1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Về phương pháp nghiên cứu của tội phạm học " pot

9 1,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 185,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là cách thức chung chứng minh những luận điểm khoa học phán đoán khoa học bằng các luận cứ thực tiễn bằng chứng được thu thập từ trong thực tế bằng quan sát, thực nghiệm.2 Khác với c

Trang 1

PGS.TS Lª ThÞ S¬n *

1 Các quan niệm phổ biến về tội phạm

học đều phản ánh đặc điểm liên quan đến

phương pháp nghiên cứu của tội phạm học

khi khẳng định tội phạm học được coi là

khoa học thực nghiệm Tội phạm học cũng

như các khoa học thực nghiệm khác có liên

quan như xã hội học, tâm lí học cùng có

chung phương pháp khoa học của các khoa

học xã hội thực nghiệm - phương pháp

nghiên cứu thực nghiệm.(1)

Đó là phương pháp nghiên cứu tổng quát của các ngành

khoa học xã hội thực nghiệm nói chung và

của tội phạm học nói riêng Đây là những

ngành khoa học mà quá trình khám phá, tích

lũy và củng cố những kiến thức mới, những

học thuyết mới về đối tượng nghiên cứu của

mình (thuộc về các hiện tượng, sự kiện và

các quá trình xã hội) đều được thực hiện

thông qua các quá trình nghiên cứu khoa học

bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Đó là cách thức chung chứng minh những

luận điểm khoa học (phán đoán khoa học)

bằng các luận cứ thực tiễn (bằng chứng)

được thu thập từ trong thực tế bằng quan sát,

thực nghiệm.(2)

Khác với các khoa học thực nghiệm, các khoa học lí thuyết hay phi thực

nghiệm có phương pháp nghiên cứu tổng

quát là phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm phân

biệt với phương pháp nghiên cứu lí thuyết

chủ yếu ở cách tiếp cận đối tượng nghiên

cứu và cách thu thập thông tin, dữ liệu xây

dựng luận cứ khoa học hay gọi là “bằng

chứng” chứng minh cho luận điểm khoa học Trong khi nghiên cứu thực nghiệm bắt đầu bằng sự quan sát đối tượng nghiên cứu trong thực tế và phát hiện vấn đề nghiên cứu khoa học, đưa ra luận điểm khoa học bắt nguồn từ

sự quan sát đó thì nghiên cứu lí thuyết bắt đầu bằng việc tìm hiểu các tri thức lí luận (những lí thuyết, quan điểm ) và trên cơ sở

đó đưa ra vấn đề nghiên cứu khoa học, luận điểm khoa học Trong khi nghiên cứu thực nghiệm là quá trình tổ chức chứng minh phán đoán khoa học bằng các luận cứ thực tiễn (sự kiện thể hiện dưới dạng thông tin) được thu thập từ trong thực tế bằng cách quan sát hay thực nghiệm thì nghiên cứu lí thuyết là quá trình tổ chức chứng minh luận điểm khoa học bằng các luận cứ lí thuyết được thu thập từ tham khảo tài liệu bao gồm các quan điểm, luận điểm, tiền đề, các quy luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng.(3) Mỗi loại phương pháp tổng quát lại bao gồm các phương pháp nghiên cứu cụ thể đặc trưng Loại phương pháp nghiên cứu thực nghiệm có các phương pháp nghiên cứu cụ thể đặc trưng là các phương pháp quan sát (trực tiếp và gián tiếp) và thực nghiệm với ý nghĩa là các phương pháp thu thập dữ liệu để xây dựng luận cứ thực tiễn

Trong tội phạm học, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã được các nhà tội phạm học triển khai áp dụng một cách linh

* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

hoạt, phù hợp với đối tượng nghiên cứu của

mình Bên cạnh việc vận dụng các phương

pháp nghiên cứu cụ thể đặc trưng của loại

phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, các

nhà tội phạm học còn áp dụng nhiều phương

pháp cụ thể khác có tính chất tương tự để thu

thập các dữ liệu thực tiễn Vì được dùng cho

tất cả các ngành khoa học nên các phương

pháp nghiên cứu lí thuyết cụ thể, như phương

pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá, quy

nạp, diễn giải, logic cũng được kết hợp sử

dụng trong nghiên cứu tội phạm học, đặc biệt

trong xử lí dữ liệu được thu thập và chứng

minh luận điểm khoa học nhưng tất nhiên

những phương pháp này không thể là phương

pháp thu thập dữ liệu thực tiễn

2 Để hiểu về quá trình nghiên cứu tội

phạm học không thể không xuất phát từ quan

niệm chung về quá trình nghiên cứu khoa

học: “Toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học

chẳng qua là quá trình tìm kiếm các luận cứ

để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa

học Ứng với mỗi loại nghiên cứu trong tội

phạm học, quá trình nghiên cứu thực nghiệm

- tội phạm học là quá trình tìm kiếm các luận

cứ thực tiễn để chứng minh hoặc bác bỏ giả

thuyết dưới dạng là “một hoặc một số nhận

của nghiên cứu tội phạm học hay gọi là luận

điểm khoa học của nhà tội phạm học

Xét về nội dung hoạt động, quá trình

nghiên cứu khoa học nói chung cũng như quá

trình nghiên cứu thực nghiệm - tội phạm học

nói riêng bao gồm hai loại hoạt động cơ bản:

1) Tìm kiếm luận cứ khoa học và 2) Tổ chức

luận cứ để chứng minh luận điểm khoa học

Cụ thể, nghiên cứu thực nghiệm - tội phạm

học là quá trình thu thập dữ liệu thực tiễn và

quá trình xử lí dữ liệu, kiểm chứng giả thuyết được đưa ra Khi thực hiện mỗi loại hoạt động cơ bản này, các nhà nghiên cứu tội phạm học cần thiết phải áp dụng những phương pháp cụ thể thích hợp Theo đó, cũng có thể phân chia các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm – tội phạm học thành hai nhóm: Thứ nhất là nhóm phương pháp tìm kiếm luận cứ thực tiễn và thứ hai là nhóm phương pháp tổ chức luận cứ thực tiễn để chứng minh luận điểm khoa học Nhóm phương pháp tìm kiếm luận cứ thực tiễn bao gồm các phương pháp tiếp cận để thu thập dữ liệu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu Nhóm phương pháp tổ chức luận cứ thực tiễn

để chứng minh luận điểm khoa học bao gồm các phương pháp xử lí dữ liệu và phương pháp kiểm chứng giả thuyết khoa học

2.1 Phương pháp tiếp cận để thu thập dữ liệu

Nhận thức về phương pháp tiếp cận để thu thập dữ liệu trong nghiên cứu tội phạm học được dựa trên quan niệm chung về tiếp cận để thu thập thông tin trong nghiên cứu

khoa học Theo đó, “Tiếp cận là sự lựa chọn

chỗ đứng để quan sát đối tượng nghiên cứu,

là cách thức xử sự, xem xét đối tượng nghiên

Trong nghiên cứu tội phạm học, lựa chọn phương pháp tiếp cận là sự cân nhắc về nguồn cung cấp dữ liệu hay nói cách khác là nơi có thể thu thập được dữ liệu Tương ứng với nguồn cung cấp dữ liệu là các phương pháp thu thập dữ liệu thích hợp cụ thể được lựa chọn Xác định nguồn cung cấp dữ liệu hay “chỗ đứng” để quan sát đối tượng nghiên cứu là bước bắt đầu của quá trình thu thập dữ liệu Trong nghiên cứu tội phạm học, các cách tiếp cận thường được cân nhắc là: Tiếp cận định lượng hoặc định tính; Tiếp cận thực

Trang 3

nghiệm hoặc tiếp cận quan sát; Tiếp cận tổng

thể hoặc tiếp cận bộ phận

- Về tiếp cận định lượng và tiếp cận

định tính:

Tiếp cận định lượng là cách xem xét đối

tượng nghiên cứu thông qua các đặc điểm về

lượng để đi đến nhận thức về bản chất của đối

tượng nghiên cứu Dữ liệu cần thu thập theo

cách tiếp cận này thường tồn tại dưới dạng số

liệu Theo đó, đối tượng nghiên cứu được

xem xét thông qua các số liệu được thu thập

đã được phân loại, đo lường, thống kê và

bảng biểu hoá Với tiếp cận định lượng người

nghiên cứu sẽ hướng vào việc thiết kế các

phương pháp có thể thu thập được dữ liệu định

lượng, như điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn,

điều tra tự thuật, phân tích thứ cấp dữ liệu

Trong nghiên cứu tội phạm học, phương pháp

tiếp cận định lượng ngày càng có ý nghĩa lớn

hơn và được áp dụng phổ biến hơn.(7)

