Với các quy định về địa vị pháp lí của tổ chức trọng tài, trọng tài viên, thẩm quyền giải quyết, thoả thuận trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài, các văn bản pháp luật trên đây đóng va
Trang 1TS NguyÔn ThÞ Dung *
Lª H-¬ng Giang **
1 Tổng quan quá trình phát triển của
pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
a Sự ra đời của Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam và Trung tâm trọng tài kinh tế
Tại Việt Nam, mô hình trọng tài thương
mại (với bản chất là hình thức giải quyết
tranh chấp do các bên tranh chấp lựa chọn)
bắt đầu hình thành vào những năm 1960, với
sự ra đời của Hội đồng trọng tài ngoại thương(1)
và Hội đồng trọng tài hàng hải.(2)
Năm 1993, trên cơ sở hợp nhất hai hội đồng trọng tài này,
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được
thành lập theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ số 204/TTg ngày 28/4/1993 Thẩm
quyền của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam khi mới thành lập là giải quyết các tranh
chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài
Để đa dạng hoá hình thức giải quyết các
chấp kinh tế trong nước, năm 1994 Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 116/CP ngày
05/9/1994 quy định về tổ chức và hoạt động
của trọng tài kinh tế, trong đó xác định trung
tâm trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội-nghề
nghiệp Trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội,
Trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long,
Trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn, Trung
tâm trọng tài kinh tế Cần Thơ và Trung tâm
trọng tài kinh tế Bắc Giang là những trung
tâm trọng tài thành lập và hoạt động theo
loại hình này Nghị định số 116/CP quy định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trung
tâm trọng tài kinh tế là các tranh chấp kinh
tế, không phân biệt quốc tịch của các bên tranh chấp, bao gồm tranh chấp kinh tế phát sinh từ quan hệ kinh doanh trong nước và tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài Để đảm bảo sự thống nhất về thẩm quyền, đảm bảo cho trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam và các trung tâm trọng tài kinh tế cùng được giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phân biệt quốc tịch của các bên tranh chấp, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
số 114/TTg ngày 16/2/1996 đã quy định mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế, theo đó, trung tâm này được bổ sung thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân trong nước
Với các quy định về địa vị pháp lí của tổ chức trọng tài, trọng tài viên, thẩm quyền giải quyết, thoả thuận trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài, các văn bản pháp luật trên đây đóng vai trò là nền tảng pháp lí ban đầu của hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài - hình thức giải quyết tranh chấp tự nguyện, tồn tại bên cạnh hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các văn bản quy phạm pháp luật
về trọng tài ở giai đoạn này là thiếu cơ chế
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
** Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2đảm bảo thực thi hiệu lực của phán quyết
trọng tài Quy định: “Trong trường hợp quyết
định trọng tài không được một bên chấp
hành thì bên kia có quyền yêu cầu toà án
nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục
đã làm cho hầu hết ý định sử dụng dịch vụ trọng tài của
thương nhân phải dừng lại
b Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 (gọi tắt là Pháp lệnh TTTM) là dấu
mốc quan trọng trong việc hoàn thiện dần
thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại, đã khắc phục nhiều thiếu sót,
