Hiến pháp chỉ được hiểu với ý nghĩa như ngày nay khi các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở châu Âu từ thế kỉ thứ XIII, XIV đến thế kỉ XVIII, XIX và khi đó, hiến pháp được xem là văn bản có
Trang 1TS Hoµng V¨n Tó *
huật ngữ "hiến pháp" có nguồn gốc La
tinh - "constitutio", được hiểu là xác
định, quy định và trong nhà nước cổ La Mã,
được dùng để chỉ các văn bản luật quan
trọng của nhà nước Hiến pháp chỉ được hiểu
với ý nghĩa như ngày nay khi các cuộc cách
mạng tư sản diễn ra ở châu Âu (từ thế kỉ thứ
XIII, XIV đến thế kỉ XVIII, XIX) và khi đó,
hiến pháp được xem là văn bản có sứ mệnh
xác lập chế độ mới thay thế chế độ cũ, là bản
khế ước xã hội của mọi người nhằm hướng
tới mục tiêu ghi nhận, đề cao các quyền tự
nhiên của con người, bãi bỏ chế độ chuyên
chế của vua chúa phong kiến, xác định giới
hạn của quyền lực nhà nước, hình thành
những nguyên tắc tổ chức quyền lực mới
Nếu tính từ bản Hiến pháp Mỹ năm 1787 –
được coi là bản hiến pháp thành văn đầu tiên
trong lịch sử lập hiến hiện đại đến nay, lịch sử
hiến pháp thế giới đã trải qua hàng trăm năm
và với sự phát triển ngày càng hoàn thiện
của các tư tưởng, học thuyết làm hình thành
nên chủ nghĩa hiến pháp (constitutionalism)
thì Hiến pháp đã trở thành tài sản chung của
nhân loại, là biểu tượng của nền dân chủ
hiện đại, gắn liền với tuyên ngôn lập quốc và
độc lập chủ quyền quốc gia
Hiến pháp là đạo luật cơ bản do cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất ban hành Hiến
pháp quy định tổ chức nhà nước, cơ cấu,
chức năng, nhiệm vụ các cơ quan nhà nước ở
trung ương và quyền cơ bản của con người
Như vậy, xét về mặt nội dung, hiến pháp là
văn bản pháp lí quan trọng nhất của mỗi quốc gia, ấn định chính thể quốc gia, các cơ quan điều khiển quốc gia và những thẩm quyền của các cơ quan đó
Với vị trí và vai trò hết sức quan trọng
như vậy, hiến pháp - Thứ nhất, được ban
hành bởi chủ thể đặc biệt với quy trình, thủ tục đặc biệt Hiện tồn tại hai dạng chủ thể có quyền lập hiến, đó là quốc hội (hay hội nghị) lập hiến hoặc quốc hội (nghị viện) vừa lập pháp vừa lập hiến Quốc hội (hội nghị) lập hiến là cơ quan dân bầu (riêng hội đồng lập hiến còn có sự tham gia của những thành viên theo cơ cấu quyền lợi, cơ cấu xã hội hoặc các chuyên gia lớn trong lĩnh vực hiến pháp), hoạt động với thời hạn, mục đích cụ thể là soạn thảo và ban hành hiến pháp Hình thức này được tổ chức đầu tiên ở Mỹ dưới tên gọi là Hội đồng lập hiến Philadenphia năm 1787 hay ở Italy năm 1947, Bồ Đào Nha năm 1976, Rumani năm 1991 v.v Quốc hội hay hội nghị lập hiến có thể vừa là
cơ quan soạn thảo vừa là cơ quan ban hành hiến pháp (toàn quyền lập hiến) hoặc chỉ có chức năng soạn thảo, còn việc ban hành sẽ
do cơ quan khác hoặc do kết quả trưng cầu ý dân quyết định (thẩm quyền hạn chế) Ở dạng thứ hai, quốc hội đương nhiệm lập hiến thường lập ra uỷ ban soạn thảo hiến pháp gồm các thành phần đa dạng, từ đại diện của
T
* Viện nghiên cứu lập pháp Văn phòng Quốc hội
Trang 2cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cho
đến đại diện của tổ chức, đảng phái, các
chuyên gia có tên tuổi Ủy ban này hoạt
động lâm thời, tự giải tán sau khi trình dự
thảo hiến pháp lên quốc hội để thảo luận và
thông qua Thông thường, việc thảo luận bao
giờ cũng gồm hai vòng Vòng thứ nhất, quốc