Khác với phương pháp tiếp cận định

lượng, tiếp cận định tính là cách xem xét đối

tượng nghiên cứu thông qua ý nghĩ hay sự

hiểu về bản chất của đối tượng nghiên cứu Dữ

liệu thu thập được theo cách tiếp cận này mang

tính chất cảm tính, thường dưới dạng câu từ,

hình ảnh từ tài liệu, từ quan sát và sao chép

Với tiếp cận định tính người nghiên cứu

thường hướng vào việc lựa chọn các phương

pháp thu thập dữ liệu định tính, như nghiên

cứu trường hợp và quan sát có tham gia

- Về tiếp cận thực nghiệm và tiếp cận

quan sát:

Tiếp cận thực nghiệm là cách xem xét đối

tượng nghiên cứu trong hoàn cảnh được bố trí,

trong đó có sự gây tác động biến đổi nhất định

lên đối tượng nghiên cứu Tiếp cận thực nghiệm

còn được gọi là cách xem xét đối tượng nghiên

cứu bằng quan sát có kiểm soát Lựa chọn cách tiếp cận thực nghiệm có nghĩa là lựa chọn cách thu thập dữ liệu bằng thực nghiệm

Tiếp cận quan sát là cách xem xét đối tượng nghiên cứu thông qua quan sát (không tác động đến) đối tượng nghiên cứu Vì vậy, phương pháp này còn được gọi là tiếp cận không thực nghiệm Tiếp cận quan sát hướng vào việc lựa chọn cách thu thập dữ liệu khác không phải bằng thực nghiệm

Lựa chọn cách tiếp cận thực nghiệm hay các tiếp cận quan sát còn được gọi là lựa chọn trật tự nghiên cứu(8)

vì sự lựa chọn này quyết định quá trình nghiên cứu sẽ được thực hiện như thế nào và bằng phương pháp thu thập dữ liệu nào

- Về tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận: Nghiên cứu tội phạm học là nghiên cứu thực tại xã hội thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Có hai cách tiếp cận thực tại

xã hội: Tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận(9) hay còn được gọi là nghiên cứu tổng thể và nghiên cứu không tổng thể Tiếp cận tổng thể

là cách xem xét đối tượng nghiên cứu với tất

cả các đơn vị của tổng thể Tuy nhiên, cách tiếp cận này có hạn chế là chỉ có thể tập trung được vào một số ít đặc điểm của đối tượng nghiên cứu vì điều kiện không cho phép xem xét được tất cả các đặc điểm Trong nhiều trường hợp, điều kiện thực tế và nguồn lực không cho phép người nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận tổng thể mà phải lựa chọn cách tiếp cận bộ phận, là cách xem xét đối tượng nghiên cứu thông qua một bộ phận đại diện Theo cách tiếp cận này một bộ phận các đơn

vị thuộc tổng thể của đối tượng nghiên cứu được chọn ra và được xem xét, nghiên cứu sao cho những dữ liệu được thu thập đảm

Trang 4

bảo được tính đại diện cho tổng thể Điều

này có nghĩa là trên cơ sở xem xét, nghiên

cứu những dữ liệu thu thập được từ bộ phận

đơn vị có thể suy ra được tổng thể Tiếp cận

bộ phận đòi hỏi phải tiến hành chọn mẫu để

tìm kiếm dữ liệu như chọn nhóm đối tượng

để tiến hành điều tra bằng bảng hỏi, bằng

phỏng vấn Nói cách khác, nếu chọn cách

tiếp cận bộ phận thì khi tiến hành các phương

pháp thu thập dữ liệu cụ thể, người nghiên

cứu phải xác định phạm vi đối tượng cần

được khai thác dữ liệu Khi thực hiện chọn

mẫu trong nghiên cứu khoa học nói chung và

trong nghiên cứu tội phạm học nói riêng,

người nghiên cứu cần thiết phải lựa chọn và

sử dụng phương pháp chọn mẫu thích hợp để

đảm bảo những dữ liệu thu thập được từ mẫu

được chọn thực sự mang tính đại diện cho

tổng thể của các đơn vị nghiên cứu.(10)

2.2 Phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu tội phạm học có hai

nhóm cách chọn mẫu Thứ nhất là nhóm

cách chọn mẫu xác xuất và thứ hai là nhóm

cách chọn mẫu phi xác xuất Một số cách

chọn mẫu tiêu biểu thuộc nhóm thứ nhất là

cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn

mẫu ngẫu nhiên hệ thống, chọn mẫu phân

tầng Nhóm thứ hai bao gồm các cách tiêu

biểu như chọn mẫu thuận tiện, chọn mẫu

phán đoán, chọn mẫu tự nguyện.(11)

