1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay " docx

11 771 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 246,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm lập đánh giá tác động môi trường ĐTM và các cấp độ ĐTM Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005, có 3 loại hoạt động ĐTM sau đây: - Đánh giá môi trường chiến lược ĐMC: là việc

Trang 1

{

ThS TRẦN THỊ QUANG HỒNG * TRƯƠNG HỒNG QUANG **

1 Nội dung cơ bản của pháp luật hiện

hành về đánh giá tác động môi trường

1.1 Trách nhiệm lập đánh giá tác động

môi trường (ĐTM) và các cấp độ ĐTM

Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005,

có 3 loại hoạt động ĐTM sau đây:

- Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC):

là việc phân tích, dự báo các tác động đến

môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm

bảo đảm phát triển bền vững.(1)

ĐMC được

áp dụng đối với các đối tượng sau:

+ Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát

triển kinh tế-xã hội cấp quốc gia; chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh

vực trên quy mô cả nước

+ Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát

triển kinh tế-xã hội của tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp

tỉnh), vùng

+ Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát

triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn

tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên

tỉnh, liên vùng

+ Quy hoạch phát triển vùng kinh tế

trọng điểm

+ Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy

mô liên tỉnh.(2)

- Đánh giá tác động môi trường: là việc

phân tích, dự báo các tác động đến môi

trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai

dự án đó.(3) Theo quy định tại Điều 18 Luật bảo vệ môi trường thì chủ các dự án sau đây phải lập báo cáo ĐTM:

+ Dự án công trình quan trọng quốc gia; + Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử - văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;

+ Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;

+ Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;

+ Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;

+ Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;

+ Dự án khác có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường

- Cam kết bảo vệ môi trường: là việc cơ

sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng lập báo cáo ĐTM đưa ra bản cam kết thực hiện các biện pháp giảm

*, ** Viện khoa học pháp lí

Bộ tư pháp

Trang 2

thiểu, xử lí chất thải và tuân thủ các quy

định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Giống như báo cáo ĐTM, cam kết bảo vệ

môi trường cũng bao gồm các nội dung

đánh giá các tác động của dự án đối với môi

trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu

các tác động này, tuy nhiên, do mức độ tác

động tới môi trường thấp hơn nên thay vì

phải thực hiện các bước trình và xin phê

duyệt trước khi triển khai dự án, các chủ dự

án này được tự mình đưa ra các cam kết về

bảo vệ môi trường và tự chịu trách nhiệm

về các cam kết và các biện pháp bảo vệ môi

trường mà mình đưa ra

Có thể thấy việc đưa ra các cấp độ khác

nhau của công tác ĐTM là một bước tiến

quan trọng đối với khung pháp lí về ĐTM

ở Việt Nam Theo đó, tuỳ từng loại dự án

mà trách nhiệm lập ĐTM cũng như yêu

cầu đối với nội dung, quy trình thẩm định

báo cáo ĐTM được xác định một cách cụ

thể, phù hợp với tính chất và mức độ tác

động đến môi trường của loại dự án đó

Các quy định này cũng làm rõ hơn yêu cầu

về lập báo cáo đánh giá môi trường chiến

lược đối với các dự án quy hoạch, chiến

lược phát triển Sự phân hoá này giúp nâng

cao hiệu quả của ĐTM với tư cách là một

công cụ kiểm soát các tác động môi trường

và bảo vệ môi trường

1.2 Các yêu cầu về nội dung của ĐTM

Một trong những nội dung quan trọng

của các văn bản hiện hành về ĐTM là quy

định các yêu cầu về mặt nội dung đối với

báo cáo ĐMC, báo cáo ĐTM và cam kết bảo

vệ môi trường

Thứ nhất, đối với báo cáo ĐMC, nội

dung được yêu cầu bao gồm hai vấn đề chính là dự báo tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự án và phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề về môi trường trong quá trình thực hiện dự án

Thứ hai, đối với báo cáo ĐTM, xuất phát

từ thực tế là báo cáo ĐTM được lập đối với các dự án đầu tư cụ thể nên yêu cầu về nội dung báo cáo ĐTM đòi hỏi tính chi tiết cao hơn, cụ thể là nội dung báo cáo phải thể hiện được các vấn đề sau:

- Mô tả dự án đầu tư: bao gồm thông tin chi tiết về các hạng mục công trình của dự

án, quy mô về không gian, thời gian và khối lượng thi công; công nghệ vận hành của từng hạng mục công trình và của cả dự án;

- Các thông tin đánh giá về môi trường, bao gồm:

+ Đánh giá về hiện trạng môi trường cả nơi thực hiện dự án và vùng kế cận, đánh giá mức độ nhạy cảm và sức chịu tải của môi trường;

+ Đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực hiện và các thành phần môi trường, yếu tố kinh tế-xã hội chịu tác động của dự án; dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra

- Các giải pháp về mặt môi trường được

đề xuất bao gồm:

+ Các biện pháp cụ thể được đề xuất để giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; các biện pháp phòng ngừa, ứng phó

sự cố môi trường

Trang 3

+ Cam kết thực hiện các biện pháp bảo

vệ môi trường trong quá trình xây dựng và

vận hành công trình

+ Danh mục công trình, chương trình

quản lí và giám sát các vấn đề môi trường

trong quá trình triển khai thực hiện dự án

+ Dự toán kinh phí xây dựng các hạng

mục công trình bảo vệ môi trường trong tổng

dự toán kinh phí của dự án

- Các thông tin tham vấn: báo cáo

ĐTM phải phản ánh được ý kiến của uỷ

ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, đại

diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án;

đặc biệt, các ý kiến không tán thành việc

đặt dự án tại địa phương hoặc không tán

thành đối với các giải pháp bảo vệ môi

trường phải được nêu trong báo cáo đánh

giá tác động môi trường

ĐMC và ĐTM về cơ bản đều dựa trên

nguyên tắc rất cơ bản đó là phát hiện, dự

báo và đánh giá những tác động tiềm tàng

của hoạt động phát triển có thể gây ra đối

với môi trường tự nhiên, kĩ thuật–xã hội, để

từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa,

giảm thiểu và xử lí các tác động tiêu cực tới

mức thấp nhất có thể chấp nhận được.(4)

Quy trình thực hiện của ĐTM và ĐMC đều

được thực hiện qua các bước sàng lọc, xác

định phạm vi, đánh giá tác động, xác định

các biện pháp giảm thiểu, thẩm định, ra

quyết định và cuối cùng là quan trắc, giám

sát môi trường Giữa ĐTM và ĐMC cũng

có nhiều sự khác biệt cơ bản, trước hết là về

đối tượng nghiên cứu, mục tiêu, mục đích

cần đạt được và sau đó là sự khác biệt cả về

những nội dung quy trình thực hiện Tuy

vậy, điều cần nhấn mạnh ở đây là những sự khác biệt này không phải là sự phủ nhận lẫn nhau mà chính lại là những mặt bổ sung, hỗ trợ cho nhau và ĐMC đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình không thể thay thế cho ĐTM ở cấp dự án và ngược lại.(5)

Thứ ba, đối với bản cam kết bảo vệ môi

trường, yêu cầu về nội dung mặc dù đơn giản hơn nhiều so với nội dung của báo cáo ĐTM, tuy nhiên các nội dung đặt ra cũng tương đối cụ thể, bao gồm hai nội dung chính là 1) Mô tả về dự án: địa điểm, loại hình, quy mô, nguyên nhiên liệu sử dụng, chất thải phát sinh và 2) Cam kết về các biện pháp giảm thiểu, xử lí chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Để đảm bảo việc tuân thủ yêu cầu về nội dung khi lập báo cáo ĐTM, Phụ lục Thông tư của Bộ tài nguyên và môi trường

số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường cũng đã đưa ra các bản yêu cầu cụ thể về cấu trúc và nội dung của báo cáo ĐMC, báo cáo ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường Các bản yêu cầu này vừa có ý nghĩa bắt buộc tuân thủ, vừa có tính chất hướng dẫn đối với các chủ dự án khi lập báo cáo ĐMC, ĐTM hoặc cam kết bảo vệ môi trường