bất cập từ những văn bản trước đây Thành
công của việc ban hành Pháp lệnh TTTM
được thể hiện ở các điểm nổi bật sau đây:
- Nhất thể hoá pháp luật điều chỉnh hoạt
động trọng tài thương mại;
- Đa dạng hoá các loại hình trọng tài
bằng việc quy định bổ sung loại hình trọng
tài vụ việc với tên gọi là "Hội đồng trọng tài
do các bên thoả thuận thành lập";
- Quy định sự hỗ trợ của Nhà nước đối
với hoạt động trọng tài thông qua cơ quan
toà án và cơ quan thi hành án;
- Quy tắc tố tụng khá cụ thể và cơ bản
phù hợp với thông lệ quốc tế;
- Quy định cơ chế đảm bảo thi hành phán
quyết của trọng tài thương mại, đó là các bên
có thể yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức
cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài;
Thực thi Pháp lệnh TTTM, nhiều trung
tâm trọng tài kinh tế đã tiến hành đổi tên
(thành trọng tài thương mại) và một số trung
tâm trọng tài đã được thành lập mới: Trung
tâm trọng tài thương mại Hà Nội (tiền thân
là trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội), Trung tâm trọng tài thương mại thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân là Trung tâm trọng tài kinh
tế Sài Gòn), Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ (trước đây là Trung tâm trọng tài kinh tế Cần Thơ), Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Trung tâm trọng tài thương mại Á châu (tiền thân là trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long), Trung tâm trọng tài quốc tế châu Á - Thái Bình Dương, Trung tâm trọng tài thương mại Viễn Đông (thành lập năm 2006) Sự phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng của các trung tâm trọng tài và đội ngũ trọng tài viên chứng minh Pháp lệnh TTTM đã và đang đi vào cuộc sống Mặc dù vậy, sau nhiều năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM bộc lộ nhiều vướng mắc và chưa thực hiện được sứ mệnh là công cụ pháp lí thúc đẩy phát triển dịch vụ trọng tài thương mại ở Việt Nam Bên cạnh đó, các cam kết quốc tế về thương mại dịch vụ cũng đòi hỏi pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam cần tiếp tục được hoàn thiện Luật về trọng tài thương mại năm 2010 được ban hành với mục tiêu khắc phục những bất cập đang tồn tại và tiếp cận hơn nữa với chuẩn mực quốc tế về trọng tài thương mại, phù hợp hơn với các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam
2 Một số nội dung mới trong Luật TTTM năm 2010
Ngày 17/06/2010 Luật TTTM số 54/QH (Luật TTTM) đã được Quốc hội khoá XII, kì họp thứ 7 thông qua, chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 So với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM có khá nhiều thay đổi
Trang 3quan trọng theo hướng "cởi mở" hơn, tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động trọng
tài thương mại tại Việt Nam
a Luật TTTM mở rộng thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
Pháp lệnh TTTM quy định thẩm quyền
của trọng tài thương mại được xác định khi có
đầy đủ ba điều kiện là: Tranh chấp trong lĩnh
vực thương mại, các chủ thể của tranh chấp
phải là tổ chức, cá nhân kinh doanh và các
bên phải có thoả thuận trọng tài có hiệu lực
Theo quy định này, nhiều tranh chấp phát sinh
từ hoạt động thương mại nhưng chỉ có một
bên là thương nhân hay tranh chấp phát sinh
từ quan hệ đầu tư góp vốn của các tổ chức, cá
nhân không có đăng kí kinh doanh sẽ không
thuộc phạm vi thẩm quyền của trọng tài
thương mại Luật TTTM đã quy định mở rộng
phạm vi thẩm quyền của trọng tài thương mại
Theo Điều 2 Luật TTTM, trọng tài thương
mại được giải quyết các loại việc sau:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ
hoạt động thương mại;
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong
đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp
luật quy định được giải quyết bằng trọng tài
Như vậy, có thể nhận thấy tranh chấp
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của
trọng tài thương mại là tranh chấp phát sinh
từ hoạt động thương mại mà chủ thể của
tranh chấp là thương nhân hoặc có một bên
là thương nhân hoặc các tranh chấp khác mà
pháp luật cho phép các bên được giải quyết
theo thủ tục trọng tài Phạm vi này rộng hơn
so với quy định trước đây trong Pháp lệnh
TTTM Tuy nhiên, với quy định trên đây,
việc xác định thẩm quyền của trọng tài
thương mại vẫn sẽ gây tranh luận ở hai điểm:
Một là tranh chấp phát sinh từ "hoạt động
thương mại" được hiểu theo quy định nào? Nhiều ý kiến tiếp nhận khái niệm "hoạt động thương mại" theo quy định của Luật thương mại năm 2005,(4)
bao gồm các hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác
có mục đích sinh lợi Cách hiểu này rất hợp
lí song vướng mắc là ở chỗ khái niệm "hoạt động thương mại" trên đây chỉ được hiểu trong khuôn khổ của Luật thương mại năm
2005 (Phần giải thích từ ngữ, các luật đều ghi rõ: Trong luật này, các thuật ngữ sau đây
được hiểu như sau ); Hai là "tranh chấp
khác" được Luật quy định giải quyết theo thủ tục trọng tài rất khó xác định trong pháp luật hiện hành của Việt Nam Các tranh chấp công ti có thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại không, thuộc loại việc thứ nhất hay loại việc thứ ba? Theo quy định tại Điều
2 Luật TTTM thì các thành viên/cổ đông này không phải thương nhân, tuy họ cũng tham gia vào công việc đầu tư, quản lí công ti nhưng bản thân họ không có đăng kí kinh doanh Hoạt động của họ có được coi là hoạt động thương mại hay không? Nếu hiểu hoạt động thương mại theo Luật thương mại năm
2005 thì việc góp vốn, mua cổ phần là hoạt động đầu tư, nhằm mục đích sinh lời Thiết nghĩ, Luật TTTM cần có văn bản hướng dẫn
về Điều 2 của Luật để có cách hiểu rõ ràng
và chi tiết hơn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
b Luật TTTM quy định rõ về các hình thức trọng tài và mở rộng phạm vi lĩnh vực hoạt động của tổ chức trọng tài
Luật TTTM sử dụng thuật ngữ "trọng tài
Trang 4quy chế" và "trọng tài vụ việc" để chỉ hai
hình thức trọng tài thương mại được thừa
nhận ở Việt Nam thay cho hai khái niệm cũ
là "trung tâm trọng tài" và "hội đồng trọng
tài do các bên thoả thuận thành lập" Tên gọi
mới này thể hiện rõ và đúng bản chất của hai
hình thức trọng tài thương mại mà Việt Nam
và nhiều nước trên thế giới thừa nhận
Về phạm vi, lĩnh vực hoạt động của
Trung tâm trọng tài thương mại, Pháp lệnh
TTTM chỉ quy định về trung tâm trọng tài
được "hoạt động trọng tài" và "cung cấp các
dịch vụ hành chính, văn phòng và các dịch
vụ khác cho việc giải quyết tranh chấp"
Luật TTTM quy định ngoài các hoạt động
trên đây, trung tâm trọng tài được cung cấp
dịch vụ hoà giải và các phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại khác theo quy
định của pháp luật Quy định này có ý nghĩa
quan trọng trong việc khuyến khích phát
triển các hình thức giải quyết tranh chấp
ngoài toà án ở Việt Nam, bao gồm cả trọng
tài, thương lượng, hoà giải Bên cạnh đó,
"hoạt động trọng tài" của trung tâm trọng tài
cũng được gọi đúng bản chất của nó, đó là
hoạt động "cung cấp dịch vụ trọng tài".(5)
c Luật TTTM quy định rõ về điều kiện
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và
nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo thủ
tục trọng tài
Điều 5 Luật TTTM quy định thoả thuận
trọng tài là điều kiện giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, khác với quy định trước đây,
coi thoả thuận trọng tài là nguyên tắc giải
quyết tranh chấp Quy định mới này phù hợp
với luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới,