hội thảo luận về dự thảo của ban soạn thảo
và quyết định việc đưa dự thảo hiến pháp ra
thảo luận toàn dân Vòng thứ hai, trên cơ sở
kết quả thảo luận toàn dân, quốc hội thông
qua hiến pháp hoặc để cử tri phúc quyết (nếu
hiến pháp quy định)
Thứ hai, hiến pháp chỉ điều chỉnh những
quan hệ cơ bản, chủ đạo mang tính nguyên
tắc và nền tảng nhất nhằm phản ánh, bảo
đảm và bảo vệ những lợi ích sống còn của
các lực lượng xã hội làm nền tảng pháp lí
cho đường lối chính trị chủ đạo về phát triển
đất nước và xã hội
Việc điều chỉnh quan hệ này thể hiện
tính chất chính trị, pháp lí, xã hội và nhân
văn của hiến pháp Tính chính trị(1)
được thể hiện qua việc hiến pháp quy định về những
công việc của nhà nước mà tập trung nhất là
cơ cấu quyền lực nhà nước; về mối quan hệ
giữa quyền lực nhà nước với quyền lực nhân
dân; về mối quan hệ của hệ thống chính trị
và vị trí của quốc gia trong cộng đồng quốc
tế Tính pháp lí được thể hiện qua các quy
định mang tính xác lập, mục đích và định
hướng, tức là trong hiến pháp không có
nhiều quy định mang tính điều chỉnh áp
dụng trực tiếp mà chủ yếu là các quy định
làm nền tảng, căn cứ chủ đạo cho việc ban
hành toàn bộ các văn bản pháp lí khác của
nhà nước, là cơ sở định hướng hoạt động của
tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trị-xã hội cũng như hành vi và ý thức pháp luật của công dân Tính xã hội của hiến pháp được thể hiện qua các quy định phản ánh chính xác mối tương quan thực tế của các lực lượng xã hội và hướng tới sự đồng thuận
xã hội; là sự ghi nhận và thể hiện những giá trị xã hội được toàn xã hội chấp nhận và chia
sẻ như tự do, công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa dân tộc v.v
Thứ ba, Hiến pháp có đối tượng áp dụng
rộng, phạm vi điều chỉnh có thể rộng hoặc hẹp nhưng luôn mang tính cơ bản, ổn định
và điển hình
Đối tượng áp dụng của hiến pháp là trên toàn bộ lãnh thổ và đối với nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân Phạm vi điều chỉnh của hiến pháp hiện có 2 trường phái là rộng và hẹp Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh hẹp như Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp Na Uy (thường chỉ điều chỉnh về tổ chức nhà nước như hình thức chính thể, chế độ liên bang, tổ chức, hoạt động, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước và các quyền con người, quyền công dân) Tuy nhiên, bên cạnh hiến pháp còn có khá nhiều đạo luật mang tính cơ bản khác điều chỉnh các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, nhất là các vấn đề xã hội và được coi là phần không thể tách rời của hiến pháp Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh rộng ra đời từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ I và đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới lần II mà khởi đầu là Hiến pháp Mexico năm 1917, sau đó là Hiến pháp Weimar của CHLB Đức năm 1919 Nó không chỉ điều chỉnh các vấn đề về tổ chức nhà nước, quyền con người, quyền công dân mà còn cả các vấn đề khác như kinh tế-xã hội, đất đai, vấn
Trang 3đề độc quyền, lao động, các thiết chế như
nhà thờ, trường học v.v Sự điều chỉnh ở
phạm vi rộng như vậy xuất phát từ đòi hỏi
ghi nhận và củng cố những thành quả của
cách mạng mang màu sắc chống phong kiến
và đế quốc ngoại bang đồng thời làm thoả