Trong các cách chọn mẫu nêu trên, các

cách chọn mẫu xác xuất được sử dụng phổ

biến hơn vì đảm bảo được cao nhất về độ tin

cậy và tính đại diện của các dữ liệu được thu

thập từ các đơn vị được chọn mẫu Các cách

chọn mẫu phi xác xuất mang tính khoa học ít

hơn nên ít khi được dùng để thu thập dữ liệu

cơ bản của nghiên cứu

2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu

Trong nghiên cứu tội phạm học thường

áp dụng các phương pháp thu thập dữ liệu chính sau:

- Phương pháp thực nghiệm;

- Phương pháp quan sát có tham gia;

- Phương pháp điều tra bằng hỏi - trả lời (gồm: Điều tra bằng bảng hỏi; phỏng vấn và điều tra tự thuật);

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp;

- Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu Các phương pháp thu thập dữ liệu có thể được phân loại theo các cách khác nhau Căn

cứ vào cách thức tiến hành, có thể phân chia các phương pháp thu thập dữ liệu thành phương pháp thực nghiệm và các phương pháp quan sát hay phi thực nghiệm (bao gồm các phương pháp còn lại) Căn cứ vào tính chất của dữ liệu được thu thập có thể phân chia thành các phương pháp thu thập dữ liệu định lượng và các phương pháp thu thập dữ liệu định tính Căn cứ vào nguồn gốc của dữ liệu được thu thập có thể phân biệt phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu với các phương pháp thu thập dữ liệu mới còn lại

- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp thực nghiệm là phương pháp thu thập dữ liệu từ những quan sát về tác động của những biến đổi được gây ra có chủ định cho một yếu

tố (biến độc lập) đối với một yếu tố khác (biến phụ thuộc) Để thực hiện phương pháp này trong nghiên cứu tội phạm học cần phải lựa chọn hai nhóm thuộc đối tượng nghiên cứu: Nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm tra Nhóm thực nghiệm là nhóm nhận được điều kiện thực nghiệm, như sự xử lí hay can thiệp

có chủ định ở những biến độc lập Sau khi thực hiện sự xử lí hay can thiệp sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá về kết quả thay đổi của

Trang 5

những tác động này bằng cách so sánh giữa

nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm tra ở những

biến phụ thuộc Ví dụ: So sánh mức độ tái

nghiện của nhóm người được thực hiện biện

pháp hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng để có việc

làm (nhóm thực nghiệm) sau ba năm với

nhóm người tương ứng không được áp dụng

biện pháp này (nhóm kiểm tra)

Trong nghiên cứu tội phạm học có hai

cách chọn nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm

tra Đó là cách chọn ngẫu nhiên và cách

chọn tương xứng Cách chọn ngẫu nhiên là

cách chọn truyền thống của phương pháp

thực nghiệm theo đúng nghĩa Còn cách

chọn tương xứng là cách chọn của thực

nghiệm gần giống.(12)

Cách chọn tương xứng

là cách chọn căn cứ vào sự tương xứng về

một số đặc điểm, như tuổi, giới tính của

những người được chọn vào nhóm thực

nghiệm hay nhóm kiểm tra

Phương pháp thực nghiệm thường được

áp dụng trong nghiên cứu giải thích về

nguyên nhân của tội phạm và đánh giá về

hiệu quả kiềm chế và ngăn ngừa tội phạm

của hoạt động của các cơ quan kiểm soát tội

phạm như cảnh sát, kiểm sát, toà án và thi

hành án hình sự

- Quan sát có tham gia: Quan sát có tham

gia là loại quan sát, trong đó quan sát được

hiểu là phương pháp thu thập thông tin qua

các tri giác nghe, nhìn Nguồn thông tin ở đây

là toàn bộ hành vi của người được quan sát và

dữ liệu là toàn bộ những ghi chép, hình ảnh từ

quan sát Trong xã hội học, người ta có thể

phân chia phương pháp này thành nhiều loại

quan sát khác nhau, trong đó có quan sát có

tham gia và quan sát không có tham gia.(13)

Quan sát có tham gia là quan sát mà người

quan sát tham gia vào hoạt động của những người được quan sát Đây là loại quan sát được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu tội phạm học vì tính có hiệu quả cao hơn của nó

