Nhóm một quy định những nguyên tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân, được thể hiện trong 4 điều từ Điều 49 đến Điều 52, gồm: quốc tịch Việt Nam; các nguyên tắc tôn trọng
Trang 1
1 Những bất cập về hình thức, nội
dung và kĩ thuật lập hiến
1.1 Bất cập về hình thức
Chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân" dưới hình thức "Chương V" trong
Hiến pháp năm 1992 có 8 nhóm quy phạm
pháp luật Nhóm một quy định những nguyên
tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của
công dân, được thể hiện trong 4 điều (từ
Điều 49 đến Điều 52), gồm: quốc tịch Việt
Nam; các nguyên tắc tôn trọng quyền con
người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá
và xã hội ở Việt Nam; quyền công dân
không tách rời nghĩa vụ công dân; nghĩa vụ,
trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và
công dân; quyền và nghĩa vụ công dân do
Hiến pháp và luật quy định; mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật Nhóm hai
quy định các quyền cơ bản của công dân về
chính trị, được thể hiện trong 3 điều (các
điều 53, 54, 74), gồm: quyền tham gia quản
lí nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, quyền
ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân,
quyền khiếu nại và quyền tố cáo Nhóm ba
quy định các quyền cơ bản của công dân về
dân sự, được thể hiện trong 8 điều (các điều
58, 60, 68, 69, 70, 71, 72, 73), gồm: quyền
bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở; quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền này; quyền thừa kế hợp pháp và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền này; quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín; quyền tự do đi lại ở trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài
về nước theo quy định của pháp luật; quyền
tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền được thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền được Nhà nước bảo hộ những nơi thờ tự; quyền tác giả
và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất
và phục hồi danh dự khi bị thiệt hại do hành
vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, nhân
viên nhà nước Nhóm bốn quy định các
quyền cơ bản của công dân về kinh tế, được thể hiện trong 3 điều (các điều 55, 57, 58), gồm: quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác
và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở
hữu này Nhóm năm quy định các quyền cơ
bản của công dân về văn hoá, giáo dục, khoa
học và công nghệ, được thể hiện ở 2 điều
(các điều 59, 60), gồm: quyền sáng tác văn
học, nghệ thuật; quyền phê bình văn học,
nghệ thuật; quyền tham gia các hoạt động
văn hoá khác; quyền học tập; quyền nghiên
cứu khoa học, kĩ thuật; quyền phát minh,
sáng chế, sáng kiến cải tiến kĩ thuật, hợp lí
hoá sản xuất; quyền được Nhà nước bảo hộ
quyền tác giả và quyền được Nhà nước bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp Nhóm sáu quy
định các quyền cơ bản của công dân về xã
hội, được thể hiện trong 8 điều (các điều 56,
61 - 67), gồm: quyền bình đẳng nam nữ;
quyền nghỉ ngơi; quyền được hưởng chế độ
bảo hiểm, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ;
quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và
gia đình; quyền xây dựng nhà ở, cho thuê
nhà, thuê nhà theo quy định của pháp luật và
quyền được Nhà nước bảo hộ các quyền này;
quyền của lao động nữ, trẻ em, thanh niên,
thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,
người và gia đình có công với nước, người
già, người tàn tật Nhóm bảy quy định các
nghĩa vụ cơ bản của công dân, được thể hiện
trong 8 điều (các điều 55, 59, 61, 76 - 80),
gồm: trung thành với Tổ quốc; bảo vệ Tổ
quốc; làm nghĩa vụ quân sự và xây dựng
quốc phòng toàn dân; tôn trọng và bảo vệ tài
sản của Nhà nước và lợi ích công cộng; tuân
theo Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; giữ gìn bí
mật quốc gia và chấp hành những quy tắc
sinh hoạt công cộng; đóng thuế; lao động
công ích; lao động; học tập và thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh
công cộng Nhóm tám quy định chính sách
của Nhà nước đối với người Việt Nam định
cư ở nước ngoài; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và người nước ngoài đấu tranh vì
tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình, khoa học bị bức hại, được thể hiện trong 3 điều luật (các điều 75, 81, 82).(1) Như vậy, toàn bộ nội dung 8 nhóm quy phạm pháp luật của chế định "Quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân" được diễn đạt trong
34 điều luật của Chương V Hiến pháp năm
1992 Nếu so sánh giữa nội dung và hình thức của chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thì chúng ta thấy chúng không tương xứng nhau, nội dung đã vượt quá giới hạn hình thức (tên gọi) của chế định "Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân" Cũng chính vì phải chứa đựng quá tải về nội dung