mãn đòi hỏi và mong muốn của quảng đại
các tầng lớp nhân dân Mặc dù phạm vi điều
chỉnh có thể rộng hoặc hẹp nhưng đó luôn là
các quan hệ cơ bản, điển hình, ổn định nhất
Chính đặc trưng này đã quyết định đến
phương pháp điều chỉnh và mức độ điều
chỉnh của hiến pháp Theo đó, phương pháp
điều chỉnh theo chức năng là chủ yếu (các
quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là
không phổ biến) với các quy phạm mang
tính quy tắc và quy phạm định nghĩa Mức
độ điều chỉnh của hiến pháp là khác nhau đối
với các nhóm quan hệ Thông thường, hiến
pháp chỉ quy định mang tính nguyên tắc đối
với nhóm quan hệ về kinh tế-xã hội, còn đối
với các nhóm quan hệ về quyền con người,
quyền công dân, tổ chức bộ máy nhà nước
thì quy định cụ thể và có hiệu lực ngay
Thứ tư, hiến pháp mang tính tối cao (tính
trội), tức là do hiến pháp có các quy phạm mang
tính cơ bản của "quyền lập quyền" – quyền ấn
định và tổ chức các quyền khác, các quyền
khác đi từ quyền lập hiến(2)
nên có giá trị pháp lí cao nhất, tất cả các văn bản khác đều
phải phù hợp với hiến pháp, nếu không phù
hợp sẽ bị coi là vi hiến và không có giá trị
Hiện tại, các nhà khoa học pháp lí đều có
quan niệm giống nhau về xu hướng phát
triển của hiến pháp và cho rằng xu hướng
thứ nhất là hiến pháp luôn mang tính lịch sử
thời đại, phản ánh hiện thực xã hội; ghi nhận
những thành quả, giá trị văn minh của nhân
loại cũng như của quốc gia trong giai đoạn lịch sử nhất định
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra 3 mô hình hiến pháp qua các giai đoạn lịch sử để chứng minh luận điểm này Theo đó, mô hình thứ nhất - “mô hình hiến pháp tư sản tự do” ra đời trong cách mạng tư sản Trong điều kiện chống cường quyền và giành chính quyền từ tay giai cấp phong kiến nên: 1) Tư tưởng chủ đạo của hiến pháp giai đoạn này là tư tưởng đấu tranh chống chế độ chuyên chế chà đạp con người và các quyền cơ bản của con người, đòi hỏi thực hiện các quyền và tự do mang bản chất tự nhiên, không thể tước đoạt của con người; đòi hỏi về chế độ cai trị dân chủ dưới hình thức chính thể cộng hoà, chế độ đại nghị, thực hiện quyền bầu cử hạn chế; 2) Nội dung cốt lõi của hiến pháp tập trung chủ yếu vào việc quy định các quyền con người, hạn chế quyền lực thông qua việc quy định về tổ chức quyền lực nhà nước nên các quy định mang màu sắc dân chủ về mặt chính trị chiếm
vị trí rõ nét, chủ đạo và chưa có bóng dáng của lĩnh vực dân chủ về xã hội cũng như các quyền về kinh tế-xã hội như quyền về lao động, nghỉ ngơi, hưu trí, trợ cấp, giáo dục, y
tế, văn hoá v.v
Mô hình thứ hai - “mô hình hiến pháp dân chủ theo định hướng xã hội” ra đời sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 với sự thành lập Nhà nước Xô viết Hiến pháp giai đoạn này chịu ảnh hưởng của các tư tưởng xã hội châu Âu và
Mỹ Latin với trào lưu “chủ nghĩa lập hiến xã hội” nên mục tiêu cơ bản là nâng cao đời sống về kinh tế, xã hội và văn hoá cho nhân dân, xác định những đòi hỏi về công bằng xã hội, về chức năng xã hội của chế độ tư hữu
Trang 4Mô hình thứ ba - “mô hình hiến pháp của
chủ nghĩa lập hiến hiện đại” ra đời trong thời
kì hậu công nghiệp, thời đại thông tin với
những đòi hỏi về xã hội cởi mở, dân chủ tiến
bộ, công bằng hơn, chống lại xu thế phân hoá
