ cơ bản của công dân

trong cùng điều luật quy định nghĩa vụ ấy…

- Yêu cầu về hình thức và kĩ thuật lập

hiến: 1) Sắp xếp các điều luật thể hiện nội

dung của tất cả các quy phạm pháp luật của

chế định này theo 2 nhóm lớn sau: Nhóm 1

gồm các điều luật quy định những vấn đề

chung trong chính sách của Nhà nước đối

với cá nhân như quốc tịch Việt Nam, nguyên

tắc tôn trọng quyền con người ở Việt Nam,

các nguyên tắc chung về quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân Việt Nam, việc bảo hộ

của Nhà nước đối với quyền lợi chính đáng

của người Việt Nam định cư ở nước ngoài,

người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và của

người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độc lập

dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình,

khoa học bị bức hại; Nhóm 2 gồm các điều

luật quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản

của công dân Việt Nam; 2) Bỏ cách quy định

theo dạng "quan niệm", "định nghĩa" sự vật hay hiện tượng nào đó (như là "học tập vừa

là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân" như

đã nhận xét ở trên), cũng như cách quy định quyền một cách gián tiếp thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ bảo hộ của Nhà nước đối với quyền ấy mà thay vào đó là cách quy định trực tiếp theo công thức "công dân có quyền…", "công dân có nghĩa vụ…"; 3) Bỏ cách quy định nhiều quyền hay nhiều nghĩa

vụ trong cùng điều luật mà nên tách ra mỗi điều luật quy định một quyền hay một nghĩa vụ; 4) Sắp xếp các điều luật về các quyền cơ bản của công dân và nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước theo trật tự các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội; 5) Diễn đạt lời văn trong từng điều luật phải bảo đảm

độ chính xác về ngữ pháp, ngắn gọn, súc tích, cô đọng, rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu trong

từng điều luật

3 Phương án sửa đổi, bổ sung chế định

"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"

Trước những bất cập về nội dung, hình thức, kĩ thuật lập hiến trong chế định "Quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân" và nhằm đáp ứng được các yêu cầu về nội dung, hình thức, kĩ thuật lập hiến của chế định này theo chủ trương của Đảng về đổi mới, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng tôi đưa ra

2 phương án đổi mới, sửa đổi, bổ sung chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" như sau:

- Phương án thứ nhất: Phương án này

đụng chạm tới toàn bộ kết cấu của cả Hiến pháp năm 1992, nghĩa là phải kết cấu lại Hiến pháp năm 1992 thành Lời nói đầu, các phần, chương, điều, khoản

Trang 6

Phần 1 với tên gọi có thể là Chế độ

chính trị-xã hội và các chính sách của Nhà

nước, gồm các chương quy định chế độ

chính trị-xã hội, chế độ kinh tế, chính sách

của Nhà nước về văn hoá, giáo dục, khoa

học-công nghệ, xã hội, quốc phòng và an

ninh Phần 2 - Nhà nước và cá nhân, gồm 2

chương: Chương 1 - Những nguyên tắc

chung trong chính sách của Nhà nước đối

với cá nhân, quy định các vấn đề: quốc tịch

Việt Nam; nguyên tắc tôn trọng quyền con

người ở Việt Nam; các nguyên tắc về quyền

và nghĩa vụ của công dân Việt Nam; nguyên

tắc bình đẳng trước pháp luật của mọi công

dân Việt Nam; việc bảo hộ của Nhà nước đối

với quyền lợi chính đáng của người Việt

Nam định cư ở nước ngoài, nghĩa vụ của

người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và việc

bảo hộ của Nhà nước Việt Nam đối với

quyền lợi chính đáng của họ, việc xem xét

cho cư trú của Nhà nước Việt Nam đối với

người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độc lập

dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình,

khoa học bị bức hại Chương 2 - Quyền và

nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, chỉ

quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của

công dân Việt Nam Ngoài ra, còn các phần:

Phần 3 - Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ

máy nhà nước, gồm các chương quy định về

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ

tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,

hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, toà

án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân;

Phần 4 - Quốc kì, quốc huy, quốc ca, thủ đô,

ngày quốc khánh, quy định quốc kì, quốc

huy, quốc ca, thủ đô và ngày quốc khánh;

Phần 5 - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa

đổi Hiến pháp, quy định hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.(3)

- Phương án thứ hai: Ngoài Lời nói đầu

thì Hiến pháp được tạo thành bởi các chương, trong chương có mục, trong mục có điều và trong điều có khoản Như vậy, nếu theo phương án này thì Chương 5 Hiến pháp năm 1992 hiện hành được đổi tên là "Nhà nước và cá nhân", gồm 2 mục: Mục 1 quy định những nguyên tắc chung trong chính sách của Nhà nước đối với cá nhân và Mục 2 chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam./

(1).Xem: TS Nguyễn Văn Động, “Về quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở Việt Nam”, Tạp chí cộng

sản, số 21, tháng 11/2001, tr 137; TS Nguyễn Văn Động, “Từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa

vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở nước

ta, suy nghĩ về việc sửa đổi Chương 5 Hiến pháp

1992”, trong sách Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỉ XXI, Tập thể tác giả, Chủ biên:

TSKH Lê Cảm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2002, tr 55; TS Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về xã hội của công dân Việt Nam (Sách chuyên

khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr 45 - 62;

PGS.TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam (Sách chuyên

khảo), Nxb Khoa học xã hội, 2005, tr 186 - 193;

PGS.TS Nguyễn Văn Động Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam (Sách chuyên k hảo),

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 91 - 128

(2).Xem: PGS.TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam,

sđd, tr 132 - 193

(3).Xem: TS Nguyễn Văn Động, Về quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở Việt Nam, tlđd, tr 138; TS Nguyễn Văn Động Từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở nước ta, suy nghĩ về việc sửa đổi Chương

5 Hiến pháp 1992, sđd, tr 56 - 58

Ngày đăng: 06/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w