Do tham gia vào hoạt động của người được quan sát nên người quan sát dễ dàng thâm nhập, cảm nhận và hiểu sâu sắc đối tượng nghiên cứu Người quan sát có thể thực hiện quan sát bí mật hay công khai đối với người được quan sát Quan sát bí mật có thể là tốt hơn đối với người được quan sát nhưng sẽ là khó khăn hơn đối với người quan sát Quan sát bí mật sẽ tránh được sự căng thẳng cho người được quan sát nhưng đòi hỏi người quan sát phải thâm nhập được vào nhóm người được quan sát Trong nghiên cứu tội phạm học, quan sát có tham gia thường được

sử dụng để thu thập dữ liệu định tính

- Điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp thu thập dữ liệu qua hỏi và trả lời dưới dạng viết Đây vốn là phương pháp thu thập thông tin của xã hội học với tên gọi là điều tra xã hội Phương pháp này cũng được áp dụng phổ biến trong nghiên cứu tội phạm học Khi thực hiện phương pháp này, đòi hỏi người nghiên cứu trước tiên phải chuẩn bị bảng câu hỏi và sau

đó là lựa chọn đối tượng được hỏi (chọn mẫu khảo sát) Bảng câu hỏi sẽ được gửi đến đối tượng được hỏi và người này gửi lại trả lời dưới dạng viết Trả lời của đối tượng được hỏi chính là dữ liệu được thu thập và được

xử lí để xây dựng luận cứ thực tiễn

Bảng câu hỏi là tập hợp các câu hỏi được thiết kế bởi nhà nghiên cứu Có thể có nhiều cách thiết kế câu hỏi khác nhau, như câu hỏi

về sự kiện và câu hỏi về quan điểm, ý kiến của người được hỏi Ứng với từng loại câu

Trang 6

hỏi sẽ có mẫu câu hỏi thích hợp Mẫu câu hỏi

kín là dạng câu hỏi đưa sẵn một số phương án

trả lời để người được hỏi lựa chọn một trong

số các phương án đó Mẫu câu hỏi mở là dạng

câu hỏi không có sẵn phương án trả lời mà để

cho người được hỏi tự viết câu trả lời theo

quan điểm hoặc ý kiến riêng của mình

- Phỏng vấn: Phỏng vấn là phương pháp

thu thập dữ liệu bằng cách hỏi người đối

thoại (tức là hỏi và trả lời bằng lời nói)

Cũng giống như phương pháp điều tra bằng

bảng hỏi, phỏng vấn được coi như cách quan

sát gián tiếp mà người trực tiếp quan sát là

người được hỏi Dữ liệu thu thập bằng

phương pháp này là những ghi chép về toàn

bộ câu trả lời và về toàn bộ hành vi của

người được phỏng vấn mà người nghiên cứu

quan sát được trong suốt thời gian phỏng

vấn Phương pháp phỏng vấn có thể được

thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Người

nghiên cứu phải lựa chọn loại phỏng vấn

thích hợp để thu thập dữ liệu phục vụ cho

việc xây dựng luận cứ thực tiễn Một số loại

phỏng vấn có thể được lựa chọn:

+ Phỏng vấn cấu trúc và phỏng vấn

không cấu trúc;

+ Phỏng vấn sâu và phỏng vấn để biết;

+ Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm;

+ Phỏng vấn một lần và phỏng vấn nhiều lần;

+ Phỏng vấn qua tiếp xúc trực tiếp và

phỏng vấn qua điện thoại

- Điều tra tự thuật: Điều tra tự thuật là

phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách hỏi

và người trả lời tự báo cáo hay tự thuật về

trải nghiệm của chính họ Phương pháp này

thường được dùng để thu thập dữ liệu trong

nghiên cứu về tội phạm ẩn bằng cách hỏi

nhóm người thử nghiệm về những tội phạm

mà họ đã từng thực hiện mà không bị phát hiện Ngoài ra, phương pháp này cũng được thực hiện để thu thập dữ liệu trong nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm và việc trở thành nạn nhân của họ

- Nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu trường hợp là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách điều tra sâu về số ít trường hợp riêng biệt Dữ liệu được thu thập ở đây không phải là những thông tin về một số đặc điểm nào đó của hiện tượng hay sự việc thuộc đối tượng nghiên cứu mà là những thông tin rất chi tiết và toàn diện về trường hợp riêng biệt Để thu thập dữ liệu người nghiên cứu có thể sử dụng nhiều kĩ thuật điều tra khác nhau, như quan sát trường hợp, phỏng vấn sâu, nghiên cứu hồ sơ Ý nghĩa đặc biệt của nghiên cứu trường hợp thể hiện