mà các quy phạm pháp luật của chế định
"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" không được sắp xếp theo trật tự chặt chẽ, khoa học, hợp lí, dễ theo dõi Cụ thể là: 1) Nhóm các quy phạm pháp luật quy định những nguyên tắc chung, cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân (nhóm một) và nhóm các quy phạm pháp luật quy định chính sách của Nhà nước đối với người Việt Nam định
cư ở nước ngoài; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và người nước ngoài đấu tranh vì
tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình, khoa học bị bức hại (nhóm tám) lại được xếp chung với 6 nhóm quy phạm pháp luật khác về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam; 2) Năm nhóm quy phạm pháp luật quy định các quyền cơ
Trang 3bản của công dân (các nhóm hai, ba, bốn,
năm, sáu) không được sắp xếp theo trật tự các
quyền con người, quyền công dân mà Điều
50 của Hiến pháp năm 1992 đã xác lập, là:
quyền con người, quyền công dân về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội (sau
Điều 53 và Điều 54 về các quyền chính trị là
các điều 55, 56, 57, 58 về các quyền kinh tế,
tiếp đến là các điều 59, 60 về các quyền văn
hoá, tiếp sau là Điều 61 quy định 1 quyền xã
hội là quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức
khoẻ, tiếp đến là các điều từ Điều 62 đến
Điều 67 về các quyền xã hội, tiếp sau là các
điều từ Điều 68 đến Điều 73 về các quyền
dân sự và cuối cùng là Điều 74 quy định 1
quyền chính trị là quyền khiếu nại, tố cáo)
1.2 Bất cập về nội dung
- Trước hết, nói về các quyền cơ bản của
công dân Việt Nam Qua nghiên cứu, tổng
kết, chúng tôi đã xác định được rằng Hiến
pháp năm 1992 quy định 76 quyền cơ bản của
công dân, tăng thêm 19 quyền cơ bản so với
Hiến pháp năm 1980, trong đó có 25 quyền
mới.(2) Tuy nhiên, trải qua gần 10 năm, kể từ
khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành đến
nay, xã hội Việt Nam và thế giới có nhiều
thay đổi tích cực về mọi mặt, do đó nhiều nhu
cầu, lợi ích, đòi hỏi mới, chính đáng của con
người nảy sinh cần được đáp ứng nhằm bảo
vệ lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng
của từng thành viên xã hội đồng thời phục vụ
cho cuộc đấu tranh phòng, chống các vi phạm
pháp luật trong xã hội Thế nhưng, các nhu
cầu, lợi ích, đòi hỏi mới, chính đáng đó của
con người chưa được Hiến pháp ghi nhận
dưới dạng các quyền cơ bản của công dân,
như quyền được sống trong môi trường tự
nhiên trong sạch, quyền tẩy chay hàng hoá của cơ sở sản xuất đã gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, quyền được cứu trợ xã hội trong thảm họa thiên nhiên, quyền được sống trong môi trường văn hoá lành mạnh, quyền phản biện chính sách và pháp luật của Nhà nước, quyền đình công…
- Về nghĩa vụ cơ bản của công dân: Theo
quy định trong chế định "Quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân" của Hiến pháp năm
1992, công dân phải thực hiện 17 nghĩa vụ
cơ bản Tuy nhiên, trước sự mở rộng và gia tăng các quyền cơ bản của công dân phù hợp với sự phát triển mọi mặt của xã hội, cũng như nhu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội
và từng thành viên xã hội, thì còn nhiều hành động bắt buộc công dân phải thực hiện chưa được ghi nhận thành các nghĩa vụ cơ bản trong Hiến pháp năm 1992, như nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ khắc phục hậu quả khi gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi khi gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, nghĩa
vụ bảo vệ di sản văn hoá dân tộc v.v
1.3 Bất cập về kĩ thuật lập hiến
Một là chưa bảo đảm nguyên tắc đối ứng
quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước với công dân trong việc xác lập các quyền cơ bản của công dân, có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của Nhà nước là nghĩa vụ và quyền của công dân; quyền và nghĩa vụ của công dân là nghĩa vụ
và quyền của Nhà nước Sự hạn chế đó thể hiện trên 2 điểm: 1) Không quy định nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước kèm theo quyền cơ bản của công dân trong cùng điều luật, làm
Trang 4cho các quyền này còn mang tính "tuyên
ngôn", tính "tuyên bố", tính "hình thức", chưa
có tính hiện thực Ví dụ: Điều 53 về quyền
tham gia quản lí nhà nước và xã hội, tham gia
thảo luận các vấn đề chung của cả nước và
địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước,
biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý
dân; Điều 54 quy định quyền bầu cử, ứng cử;
Điều 57 về quyền tự do kinh doanh; Điều 68
quy định quyền tự do đi lại và cư trú ở trong
nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài
về nước; Điều 69 về quyền tự do báo chí,
được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; 2)
Không quy định quyền của Nhà nước được
áp dụng các biện pháp bảo đảm cho công
dân không trốn tránh nghĩa vụ và phải thực
hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ đối với Nhà
nước, xã hội trong các điều luật quy định
nghĩa vụ cơ bản của công dân
Hai là gộp nhiều nghĩa vụ cơ bản của
công dân trong một điều luật, làm cho điều
luật vừa nặng nề, vừa không còn chỗ để đưa
quyền của Nhà nước áp dụng các biện pháp
bảo đảm thực hiện từng nghĩa vụ cụ thể ấy
Trong 8 điều luật quy định nghĩa vụ cơ bản
của công dân thì có tới 5 điều trong tình
trạng đó (từ Điều 77 đến Điều 80)
Ba là gộp quyền cơ bản và nghĩa vụ cơ
bản của công dân trong cùng một điều luật,
làm cho điều luật "quá tải" và không thể
cùng một lúc vừa quy định nghĩa vụ của Nhà
nước bảo đảm quyền cơ bản của công dân,
vừa xác lập quyền của Nhà nước áp dụng
các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cơ
bản của công dân Đó là Điều 55 (quyền và
nghĩa vụ lao động), Điều 59 (quyền và nghĩa
vụ học tập) và Điều 61 (quyền được hưởng hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ và nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng)
Bốn là nội dung trong khá nhiều điều
luật quá lớn, bao gồm nhiều vấn đề, được chia thành nhiều phần (hay nhiều đoạn) với lời văn dài dòng, làm mất đi tính cô đọng, hàm súc, ngắn gọn… vốn là những yêu cầu quan trọng về hình thức đối với các điều của hiến pháp - với tư cách là luật cơ bản Trong khá nhiều điều của Chương V Hiến pháp năm 1992 lâm vào tình trạng này thì Điều 63 (về quyền bình đẳng nam nữ, quyền của phụ
nữ thai sản là viên chức và người làm công
ăn lương) là "nặng nề" nhất, gồm 177 từ, với
6 câu và được chia thành 4 phần (đoạn), trong đó phần (đoạn) cuối cùng là một câu dài nhất có tới 80 từ
Năm là có một số quyền cơ bản của công
dân được quy định một cách gián tiếp thông qua việc quy định trực tiếp nghĩa vụ bảo hộ của Nhà nước đối với quyền mà công dân được hưởng Chẳng hạn, quyền nghỉ ngơi và quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56), quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế (Điều 58), quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp (Điều 60)…
Sáu là có một số quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân được xác định thông qua cách quy định theo dạng "quan niệm", "định
nghĩa" về sự vật, hiện tượng xã hội Ví dụ:
quyền lao động và nghĩa vụ lao động (Điều
55 - Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân), quyền học tập và nghĩa vụ học tập (Điều 59 - Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân)
Trang 52 Những yêu cầu về nội dung, hình
thức và kĩ thuật lập hiến đối với chế định
"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"
cần được sửa đổi, bổ sung
- Yêu cầu về nội dung: 1) Cần triệt để
tuân theo nguyên tắc chỉ quy định quyền,
nghĩa vụ cơ bản của công dân có khả năng
thực tế để thực hiện; 2) Kế thừa 8 nhóm quy
phạm pháp luật về 8 vấn đề trong chế định
hiện hành nhưng có bổ sung một số quyền và
nghĩa vụ cơ bản mới của công dân như đã
nêu ở trên cho phù hợp với sự phát triển và
yêu cầu của xã hội hiện nay; 3) Quy định
nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước đối với
quyền cơ bản của công dân trong cùng điều
luật tuyên bố quyền đó, cũng như quyền của
Nhà nước được áp dụng biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ cơ bản của công dân
trong cùng điều luật quy định nghĩa vụ ấy…
- Yêu cầu về hình thức và kĩ thuật lập
hiến: 1) Sắp xếp các điều luật thể hiện nội
dung của tất cả các quy phạm pháp luật của
chế định này theo 2 nhóm lớn sau: Nhóm 1
gồm các điều luật quy định những vấn đề
chung trong chính sách của Nhà nước đối
với cá nhân như quốc tịch Việt Nam, nguyên
tắc tôn trọng quyền con người ở Việt Nam,
các nguyên tắc chung về quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân Việt Nam, việc bảo hộ
của Nhà nước đối với quyền lợi chính đáng
của người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và của
người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độc lập
dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình,
khoa học bị bức hại; Nhóm 2 gồm các điều
luật quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân Việt Nam; 2) Bỏ cách quy định
theo dạng "quan niệm", "định nghĩa" sự vật hay hiện tượng nào đó (như là "học tập vừa
là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân" như
đã nhận xét ở trên), cũng như cách quy định quyền một cách gián tiếp thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ bảo hộ của Nhà nước đối với quyền ấy mà thay vào đó là cách quy định trực tiếp theo công thức "công dân có quyền…", "công dân có nghĩa vụ…"; 3) Bỏ cách quy định nhiều quyền hay nhiều nghĩa