1.3 Thẩm quyền và thủ tục thẩm định, phê duyệt

Ngoại trừ cam kết bảo vệ môi trường được lập cho các trường hợp không thuộc

Trang 4

đối tượng phải lập báo cáo ĐMC và ĐTM,

việc thẩm định và phê duyệt báo cáo

ĐMC và ĐTM được coi là thủ tục bắt

buộc Kết quả thẩm định báo cáo ĐMC là

một trong những căn cứ để phê duyệt dự

án và phải được tiến hành trước khi triển

khai dự án Thẩm quyền và thủ tục phê

duyệt các báo cáo này được xác định căn

cứ vào tính chất và quy mô của các dự án

được lập ĐMC và ĐTM

- Báo cáo ĐMC luôn được thẩm định bởi

một hội đồng Bộ tài nguyên và môi trường

tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá

môi trường chiến lược đối với các dự án do

Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ

quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm

định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt

của mình và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ

chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá

môi trường chiến lược đối với dự án thuộc

thẩm quyền quyết định của mình và của hội

đồng nhân dân cùng cấp

- Báo cáo ĐTM có thể được thẩm định

bởi một hội đồng thẩm định hoặc tổ chức

dịch vụ thẩm định Bộ tài nguyên và môi

trường tổ chức hội đồng thẩm định hoặc

tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo

cáo đánh giá tác động môi trường đối với

các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự

án liên ngành, liên tỉnh; bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội

đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức

dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác

động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh; uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án trên địa bàn quản lí thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình

và của hội đồng nhân dân cùng cấp

Để đảm bảo tính chất chuyên môn của hoạt động thẩm định báo cáo ĐMC và ĐTM, pháp luật về môi trường quy định trong trường hợp là hội đồng thẩm định thì phải có trên năm mươi phần trăm số thành viên có chuyên môn về môi trường và lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án Nếu là tổ chức dịch vụ thẩm định thì phải đáp ứng các điều kiện do Bộ tài nguyên và môi trường quy định Yêu cầu về việc người trực tiếp tham gia lập báo cáo ĐMC, báo cáo ĐTM không được tham gia hội đồng thẩm định cũng được quy định nhằm đảm bảo tính khách quan của hoạt động thẩm định

Để đảm bảo sự tham gia cũng như quyền lợi của cộng đồng tại địa bàn thực hiện dự

án, trong quá trình thẩm định báo cáo ĐMC

và ĐTM, các tổ chức, cá nhân có quyền gửi các yêu cầu, kiến nghị về bảo vệ môi trường liên quan đến dự án đến cho cơ quan thẩm định Cơ quan thẩm định có trách nhiệm xem xét các yêu cầu, kiến nghị này trước khi đưa

ra quyết định Đối với cam kết bảo vệ môi trường, tổ chức, cá nhân thực hiện chỉ cần thực hiện thủ tục đăng kí với UBND cấp huyện hoặc cấp xã (trong trường hợp được cấp huyện uỷ quyền)

Trang 5

1.4 Tính pháp lí của văn bản ĐTM và

các biện pháp đảm bảo thực thi các nội dung

ĐTM trên thực tế

Đối với báo cáo ĐMC, kết quả thẩm

định là một trong những căn cứ để phê duyệt

dự án Trong khi đó, đối với báo cáo ĐTM,

kết quả thẩm định là căn cứ để cơ quan có

thẩm quyền ra quyết định phê duyệt báo cáo

ĐTM đó Các dự án thuộc diện phải lập báo

cáo ĐTM chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu

tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo ĐTM

đã được phê duyệt Trường hợp các cơ sở

không thuộc đối tượng phải lập ĐMC và

ĐTM thì chỉ được triển khai hoạt động sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng kí

bản cam kết bảo vệ môi trường

Về nguyên tắc, các báo cáo ĐMC, ĐTM

và cam kết bảo vệ môi trường sau khi đã

được thẩm định, phê duyệt sẽ trở thành các

văn bản pháp lí có tính bẳt buộc áp dụng đối

với tất cả các chủ thể hoạt động trong phạm

vi dự án được lập báo cáo ĐMC, ĐTM và

cam kết bảo vệ môi trường tương ứng Tuy

nhiên, pháp luật bảo vệ môi trường mới chỉ

tập trung quy định về trách nhiệm thực hiện

và kiểm tra thực hiện các nội dung trong báo

cáo ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường

Theo Điều 23 Luật bảo vệ môi trường

năm 2005, báo cáo ĐTM được đảm bảo thực

hiện thông qua các cơ chế sau đây:

- Cơ chế thông tin và giám sát bởi cộng

đồng: chủ dự án có trách nhiệm báo cáo với

uỷ ban nhân dân nơi thực hiện dự án về nội

dung của quyết định phê duyệt báo cáo đánh

giá tác động môi trường; niêm yết công khai

tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất

thải, công nghệ xử lí, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát

Cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM cũng có trách nhiệm thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM do mình phê duyệt cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện

dự án; uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM

do mình hoặc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phê duyệt cho uỷ ban nhân dân cấp huyện, uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án Việc thực hiện trách nhiệm thông tin này cho phép chính quyền cơ sở và cộng đồng địa phương tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung của báo cáo ĐTM đã được phê duyệt

- Cơ chế tự chịu trách nhiệm: chủ dự án

có trách nhiệm thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo ĐTM và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM

- Cơ chế tiền kiểm: chủ dự án có trách nhiệm thông báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM để kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận chủ dự án đã thực hiện đầy đủ yêu cầu

về thông tin cho UBND địa phương và niêm yết tại địa bàn, thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM thì chủ

dự án mới được đưa công trình vào sử dụng

- Cơ chế hậu kiểm: cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung

Trang 6

trong báo cáo đánh giá tác động môi trường

đã được phê duyệt

Theo Điều 27 Luật bảo vệ môi trường,

cam kết bảo vệ môi trường được đảm bảo

thực hiện thông qua:

- Cơ chế tự chịu trách nhiệm: tổ chức, cá

nhân cam kết bảo vệ môi trường có trách

nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung

đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường

- Cơ chế kiểm tra, giám sát: Uỷ ban nhân

dân cấp huyện, cấp xã chỉ đạo, tổ chức kiểm

tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã

ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường

2 Đánh giá các quy định hiện hành về

ĐTM ở Việt Nam

Các quy định về ĐTM có vị trí tương đối

quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo

vệ môi trường của Việt Nam và ngày càng

được quan tâm hoàn thiện Điều đó chứng tỏ

sự nhìn nhận về vai trò của ĐTM như một

công cụ quan trọng để thực hiện công tác

quản lí đối với môi trường

Trước hết, với việc phân hoá các cấp độ

thực hiện ĐTM theo tính chất của dự án,

Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đảm bảo

sự phân hoá về trách nhiệm cũng như thể

hiện đúng tính chất, mức độ yêu cầu đối với

các biện pháp bảo vệ môi trường căn cứ vào

tính chất, mức độ tác động đến môi trường

của dự án Việc xuất phát từ góc độ dự án

đầu tư và từ góc độ ảnh hưởng môi trường là

cơ sở quan trọng để đảm bảo tính phù hợp

cho các quy định về ĐTM Các quy định về

ĐTM cũng cho thấy chính sách mở rộng xã

hội hoá, huy động sự tham gia của các tổ

chức có chuyên môn vào công tác lập cũng

như thẩm định báo cáo ĐTM Ngoài các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về công tác thẩm định còn có thêm các tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM Đây là các cơ quan độc lập đủ năng lực theo yêu cầu của Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động của dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM Việc kiểm soát sự tham gia của các tổ chức, cá nhân chuyên môn này được đảm bảo trên cơ

sở xác định các điều kiện về chuyên môn, về năng lực, về đội ngũ và trên cơ sở xác định trách nhiệm cụ thể chính là chính sách hợp lí

và cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế đối với các hoạt động chuyên môn về môi trường trong quá trình lập và thẩm định báo cáo ĐTM hiện nay Chính sách xã hội hoá này cũng phù hợp với sự trưởng thành về năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động chuyên môn về môi trường trong nước sau hơn 10 năm triển khai áp dụng các quy định

về lập báo cáo ĐTM Tuy nhiên, các quy định hiện hành mới tập trung vào quy định

về điều kiện và năng lực của các tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM, chưa chú ý đến các quy định đảm bảo năng lực của các

tổ chức làm dịch vụ lập báo cáo ĐTM Theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường và Nghị định của Chính phủ số 80/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, điều kiện về nhân lực, phương tiện, cơ sở vật chất kĩ thuật của tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM tương đối chung chung,(6) chưa đủ để đảm bảo các yêu cầu về năng lực đối với các tổ chức cung ứng dịch

vụ lập báo cáo ĐTM

Trang 7

Tuy nhiên, nếu xét về tính đồng bộ, toàn

diện thì các quy định về ĐTM hiện nay thiếu

những yêu cầu, tiêu chí cần thiết để đảm bảo

chất lượng của các báo cáo ĐTM Các quy

định hiện hành dường như cũng đã cố gắng

khắc phục hạn chế này bằng các phương thức

như quy định các chủ thể lập báo cáo ĐTM

phải đảm bảo những nội dung nhất định trong

báo cáo ĐTM, quy định về việc áp dụng các

tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường,(7)

quy định cách thức thực hiện (như yêu cầu thành lập tổ

công tác, yêu cầu về thành phần tham

gia…),(8)

quy định chi tiết về các bước thẩm

định, chủ thể thẩm định v.v nhưng lại thiếu

chính những quy định về cơ sở để đánh giá

chất lượng của báo cáo ĐTM đó Điều đó dẫn

đến thực tế là việc thẩm định các báo cáo

ĐTM chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan của

người thẩm định, chưa có các căn cứ cụ thể

để thẩm định và cơ chế pháp lí cụ thể ràng

buộc yêu cầu thẩm định

Bên cạnh đó, các quy định hiện hành

cũng chủ yếu quy định trách nhiệm thực thi

đối với báo cáo ĐTM và cam kết bảo vệ môi

trường, chưa có cơ chế đảm bảo thực thi đối

với nội dung báo cáo ĐMC Thực tế này,

một phần xuất phát từ chính tính pháp lí của

các văn bản quy hoạch, chiến lược phải lập

báo cáo ĐMC Hiện nay, các văn bản quy

hoạch, chiến lược chủ yếu mang tính định

hướng, không mang tính bắt buộc, chính vì

vậy, việc xác định tính pháp lí của các báo

cáo ĐMC được lập phục vụ cho các văn bản

quy hoạch, chiến lược này tương đối phức

tạp Tuy nhiên, điều này không có nghĩa

rằng các nội dung của báo cáo ĐMC không

có tính chất ràng buộc các hoạt động đầu tư trên thực tiễn và việc khẳng định tính ràng buộc cũng như quy định cơ chế đảm bảo thực thi các nội dung của báo cáo ĐMC là điều cần thiết

Về tính khả thi, cơ chế giám sát của cộng đồng: các thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt

và đảm bảo thực thi báo cáo ĐTM trên thực

tế quy định tương đối chặt chẽ việc đảm bảo cho cộng đồng dân cư quyền được tham gia

ý kiến, quyền được lắng nghe ý kiến, đặc biệt, các ý kiến về không đồng ý triển khai

dự án hoặc không đồng ý về các biện pháp bảo vệ môi trường phải được nêu rõ trong các báo cáo ĐTM trình thẩm định, phê duyệt Về mặt pháp lí, có thể nói các quy định về thủ tục nhằm đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập, thẩm định

và phê duyệt báo cáo ĐTM hiện nay tương đối chặt chẽ Tuy nhiên, hoạt động lập báo cáo ĐTM là hoạt động có tính chuyên môn cao và với nhận thức của cộng đồng dân cư thì khó có thể đánh giá được hết các vấn đề chuyên môn của các báo cáo này Các quy định hiện hành chỉ quy định các thủ tục, trình tự lấy ý kiến tham vấn cộng đồng, không có bất kì cơ chế nào để hỗ trợ về chuyên môn nhằm nâng cao nhận thức và khả năng của cộng đồng trong việc xem xét các nội dung của báo cáo ĐTM Không được

hỗ trợ về các vấn đề chuyên môn, cộng đồng dân cư có thể gặp khó khăn khi đưa ra ý kiến

về các dự án triển khai tại địa bàn và trong nhiều trường hợp, các ý kiến được đưa ra không xác đáng hoặc cản trở các dự án đã có các phương án bảo vệ môi trường phù hợp