ở chỗ từ nghiên cứu trường hợp cụ thể sẽ cho nhận biết về những trường hợp tương tự

- Phân tích thứ cấp dữ liệu: Các phương pháp thu thập dữ liệu được đề cập trên đều là các phương pháp tạo ra dữ liệu mới Khác với các phương pháp này phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu không phải là cách tìm kiếm và hình thành dữ liệu mới mà là cách

sử dụng những dữ liệu sẵn có đã được hình thành ban đầu vì mục đích khác (như để thống kê kết quả hoạt động của các cơ quan kiểm soát tội phạm, lập hồ sơ để truy cứu trách nhiệm hình sự ) để khai thác thông tin phục vụ nghiên cứu tội phạm học Các dữ liệu gốc sẵn có có thể là các số liệu thống kê tư pháp về tội phạm, về người phạm tội, về nạn nhân của tội phạm; các vụ án hình sự; các số liệu thống kê xã hội hay các hồ sơ, tài liệu lịch sử được lưu trữ Các dữ liệu gốc này được phân tích, chọn lọc và sử dụng để hình

Trang 7

thành dữ liệu trong nghiên cứu tội phạm học

Trong đó, các số liệu thống kê tư pháp và các

hồ sơ vụ án là những dữ liệu được phân tích

và sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu

tội phạm học Các loại số liệu thống kê tư

pháp thường được sử dụng kết hợp với các

số liệu thống kê xã hội, các tài liệu sẵn có

khác để nghiên cứu, đánh giá thậm chí cả so

sánh về mức độ của tội phạm, cơ cấu của tội

phạm và kiểm soát tội phạm ở một đơn vị

địa lí nhất định, giữa các đơn vị địa lí khác

nhau và cả giữa các quốc gia khác nhau

Trong một số công trình nghiên cứu về

tội phạm học, phương pháp này được đề cập

là phương pháp phân tích nội dung hay phân

tích tài liệu mà hình thức cơ bản của phân

tích tài liệu trong nghiên cứu tội phạm học là

phân tích hồ sơ(14)

hoặc được gọi là phân tích

hồ sơ hay phân tích tài liệu.(15)

Dù được gọi với tên khác đi nhưng phương pháp này về

bản chất là phương pháp phân tích mới về

các dữ liệu sẵn có (đã được thu thập cho mục

đích khác) trong các hồ sơ hay tài liệu để rút

ra những dữ liệu cần thiết nhằm đáp ứng

mục tiêu nhất định của nghiên cứu thực

nghiệm - tội phạm học

2.4 Phương pháp xử lí dữ liệu

Trong nghiên cứu khoa học nói chung

cũng như trong nghiên cứu tội phạm học nói

riêng, các thông tin hay dữ liệu đã được thu

thập, dù dưới dạng định tính hay định lượng

đều phải được xử lí để xây dựng luận cứ,

phục vụ cho việc chứng minh hay bác bỏ giả

thuyết khoa học Có hai phương hướng xử lí

dữ liệu tương thích cho hai loại dữ liệu: Xử

lí toán học đối với các dữ liệu định lượng và

xử lí logic đối với các dữ liệu định tính.(16)

Xử lí toán đối với các dữ liệu định lượng là

sử dụng phương pháp thống kê để xác định quy luật thống kê của tập hợp các dữ liệu thu thập được dưới dạng số liệu Xử lí logic đối với các dữ liệu định tính là sử dụng phương pháp logic để đưa ra những phán đoán về bản chất và thể hiện những liên hệ logic của các hiện tượng thuộc đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp thống kê dữ liệu định lượng là cách xắp xếp các dữ liệu dưới dạng

số liệu để làm chúng bộc lộ các mối liên hệ

và xu thế vận động của đối tượng nghiên cứu Đây cũng có thể được coi là phương pháp sử dụng các kĩ thuật thống kê số liệu để phân tích số liệu nên còn được gọi là phương pháp phân tích thống kê.(17)

Quá trình thống

kê là quá trình áp dụng các kĩ thuật thống kê

để tạo ra các đại lượng thống kê phục vụ cho việc phân tích thống kê Thống kê có thể được phân định thành hai loại: Thống kê mô

tả và thống kê kiểm tra(18)

hay thống kê suy luận.(19)