giàu nghèo, tệ quan liêu, nạn tham nhũng và
tội phạm Do đó, hiến pháp đóng vai trò
khẳng định những giá trị bất biến và tiến bộ
mà các thế hệ con người đã khó khăn lắm mới
giành và tạo được như chế độ đa sở hữu, tự
do kinh doanh, dân chủ và quyền lực của nhân
dân, các quyền kinh tế-xã hội, đặc biệt là quyền
của các nhóm xã hội yếu thế và thiểu số;
nguyên tắc phân quyền và sự kiểm soát đối
với quyền lực, khả năng tiếp cận thông tin và
tiếp cận công lí, sự độc lập và vai trò nổi trội
của toà án; chế độ tự quản và tự trị địa phương
Đối với quốc gia cũng vậy, hiến pháp luôn
là văn bản phản ánh tương quan lực lượng xã
hội và ghi nhận những giá trị thiết yếu nhất
của quốc gia vào thời điểm lập hiến Ví dụ,
Hiến pháp của Việt Nam năm 1946, Hiến
pháp của Cộng hoà Hàn Quốc năm 1948… có
nội dung chủ yếu là tuyên bố sự độc lập và
bảo vệ chủ quyền quốc gia, ghi nhận lòng yêu
nước sâu sắc và chống chủ nghĩa thực dân -
hiến pháp được coi như là phương tiện để
nhân dân được giải phóng khỏi thế lực thực
dân Hiến pháp Nhật Bản năm 1889 (Hiến
pháp Minh Trị), nội dung chủ yếu là khẳng
định sự tồn tại, củng cố tài sản, quyền lực và
sự thịnh vượng của Nhật Hoàng mà không
quy định về tự do của nhân dân nhưng đến
Hiến pháp năm 1947, sau Chiến tranh thế giới
lần thứ II, dưới áp lực của nước ngoài đã từ
bỏ chế độ vương quyền, ghi nhận các quyền
tự do dân chủ và hoà bình
Như vậy, với xu thế này thì hiến pháp
của mỗi quốc gia không thể bất biến Nó
luôn cần có sự sửa đổi, bổ sung nhằm phản ánh kịp thời sự phát triển của quốc gia, của nhân loại và nội dung của nó cũng thay đổi theo xu hướng ngày càng mở rộng Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào quan điểm lập hiến và điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia mà việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp ở đó có thể được thực hiện dễ hơn với nhiều lần trong thời gian ngắn (10 - 20 năm) hoặc khó hơn với thời gian dài (hàng trăm năm)
Xu hướng thứ hai, theo các nhà khoa học thì hiến pháp các nước đang có xu thế
“hoà nhập” với nhau về những tư tưởng, giá trị tiến bộ của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại nhưng lại luôn phản ánh và có mối quan hệ chặt chẽ với các đặc trưng văn hoá truyền thống lịch sử quốc gia
Các nhà khoa học cho rằng việc xây dựng chính quyền hợp hiến cùng với hệ thống pháp luật được tiến hành như bộ phận tất yếu của tiến trình hiện đại hoá;(3)
những quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa hiến pháp như thuyết
“tam quyền phân lập” (separation of power),
“kìm chế và đối trọng” (check and balance),
“nhân quyền” (human right), “tài phán tư pháp” (judicial review), “tư pháp độc lập” (judicial independence) và “pháp quyền” (rule of law)… đang được nhiều quốc gia quan tâm và thể hiện trong hiến pháp Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhận định hiến pháp luôn phản ánh và có mối quan hệ chặt chẽ với các đặc trưng văn hoá truyền thống lịch sử quốc gia Bởi lẽ, trong bất cứ xã hội nào, luật pháp là một phần của văn hoá và phải vận hành trong sự tương tác với các bộ phận khác của văn hoá;(4)
sức mạnh của luật pháp và đặc biệt là hiến pháp bắt nguồn từ sự gắn kết của nó với văn hoá và sự ủng hộ mạnh mẽ của văn hoá đối với chủ nghĩa hợp
Trang 5hiến là tiền đề quan trọng cho sự ổn định và