Trang 8

3 Đánh giá hiệu quả thi hành pháp

luật ĐTM

Cán bộ thẩm định và phê duyệt báo cáo

ĐTM ở cấp trung ương thuộc Vụ thẩm định

(Bộ tài nguyên và môi trường, nay trực thuộc

Tổng cục môi trường, Bộ tài nguyên và môi

trường) và Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ tài nguyên và

môi trường chịu trách nhiệm phê duyệt đối với

những dự án thuộc thẩm quyền của mình Ở

cấp địa phương, trách nhiệm thẩm định là của

phòng thẩm định thuộc sở tài nguyên và môi

trường và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh hoặc

thành phố hoặc hội đồng nhân dân cùng cấp sẽ

chịu trách nhiệm phê duyệt Hiện nay còn có

thêm hình thức mới là dịch vụ thẩm định

Theo đánh giá của các chuyên gia, năng lực

thẩm định báo cáo ĐTM đã được nâng cao

đáng kể do có nhiều cán bộ đã được đào tạo,

tập huấn ở trong nước và nước ngoài cũng như

khả năng “học thông qua hành” từ thực tiễn

công việc.(9)

Tuy nhiên ở cấp tỉnh đội ngũ cán

bộ thẩm định ĐTM vẫn còn thiếu và yếu chưa

đáp ứng được yêu cầu đa dạng hiện nay

Việc đưa ĐTM vào thành nghĩa vụ bắt

buộc trong quy trình lập và triển khai các dự

án đã giúp nâng cao nhận thức của các chủ đầu

tư dự án khi thực hiện các hoạt động đầu tư và

đảm bảo các biện pháp bảo vệ môi trường

được triển khai song song với quá trình đầu tư

dự án Theo tổng kểt, từ năm 1994 đến năm

2004, đã có hơn 800 báo cáo ĐTM của các dự

án và cơ sở đang hoạt động đã được thẩm định

và phê duyệt ở cấp trung ương; gần 26.000 báo

cáo ĐTM và bản đăng kí đạt tiêu chuẩn môi

trường đã được thẩm định và phê duyệt ở cấp

địa phương.(10)

Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của công tác ĐTM nên trên thực tế, các quy định về ĐTM chưa thực

sự phát huy đầy đủ vai trò và ý nghĩa của nó trong công tác bảo vệ môi trường Hạn chế của công tác ĐTM thể hiện cụ thể như sau:

- Việc thực hiện ĐTM đối với nhiều dự

án còn mang tính hình thức Nhiều chủ dự án chỉ coi đây là một thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện dự án, vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM thì chỉ làm lấy lệ, cho đủ thủ tục để dự án được thông qua chứ không quan tâm đến những tác động

và nguy cơ môi trường thực sự Một trong những minh chứng cho hiện tượng này là việc cấp phép ồ ạt cho các dự án xây dựng sân gôn trong thời gian qua Tình trạng xung đột xảy ra giữa các chủ dự án và cộng đồng dân cư địa phương do tranh chấp quyền sở hữu, tiếp cận, sử dụng tài nguyên đất, rừng

và nguồn nước chứng tỏ các dự án này đã không thực hiện ĐTM một cách nghiêm túc

và chất lượng Một báo cáo có tên “Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam: từ pháp luật đến thực tiễn” do Trung tâm con người

và thiên nhiên thực hiện vào tháng 4/2009 cũng chỉ ra rằng hiện tượng các chuyên gia

tư vấn thường được khoán làm một báo cáo ĐTM cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật

là rất phổ biến ở các địa phương Vì vậy, việc tuân thủ quy trình và yêu cầu chất lượng báo cáo ĐTM thường bị làm ngơ hoặc xem

nhẹ Báo cáo ĐTM hiện nay “mới chỉ quan

tâm đến tác động có hại, trực tiếp, trước mắt, tác động tới môi trường tự nhiên trong