Trong khi thống kê mô tả sử dụng các đại lượng thống kê để mô tả các dữ liệu được thu thập thì thống kê kiểm tra lại sử dụng các đại lượng thống kê để kiểm tra các giả thuyết hay phán đoán về mối quan hệ giữa các biến (hay các hiện tượng) Trong thống kê

mô tả, các đại lượng thống kê thường được sử dụng là số tuyệt đối (thể hiện quy mô của hiện tượng), số tương đối (thể hiện sự so sánh giữa hai mức độ khác nhau của hiện tượng),

số trung bình (số trung bình cộng số học), số mốt (tần số các giá trị phổ biến nhất), số trung

vị (số ở vị trí chính giữa trong dãy số được xắp xếp theo thứ tự).(20)

Trong thống kê kiểm tra, các hệ số tương quan được sử dụng (như một trong những công cụ đo mối quan hệ) để kiểm tra hướng và cường độ của mối quan

hệ giữa hai biến (hiện tượng).(21)

Trang 8

Số liệu sau khi được thông kê có thể

được trình bày dưới các dạng khác nhau từ

thấp đến cao, như con số rời rạc, bảng số

liệu, biểu đồ và đồ thị,(22)

trong đó, bảng số liệu và biểu đồ được sử dụng phổ biến hơn

cả trong nghiên cứu tội phạm học

Bảng số liệu được sử dụng để làm rõ tính

hệ thống, cấu trúc hoặc xu thế của các số

liệu Ví dụ: Để mô tả mức độ tội phạm ở một

địa phương A trong khoảng thời gian 10

năm, có thể sử dụng bảng số liệu về số vụ, số

người phạm tội ở địa phương này theo từng

năm và của cả 10 năm

Biểu đồ có thể được sử dụng đối với các

số liệu mang tính so sánh Để minh họa cho

mối tương quan giữa các số liệu so sánh, có

thể chuyển từ Bảng số liệu sang Biểu đồ

Tùy theo mục đích phân tích mà có thể sử

dụng một hoặc nhiều hình thức biểu đồ khác

nhau, như Biểu đồ hình cột; Biểu đồ hình quạt

(hình tròn); Biểu đồ tuyến tính (đường biểu

diễn); Biểu đồ bậc thang (thanh ngang)(23)

- Phương pháp logic trong xử lí các dữ

liệu định tính là cách đưa ra phán đoán về

bản chất và những mối liên hệ logic của các

hiện tượng thuộc đối tượng nghiên cứu Khi

thực hiện phương pháp này, người nghiên

cứu thường sử dụng sơ đồ để mô tả các mối

liên hệ trong cấu trúc của sự vật, hiện tượng

nghiên cứu Có một số loại sơ đồ có thể

dùng để thể hiện những mối liên hệ chủ yếu

giữa các sự vật, hiện tượng nghiên cứu, như

sơ đồ nối tiếp, sơ đồ song song, sơ đồ hình

cây, sơ đồ hỗn hợp, sơ đồ tương tác (24)

2.5 Phương pháp kiểm chứng giả thuyết

Kiểm chứng giả thuyết được thực hiện

bằng phương pháp chứng minh giả thuyết

hoặc phương pháp bác bỏ giả thuyết

Chứng minh giả thuyết là cách kiểm

chứng giả thuyết thường được gặp trong nghiên cứu khoa học nói chung (so với cách bác bỏ giả thuyết) Chứng minh là hình thức suy luận

mà trong đó tính chân xác của một phán đoán (luận điểm) được khẳng định dựa vào những luận cứ đã được công nhận về tính chân xác.(25) Trong nghiên cứu khoa học nói chung, có thể chứng minh giả thuyết bằng một trong hai phương pháp khác nhau: Chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp Tuy nhiên, phương pháp chứng minh trực tiếp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu tội phạm học Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh mà trong đó tính chân xác của giả thuyết được rút

ra một cách trực tiếp từ tính chân xác của các luận cứ Tức là dùng các luận cứ đúng để chứng minh cho giả thuyết đúng hay nói cách khác là giả thuyết đúng phải được chứng minh bởi luận cứ đúng

Trái lại trong chứng minh gián tiếp thì tính chân xác của luận điểm lại được chứng minh bằng tính phi chân xác của phản luận điểm.(26) Phương pháp bác bỏ giả thuyết là phương pháp chứng minh tính phi chân xác của một giả thuyết Cũng tương tự như chứng minh giả thuyết, bác bỏ giả thuyết cũng có thể được thực hiện bằng cách bác bỏ trực tiếp và bác bỏ gián tiếp.(27)