bởi về bản chất, việc có hay không có thoả
thuận trọng tài chỉ là điều kiện cần thiết cho phép xác định vụ việc có hay không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài mà thôi Ngoài ra, Luật TTTM cũng quy định rõ việc thừa kế, tiếp nhận nghĩa vụ của các cá nhân kí kết thoả thuận trọng tài mà chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, chuyển đổi Các sự kiện pháp
lí này khi xảy ra, không dẫn đến thoả thuận trọng tài vô hiệu mà vẫn có hiệu lực thực hiện đối với tổ chức, cá nhân kế thừa nghĩa vụ Nội dung này được quy định khá tương đồng trong luật của nhiều nước, ví dụ, Luật trọng tài của Singapore quy định rằng thoả thuận trọng tài sẽ không bị huỷ khi một bên chết mà
sẽ tiếp tục có hiệu lực đối với người đại diện hợp pháp của bên đó, thẩm quyền của trọng tài đã được các bên chỉ định sẽ không bị huỷ
bỏ bởi việc qua đời của bất kì bên nào.(6)
Liên quan đến thoả thuận trọng tài, lần đầu tiên pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam đề cập việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng Đối với các hợp đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn với người tiêu dùng có điều khoản về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thương mại; khi tranh chấp xảy ra, điều khoản thoả thuận trọng tài đó chỉ có hiệu lực khi được người tiêu dùng chấp thuận Một số nước khác có đề cập trường hợp này, tuy nhiên cách quy định cũng khác: Ví dụ luật của Anh quy định thoả thuận trọng tài kí kết với người tiêu dùng phải phù hợp với quy định
về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.(7)
Luật của Đức quy định thoả thuận trọng tài với
Trang 5người tiêu dùng phải được làm thành văn
bản riêng.(8)
Như vậy, quy định của Việt
Nam cùng xu thế với các quốc gia ở chỗ bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng bằng cách
trao cho họ lựa chọn phương thức giải quyết
ngay cả khi thoả thuận trọng tài có hiệu lực
Bởi lẽ, người tiêu dùng được coi là phía yếu
thế hơn so với phía nhà cung cấp dịch vụ,
hàng hoá; hơn nữa, khi mua bán hoặc sử dụng
dịch vụ, họ có thể không chú ý nhiều đến các
điều khoản về tranh chấp thương mại, trình
độ pháp lí của họ cũng còn hạn chế Tuy
nhiên, điều luật quy định như vậy cũng có
phần "thiệt thòi" cho phía nhà cung cấp hàng
hoá, dịch vụ khi người tiêu dùng không chấp
thuận giải quyết bằng con đường trọng tài và
kiện ra toà án Điều này đồng nghĩa với việc
nhà cung cấp không thể tận dụng những điểm
ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, sẽ tốn kém thời gian, chi phí,
thậm chí là uy tín của doanh nghiệp… Mặt
khác, do quy định mới chưa đủ chi tiết, không
loại trừ trường hợp chính người tiêu dùng đã
đồng ý lựa chọn phương thức giải quyết tranh
chấp trọng tài thương mại nhưng đến khi
tranh chấp xảy ra họ lại tận dụng điều khoản
này để phản đối thoả thuận ban đầu, trường
hợp này sẽ gây thiệt thòi cho phía doanh
nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ Chính kẽ
hở này có thể sẽ dẫn đến việc một số tổ
chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện hành vi
cạnh tranh không lành mạnh
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài được bổ sung với hai nguyên tắc
được coi là đặc trưng của tố tụng trọng tài, đó
là: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được
tiến hành không công khai, trừ trường hợp
các bên có thoả thuận khác và nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm (Điều 4 Luật TTTM) Tố tụng trọng tài theo các quy định trước đây cũng áp dụng các nguyên tắc này song Điều 3 Pháp lệnh TTTM bỏ qua khi quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dẫn đến hiểu biết thiếu đầy đủ