thành công của chính quyền hợp hiến.(5)
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa lập hiến phương
Tây dựa trên những nguyên tắc đạo đức của
truyền thống Thiên Chúa giáo; ở châu Á -
Thái Bình Dương dựa trên những truyền
thống tôn giáo khác nhau như Đạo Hindu,
Đạo Phật, Đạo Hồi; ở Trung Quốc tiếp tục
phản ánh các giá trị đạo đức của Khổng
giáo;(6) chủ nghĩa hợp hiến Mỹ dựa trên
truyền thống Thiên Chúa giáo.(7)
Như vậy, với xu thế này, việc xây dựng
hiến pháp Việt Nam không chỉ là nghiên cứu
bổ sung những quan điểm tiến bộ của chủ
nghĩa hiến pháp mà còn cần hoàn thiện theo
hướng phù hợp với những quan điểm, tư
tưởng trong nước và hoàn cảnh, điều kiện
truyền thống của nước mình./
(1).Xem: Nguyễn Văn Bông, Luật hiến pháp và chính
trị học, Sài Gòn 1967, tr 44
(2).Xem: Nguyễn Văn Bông, sđd, tr 53
(3).Xem: Jiunn-Rong Yen & Wen-Chen Chang, “The
emergence of East Asia Constitutionalism: features in
comparision”, ASLI Working Paper, No 006, Augest
2009, www.law.nus.sg/asli/pub/wps.htm
(4).Xem: Chaihark Hahm, “Constitutionalism, Confucian
Civic Culture, and Ritual Propriety” in Daniel A.Bell
and Hahm Chaibong (eds), Confucianism for the
Modern World (U.S.A Cambridge University Press,
2003) p 39
(5).Xem: Daniel P Franklin and Michael J Baun
(eds), Political Culture and Constitutionalism: A
Comparative Approach (Armonk, New York;
London, England: M.E Sharpe, Inc, 1995), p 222
(6).Xem: Graham Hassall and Cheryl Saunders , Asia-
Pacific constitutional systems (Cambridge, New York,
Melbourne, Madrid, Cape Town, Singapore, São Paulo:
Cambridge University Press, 2002), p 42, 43
(7).Xem: H Fefferson Powell, The Moral Tradition
of American Constitutionalism (Duke Univeristy
Press, 1993); Sanford Levinson, Constitutional Faith
(New Jersey: Princeton University Press, 1988)
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH
BẢO ĐẢM (tiếp theo trang 54)
“Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp và có giá trị pháp lí đối với người thứ ba thì toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác không được kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Theo quy định của Luật thi hành án,
“Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, chấp hành viên có quyền kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án”
(khoản 1 Điều 60)
Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định này là không thống nhất Có trường hợp cơ quan thi hành án coi đây là “tài sản có tranh chấp” và gửi thông báo yêu cầu ngân hàng thực hiện việc khởi kiện tại toà án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo, nếu không sẽ xử lí tài sản để thi hành án Điều này đã gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng và không phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan Có ý kiến cho rằng đây là
do cách hiểu chưa đúng của cơ quan thi hành
án Tuy nhiên, để tránh việc hiểu sai, pháp luật cần quy định cụ thể, rõ ràng vì pháp luật được ban hành và hướng tới cả cơ quan thực thi pháp luật và chủ thể khác Bên cạnh đó việc định giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án và việc định giá khi nhận tài sản bảo đảm, xử lí tài sản bảo đảm là khác nhau, dẫn đến những khó khăn nhất định khi
xử lí tài sản trong trường hợp này./