vụ trong cùng điều luật mà nên tách ra mỗi điều luật quy định một quyền hay một nghĩa vụ; 4) Sắp xếp các điều luật về các quyền cơ bản của công dân và nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước theo trật tự các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội; 5) Diễn đạt lời văn trong từng điều luật phải bảo đảm
độ chính xác về ngữ pháp, ngắn gọn, súc tích, cô đọng, rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu trong
từng điều luật
3 Phương án sửa đổi, bổ sung chế định
"Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân"
Trước những bất cập về nội dung, hình thức, kĩ thuật lập hiến trong chế định "Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân" và nhằm đáp ứng được các yêu cầu về nội dung, hình thức, kĩ thuật lập hiến của chế định này theo chủ trương của Đảng về đổi mới, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng tôi đưa ra
2 phương án đổi mới, sửa đổi, bổ sung chế định "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" như sau:
- Phương án thứ nhất: Phương án này
đụng chạm tới toàn bộ kết cấu của cả Hiến pháp năm 1992, nghĩa là phải kết cấu lại Hiến pháp năm 1992 thành Lời nói đầu, các phần, chương, điều, khoản
Trang 6Phần 1 với tên gọi có thể là Chế độ
chính trị-xã hội và các chính sách của Nhà
nước, gồm các chương quy định chế độ
chính trị-xã hội, chế độ kinh tế, chính sách
của Nhà nước về văn hoá, giáo dục, khoa
học-công nghệ, xã hội, quốc phòng và an
ninh Phần 2 - Nhà nước và cá nhân, gồm 2
chương: Chương 1 - Những nguyên tắc
chung trong chính sách của Nhà nước đối
với cá nhân, quy định các vấn đề: quốc tịch
Việt Nam; nguyên tắc tôn trọng quyền con
người ở Việt Nam; các nguyên tắc về quyền
và nghĩa vụ của công dân Việt Nam; nguyên
tắc bình đẳng trước pháp luật của mọi công
dân Việt Nam; việc bảo hộ của Nhà nước đối
với quyền lợi chính đáng của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, nghĩa vụ của
người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và việc
bảo hộ của Nhà nước Việt Nam đối với
quyền lợi chính đáng của họ, việc xem xét
cho cư trú của Nhà nước Việt Nam đối với
người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độc lập
dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hoà bình,
khoa học bị bức hại Chương 2 - Quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, chỉ
quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân Việt Nam Ngoài ra, còn các phần:
Phần 3 - Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, gồm các chương quy định về
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, toà
án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân;
Phần 4 - Quốc kì, quốc huy, quốc ca, thủ đô,
ngày quốc khánh, quy định quốc kì, quốc
huy, quốc ca, thủ đô và ngày quốc khánh;
Phần 5 - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa
đổi Hiến pháp, quy định hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.(3)
- Phương án thứ hai: Ngoài Lời nói đầu
thì Hiến pháp được tạo thành bởi các chương, trong chương có mục, trong mục có điều và trong điều có khoản Như vậy, nếu theo phương án này thì Chương 5 Hiến pháp năm 1992 hiện hành được đổi tên là "Nhà nước và cá nhân", gồm 2 mục: Mục 1 quy định những nguyên tắc chung trong chính sách của Nhà nước đối với cá nhân và Mục 2 chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam./
(1).Xem: TS Nguyễn Văn Động, “Về quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở Việt Nam”, Tạp chí cộng
sản, số 21, tháng 11/2001, tr 137; TS Nguyễn Văn Động, “Từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở nước
ta, suy nghĩ về việc sửa đổi Chương 5 Hiến pháp
1992”, trong sách Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỉ XXI, Tập thể tác giả, Chủ biên:
TSKH Lê Cảm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2002, tr 55; TS Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về xã hội của công dân Việt Nam (Sách chuyên
khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr 45 - 62;
PGS.TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam (Sách chuyên
khảo), Nxb Khoa học xã hội, 2005, tr 186 - 193;
PGS.TS Nguyễn Văn Động Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam (Sách chuyên k hảo),
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 91 - 128
(2).Xem: PGS.TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam,
sđd, tr 132 - 193
(3).Xem: TS Nguyễn Văn Động, Về quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở Việt Nam, tlđd, tr 138; TS Nguyễn Văn Động Từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở nước ta, suy nghĩ về việc sửa đổi Chương
5 Hiến pháp 1992, sđd, tr 56 - 58