Tóm lại, phương pháp nghiên cứu tổng

quát của tội phạm học là phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và do đó tội phạm học được gọi là khoa học thực nghiệm Có hai loại nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng cho hai loại hoạt động khác nhau của quá trình nghiên cứu thực nghiệm – tội phạm học là:

Phương pháp tìm kiếm luận cứ thực tiễn;

và phương pháp tổ chức luận cứ thực tiễn để chứng minh luận điểm khoa học

Trang 9

Mỗi loại nhóm phương pháp này lại bao

gồm các nhóm phương pháp cụ thể:

- Loại nhóm phương pháp tìm kiếm luận

cứ thực tiễn bao gồm:

+ Nhóm phương pháp tiếp cận;

+ Nhóm phương pháp chọn mẫu;

+ Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu

- Loại nhóm phương pháp tổ chức luận

cứ thực tiễn để chứng minh luận điểm khoa

học bao gồm:

+ Nhóm phương pháp xử lí dữ liệu;

+ Nhóm phương pháp kiểm định giả thuyết

Mỗi nhóm phương pháp lại bao gồm các

phương pháp cụ thể./

(1).Xem thêm: Hans -Dieter Schwind (Professor an

der Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet

Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte Einfuehrung

mit Beispielen, Kriminalistik Verlag Heidelberg 2007,

tr 163: Theo ông phương pháp nghiên cứu tội phạm

học trên thực tế không gì khác là sự tổng hợp các tri

thức phương pháp luận của các khoa học liên quan

của tội phạm học; Bernd-Dieter Meier (Professor an

der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag

C.H Beck Muenchen 2005, tr 2, tr 88: Theo ông tội

phạm học đã tiếp thu và phát triển những phương

pháp của các khoa học xã hội và nhân văn khác, điển

hình là tâm lí học và xã hội học

(2).Xem: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa

học, Nxb khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 2005, tr 18

(3).Xem: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/de-an-phuong-phap-

nghien-cuu-khoa-hoc; Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 87

(4).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 18

(5).Xem: Hans Joachim Schneider, Sđd tr 17 Trong

phương pháp luận nghiên cứu khoa học thì giả thuyết

khoa học hay giả thuyết nghiên cứu là một nhận định

sơ bộ, một kết luận giả định về bản chất sự vật do người

nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ; Giả

thuyết được xem như là câu trả lời cho câu hỏi mà vấn

đề khoa học đã nêu ra Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 72

(6).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 96

(7).Xem thêm: Bernd-Dieter Meier (Professor an der

Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H

Beck Muenchen, 2005, tr 2, tr 89; Frank Schmalleger

(PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall, 2002, tr 95

(8).Xem thêm: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 2, tr 89

(9).Xem: GS Phạm Tất Dong, TS Lê Ngọc Hùng

(đồng chủ biên), Xã hội học, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

2007, tr 88

(10) Liên quan đến nội dung này có thể tìm hiểu thêm về Điều tra chọn mẫu trong Giáo trình thống kê

tư pháp của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Giáo dục, 1997, tr 210

(11) Về các phương pháp chọn mẫu có thể xem: Phạm

Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001,

tr 216 - 238; Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 92 - 93

(12) Trong tiếng Anh là Quasiexperiment, Xem: Hans Joachim Schneider (Hrsg.), Internationales Handbuch der Kriminologie, Band 1: Grundlagen der Kriminologie,

De Gruyter Recht Berlin, 2007, tr 220

(13).Xem: GS Phạm Tất Dong – TS Lê Ngọc Hùng, Sđd, tr 117

(14).Xem thêm: Bernd-Dieter Meier, Sđd, tr 98 (15).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag Heidelberg, 2007, tr 166 (16).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 127

(17).Xem: Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus , The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall, 2002, tr 94 (18).Xem thêm: Bernd-Dieter Meier, Sđd, tr 104-105 (19).Xem: Frank Schmalleger, Sđd, tr 94

(20).Xem thêm: Trường đại học kinh tế quốc dân,

Giáo trình lí thuyết thống k ê, Nxb Thống kê, Hà Nội,

2006, tr 139 - 176

(21).Xem thêm: BerndDieter Meier, Sđd, tr 104 -105; Sđd, tr 394 - 395

(22).Xem: Phạm Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh, Sđd (23).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 128 - 129

(24).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 38, 39, 40

(25).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 134

(26).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 135

(27).Xem: Vũ Cao Đàm, Sđd, tr 136

Ngày đăng: 06/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w