về ưu điểm đảm bảo bí mật, uy tín kinh doanh, khả năng giải quyết vụ việc nhanh chóng, kịp thời, dứt điểm của thủ tục trọng tài
d Luật TTTM loại bỏ bớt các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu được coi là không cần thiết
Thoả thuận trọng tài là văn bản quan trọng trong thủ tục tố tụng trọng tài, là điều kiện cần thiết để vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài Luật TTTM đã bỏ một trường hợp thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu, đó là trường hợp thoả thuận trọng tài
"không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết mà sau đó các bên không
hướng giải quyết khi xuất hiện thoả thuận trọng tài thuộc diện này Điều 43 Luật TTTM đã xử lí thoả thuận trọng tài không
thể thực hiện được như sau: "Trường hợp
các bên đã có thoả thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể thì khi có tranh chấp, các bên phải thoả thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp Nếu không thoả thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn" Bên cạnh đó, nếu các bên đã
Trang 6có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại một
trung tâm trọng tài cụ thể nhưng trung tâm
trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà
không có tổ chức trọng tài kế thừa thì các
bên có thể thoả thuận lựa chọn trung tâm
trọng tài khác; nếu không thoả thuận được
thì có quyền khởi kiện ra toà án để giải
quyết Trường hợp các bên đã có thoả thuận
cụ thể về việc lựa chọn trọng tài viên trọng
tài vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranh
chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà trọng tài viên không thể tham
gia giải quyết tranh chấp thì các bên có thể
thoả thuận lựa chọn trọng tài viên khác để
thay thế; nếu không thoả thuận được thì có
quyền khởi kiện ra toà án để giải quyết
Việc giảm bớt các trường hợp thoả thuận
trọng tài vô hiệu, thay bằng giải pháp tháo
gỡ có thể thực hiện được có ý nghĩa mở rộng
phạm vi thẩm quyền của trọng tài thương
mại, nâng cao khả năng thực thi thoả thuận
trọng tài trong thực tế Tuy nhiên, Luật
TTTM còn chưa tính đến các trường hợp
khó xác định thẩm quyền khác xảy ra khá
nhiều trong thực tế như: Trường hợp các bên
thoả thuận trung tâm trọng tài cụ thể nhưng
lĩnh vực tranh chấp đó không thuộc phạm vi
giải quyết quy định trong quy chế của trung
tâm trọng tài đó; thoả thuận trọng tài chỉ
định một trung tâm trọng tài nhưng lại chọn
quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài khác
mà trung tâm trọng tài được chỉ định từ chối
áp dụng giải quyết; các bên chọn cách thức
giải quyết bằng cả trọng tài lẫn toà án hoặc
chỉ rõ nhiều trung tâm trọng tài và cách thức
giải quyết trọng tài trong cùng một thoả
thuận trọng tài…
e Luật TTTM mở rộng thẩm quyền của hội đồng trọng tài trong quá trình tố tụng
Hội đồng trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự Khi các đương sự tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, tức là họ đã đặt niềm tin, sự kì vọng vụ tranh chấp sẽ được giải quyết nhanh chóng và “êm thấm” Thẩm quyền của hội đồng trọng tài trong quá trình
tố tụng được quy định tại Pháp lệnh TTTM tương đối hẹp và kém thuận lợi cho hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, thẩm quyền của hội đồng trọng tài đã được Luật TTTM mở rộng và rõ ràng hơn Cụ thể là:
- Trước khi phiên họp giải quyết tranh chấp được diễn ra, hội đồng trọng tài phải thực hiện việc nghiên cứu vụ việc, tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ… Ngoài quyền yêu cầu các bên cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, hội đồng trọng tài có quyền trưng cầu giám định, định giá tài sản trong vụ tranh chấp, có quyền tham vấn ý kiến các chuyên gia, có quyền triệu tập người làm chứng hoặc đề nghị toà án ra quyết định triệu tập người làm chứng
- Hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Trước đây, chỉ có toà án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài thụ lí vụ tranh chấp mới có quyền
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này thực sự không đáp ứng được tính chất "khẩn cấp tạm thời" do toà án khi tiếp nhận yêu cầu còn phải thực hiện một số thủ tục tố tụng nhất định Các biện pháp khẩn cấp tạm thời do hội đồng trọng tài quyết định
Trang 7áp dụng được thực hiện theo quy định của
pháp luật về thi hành án dân sự Bên cạnh
đó, hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền
thay đổi, bổ sung và huỷ bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời vào bất kì thời điểm nào trong
quá trình giải quyết tranh chấp Quy định
mới này là sự tiếp thu những quy định mẫu
của UNCITRAL được thông qua năm 2006
g Luật TTTM đã phân biệt rõ quyết định
trọng tài và phán quyết trọng tài
Pháp lệnh TTTM quy định “quyết định
trọng tài” là quyết định cuối cùng của hội
đồng trọng tài sau khi giải quyết vụ tranh
chấp Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết
tranh chấp, hội đồng trọng tài được quyền ra
nhiều quyết định khác nhau như quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết
định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định
chỉ định, thay đổi trọng tài viên Phù hợp
với thực tiễn thẩm quyền của hội đồng trọng
tài trong quá trình tố tụng và phù hợp với
thông lệ quốc tế(10)
Điều 9, Điều 10 Luật TTTM đã quy định rõ: Quyết định trọng tài
là quyết định của hội đồng trọng tài trong
quá trình giải quyết tranh chấp và Phán
quyết trọng tài là quyết định của hội đồng
trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ
tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài
Ngoài ra, Luật TTTM cũng quy định rõ
về nguyên tắc quyết định trọng tài theo đa
số Trừ trường hợp hội đồng trọng tài có
duy nhất một trọng tài viên, hội đồng trọng
tài không phải lúc nào cũng đạt được sự
thống nhất ý kiến Luật TTTM quy định cụ
thể hội đồng trọng tài phán quyết theo đa
số, khi biểu quyết không đạt được đa số thì
theo ý kiến của chủ tịch hội đồng trọng tài
Quy định tương tự được ghi nhận trong luật pháp quốc tế, ví dụ như Quy tắc tố tụng trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC), Luật trọng tài Thuỵ Sỹ, Luật trọng tài của Anh năm 1996…
h Luật TTTM đã nội luật hoá các cam kết quốc tế về dịch vụ trọng tài
Trong Hiệp định về thương mại dịch vụ của WTO, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và hoà giải được coi là một trong những loại hình dịch vụ liên quan đến tư vấn quản
lí,(11) quy định trong Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời (Provisional Central Product Classification - viết tắt là PCPC) về ngành dịch vụ của Liên hợp quốc.(12)
Theo
đó, mã 86602 về dịch vụ trọng tài và hoà giải
là “các dịch vụ hỗ trợ thông qua dịch vụ
trọng tài và hoà giải để giải quyết tranh chấp giữa ban quản lí và người lao động, giữa các doanh nghiệp và cá nhân Ngoại trừ dịch vụ thay mặt một trong các bên liên quan để đại diện trong cuộc tranh chấp và dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực quan hệ lao động về thông tin
tư vấn pháp luật khác, dịch vụ do các tổ chức doanh nghiệp và người thuê lao động, công
Tuy nhiên, Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam quy định rõ Việt Nam chỉ ghi nhận dịch vụ trọng tài và hoà giải gồm các tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thương nhân mà thôi.(14)
Theo đó, Việt Nam cam kết không hạn chế đối với phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới
và tiêu dùng ở nước ngoài Tức là các tổ chức trọng tài nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ hoạt động trọng tài đối với đương sự tại Việt Nam mà không cần di chuyển đến lãnh thổ Việt Nam (ví dụ qua internet, điện thoại…);
Trang 8hay họ cũng có thể giải quyết tranh chấp giữa
các đương sự là người Việt Nam khi các
đương sự này di chuyển sang quốc gia có tổ
chức trọng tài đó Tuy nhiên, đối với phương
thức hiện diện thương mại, các trung tâm
trọng tài và hoà giải chỉ được phép thành lập
chi nhánh sau 3 năm kể từ khi gia nhập;
không hạn chế đối xử quốc gia, ngoại trừ
trường hợp trưởng chi nhánh phải là người
thường trú tại Việt Nam.(15)
Cụ thể hoá những cam kết này, Luật
TTTM đã dành một chương quy định về tổ
chức và hoạt động của trọng tài nước ngoài
tại Việt Nam Đây là chương mới hoàn toàn
so với Pháp lệnh TTTM nhằm thực hiện cam
kết mở cửa thị trường dịch vụ pháp lí, dịch
vụ tư vấn quản lí theo biểu cam kết dịch vụ
của Việt Nam khi gia nhập WTO Luật
TTTM quy định: Tổ chức trọng tài nước
ngoài được phép thành lập và hoạt động tại
Việt Nam dưới hình thức chi nhánh và văn
phòng đại diện - là các đơn vị phụ thuộc của
tổ chức trọng tài nước ngoài
Chi nhánh của tổ chức trọng tài nước
ngoài tại Việt Nam có phạm vi hoạt động
tương tự tổ chức trọng tài thương mại của
Việt Nam, đó là: Cung cấp dịch vụ trọng tài,
hoà giải và các phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại khác theo quy định của pháp
luật, cung cấp các dịch vụ hành chính, văn
phòng và các dịch vụ khác cho việc giải quyết
tranh chấp của hội đồng trọng tài nước
ngoài Khác với chi nhánh, văn phòng đại
diện của tổ chức trọng tài nước ngoài không
được thực hiện trực tiếp các hoạt động sinh
lời, các hoạt động trọng tài tại Việt Nam mà
chỉ được tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội hoạt động
trọng tài tại Việt Nam Như vậy, phù hợp với
bối cảnh hội nhập, Luật TTTM đã cơ bản tạo
ra hành lang pháp lí bình đẳng giữa các tổ chức trọng tài trong nước và nước ngoài
Có thể thấy rằng so với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM đã có những thay đổi đáng kể, đáp ứng tốt hơn nhu cầu cung cấp và sử dụng dịch vụ trọng tài ở Việt Nam Mặc dù vậy, thực trạng pháp luật trọng tài thương mại đã
và đang tiếp tục đặt ra những nội dung cần được tiếp tục làm rõ nhằm đảm bảo thực thi pháp luật thống nhất và hiệu quả./
(1).Xem: Nghị định của Hội đồng Chính phủ số 59/CP ngày 30/4/1963 về việc thành lập Hội đồng trọng tài ngoại thương
(2).Xem: Nghị định của Hội đồng Chính phủ số 153/CP ngày 5/10/1964 về việc thành lập Hội đồng trọng tài hàng hải
(3).Xem: Điều 31 Nghị định số 116/CP
(4).Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại
(5).Xem: Điều 28 Luật TTTM
(6).Xem: Điều 5 Luật trọng tài Singapore
(7).Xem: Điều 89 Luật trọng tài của Anh năm 1996 (8).Xem: Điều 1031(5) Luật trọng tài của Đức (9).Xem: Khoản 4 Điều 10 Pháp lệnh TTTM
(10).Xem: Luật mẫu của UNCITRAL; Điều 33 Luật trọng tài Trung Quốc năm 2002; Chương VIII Luật trọng tài Singapore…
(11) PCPC 2.0 đã xếp dịch vụ trọng tài và hoà giải (mã ngành 82191) thuộc loại hình dịch vụ pháp lí
821 Tuyên bố chung về dịch vụ pháp lí năm 2005 của WTO cũng phân loại dịch vụ này là một trong những phân ngành của dịch vụ pháp lí Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận trọng tài và hoà giải là một trong những loại hình dịch vụ pháp lí Tuy nhiên, Việt Nam áp dụng theo PCPC prov.861; vì thế,
ở đây, dịch vụ trọng tài và hoà giải được coi là thuộc loại hình dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lí
(12) CPC mã 866
(13) CPC mã 86602
(14) Kí hiệu tại Biểu cam kết dịch vụ: 86602** (15) Ngành F, phân ngành (d) Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam gia nhập WTO