Trang 9

khi ít quan tâm đến tác động có lợi, gián

tiếp, lâu dài và tác động xã hội Các phương

án giảm thiểu tác động thì hoặc là quá sơ

sài, hoặc thiếu tính khả thi, hoặc chỉ là lời

Việc thiếu chú

ý đến các tác động xã hội có thể thấy rõ

trong nhiều báo cáo đã được thực hiện Ví

dụ, Báo cáo ĐTM của Dự án xây dựng nhà

máy thuỷ điện Hương Sơn, phần đánh giá tác

động xã hội chỉ có 01 trang, Báo cáo ĐTM

của Dự án khai thác mỏ Titan ở Hà Tĩnh

phần đánh giá tác động xã hội chỉ có nửa

trang; Báo cáo ĐTM của Dự án nhà máy

thủy điện Lai Châu có nội dung dày tới 200

trang nhưng phần đánh giá tác động xã hội

cũng chỉ có 2 trang Nhiều báo cáo ĐTM chỉ

là bản copy của các dự án khác, thậm chí

nhiều trường hợp chủ đầu tư còn “quên”

thay đổi địa danh cho phù hợp với dự án

mới Có những báo cáo thì lại làm ngơ hoặc

đánh giá thấp các giá trị và vai trò của môi

trường và hệ sinh thái ở nơi dự án đề xuất

can thiệp để dễ được chấp thuận Ví dụ

Vườn quốc gia Tam Đảo đã được quy hoạch

và khẳng định là khu rừng đa dạng sinh học

cao với rừng lùn thường xanh điển hình, tuy

nhiên báo cáo hiện trạng môi trường phục vụ

cho việc chuẩn bị dự án Tam Đảo II (xây

dựng khu giải trí do nước ngoài đầu tư) ở

vùng lõi vườn quốc gia đã đánh giá là khu

vực nghèo đa dạng sinh học, không có giá trị

bảo tồn Tương tự, báo cáo ĐTM cho đề

xuất dự án xây dựng thủy điện Rào Àn 1 và

Rào Àn 2 trong vùng rừng nguyên sinh kề

vườn quốc gia Vũ Quang ở xã Kim Sơn (Hà

Tĩnh) đã không đề cập tác động của dự án

đối với các loài thú lớn bị đe doạ có giá trị bảo tồn trên toàn cầu như sao la, voi Tình trạng này cho thấy các quy định hiện hành chưa đủ để ràng buộc trách nhiệm của người lập báo cáo ĐTM trong việc đảm bảo chất lượng và trung thực của báo cáo ĐTM Bên cạnh đó, việc nâng cáo năng lực thẩm định báo cáo ĐTM cũng là đòi hỏi bức thiết để khắc phục tình trạng này

- Đối với yêu cầu lập báo cáo ĐMC, mặc

dù Luật bảo vệ môi trường đã xác định rõ trách nhiệm lập báo cáo ĐMC đối với các dự

án quy hoạch, chiến lược song trong một thời gian dài, rất nhiều dự án quy hoạch ở các tỉnh đã làm ngơ đối với yêu cầu này Thực tế cho thấy rằng nếu không có sự kiên quyết của cơ quan làm công tác thẩm định và phê duyệt thì cũng không có bất kì quy định nào ràng buộc trách nhiệm tuân thủ các yêu cầu về lập báo cáo ĐMC

- Về việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM: hiện nay trách nhiệm này được giao cho Bộ tài nguyên và môi trường và uỷ ban nhân dân Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động thẩm định chưa thực sự trở thành một kênh phản biện trong sự đối trọng với những

ưu tiên về dự án đầu tư và phát triển kinh tế, nhất là đối với các dự án đầu tư quy mô lớn của nước ngoài nhưng tiềm ẩn rủi ro cao về môi trường như xây dựng thuỷ điện, cảng biển, khai thác khoáng sản, sửa chữa tàu biển, tái chế rác thải… Tính độc lập, phản biện và chịu trách nhiệm trước pháp luật của hội đồng thẩm định, thể hiện qua trách nhiệm và quyền hạn của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM chưa được quy định rõ ràng

Trang 10

Các ý kiến đánh giá của hội đồng thẩm định

hầu như chỉ mang tính chất tư vấn, tham

khảo, quyết định thông qua báo cáo ĐTM

được định đoạt bởi hội đồng phê duyệt chứ

không thuộc hội đồng thẩm định Trong

trường hợp dự án được thông qua và khi đi

vào hoạt động gây ra những tác động và suy

thoái môi trường thì sẽ khó quy trách nhiệm

cho các bên liên quan

4 Một số kiến nghị

Để ĐTM có thể là công cụ hữu hiệu

trong quản lí và bảo vệ môi trường, cần

hoàn thiện khung pháp lí về ĐTM ở các

khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, cần nghiên cứu hoàn thiện các

quy định đảm bảo chất lượng của báo cáo

ĐTM được lập, trong đó có việc đưa ra các

tiêu chí đánh giá chất lượng của báo cáo

ĐTM Việc đưa ra các tiêu chí cụ thể về mặt

nội dung đối với báo cáo ĐTM vừa đảm bảo

tính minh bạch của các quy định về lập và

thẩm định báo cáo ĐTM, vừa làm cơ sở cho

các tổ chức, cá nhân lập báo cáo ĐTM, vừa

là căn cứ cho việc thẩm định báo cáo

Thứ hai, cần có cơ chế để đảm bảo thực

thi các nội dung của báo cáo ĐMC trên thực

tế Nội dung của báo cáo ĐMC phải được

coi là một phần của các quy hoạch, chiến

lược đã được phê duyệt và các báo cáo ĐTM

thuộc các dự án nằm trong phạm vi của các

quy hoạch, chiến lược phải đảm bảo sự phù

hợp với các báo cáo ĐMC đã được lập cho

các quy hoạch, chiến lược đó

Thứ ba, cần cụ thể hoá các quy định về

điều kiện chuyên môn, cơ sở vật chất, trang

thiết bị đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ

lập báo cáo ĐTM nhằm đảm bảo năng lực cung cấp dịch vụ của các tổ chức này, góp phần chuyên môn hoá công tác lập báo cáo ĐTM và đảm bảo chất lượng của công tác ĐTM trên thực tế

Thứ tư, cần có cơ chế đảm bảo sự tham

gia của cộng đồng địa phương vào quá trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM và ĐMC thông qua việc nâng cao năng lực của cộng đồng về các vấn đề môi trường và yêu cầu đối với báo cáo ĐTM và ĐMC

Thứ năm, cần làm rõ trách nhiệm môi

trường của các chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM đảm bảo trong trường hợp các dự án được phê duyệt làm tổn hại đến môi trường xuất phát từ chất lượng của báo cáo ĐTM thì sẽ có chủ thể phải chịu trách nhiệm về hậu quả này Cụ thể

là trong trường hợp báo cáo ĐTM được lập với chất lượng không cao, không đánh giá đầy đủ các tác động môi trường cũng như thiếu những giải pháp cần thiết để đảm bảo hạn chế tác động tiêu cực của dự án đến môi trường mà vẫn được phê duyệt thì sẽ xác định trách nhiệm của người phê duyệt, người thẩm định và chủ dự án như thế nào, trong trường hợp dự án đó được triển khai

và gây thiệt hại cho môi trường, cho cộng đồng dân cư thì trách nhiệm thuộc về ai là những vấn đề cần được làm rõ Bên cạnh

đó, cần quy định trách nhiệm cho sở tài nguyên và môi trường trong việc giám sát thực hiện báo cáo ĐTM khi triển khai dự

án Cần trao cho sở tài nguyên và môi trường quyền (và trách nhiệm) phát hiện

Ngày đăng: 06/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w