Mua bán doanh nghiệp được quy định rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật như: Luật cạnh tranh năm 2004, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật đầu tư năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005, phá
Trang 1Ths TrÇn ThÞ B¶o ¸nh *
iện nay, ở Việt Nam, xu hướng chung
của hoạt động mua bán doanh nghiệp
ngày càng gia tăng về số lượng, đặc biệt tập
trung trong các ngành ngân hàng, chứng
khoán, ngành phân phối bán lẻ.(1) Mua bán
doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư tiết kiệm
thời gian, chi phí để gia nhập thị trường; tận
dụng được những lợi thế và thành quả kinh
doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ tiền ra để
mua Bên cạnh mặt tích cực đó, mua bán
doanh nghiệp cũng có mặt trái vì đây là con
đường ngắn nhất để hình thành các doanh
nghiệp độc quyền, có vị trí thống lĩnh thị
trường Những doanh nghiệp này có thể dùng
sức mạnh thị trường của mình để cản trở, thủ
tiêu cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, các
quốc gia trên thế giới đều phải ban hành pháp
luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh
nghiệp nhằm đảm bảo quyền tự do kinh
doanh mua bán doanh nghiệp của các nhà đầu
tư đồng thời bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trên
thị trường Tuy nhiên, ở Việt Nam, các quy
định pháp luật doanh nghiệp hiện hành về
mua bán doanh nghiệp chưa thống nhất, chưa
đầy đủ nên cần phải có giải pháp để hoàn
thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp
1 Các quy định pháp luật hiện hành
về mua bán doanh nghiệp chưa thống nhất,
chưa đầy đủ
Mua bán doanh nghiệp được hiểu là hoạt
động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp,
bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó Mua bán doanh nghiệp không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản doanh nghiệp mà còn làm thay đổi hoạt động quản trị, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được mua (gọi chung là doanh nghiệp mục tiêu)
Mua bán doanh nghiệp được quy định rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật như: Luật cạnh tranh năm 2004, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật đầu tư năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005, pháp luật về chứng khoán, ngân hàng… Tuy nhiên, các quy định pháp lí
về hợp đồng mua bán doanh nghiệp và quy định về thủ tục mua bán toàn bộ doanh nghiệp chưa đầy đủ, không nhất quán Do vậy, trong một số trường hợp, các nhà đầu tư
bị hạn chế quyền mở rộng đầu tư kinh doanh; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lúng túng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết quan hệ mua bán doanh nghiệp
1.1 Pháp luật về thủ tục mua bán doanh nghiệp chưa đầy đủ
a) Pháp luật chưa có các quy định về thủ
tục mua bán toàn bộ doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều thành viên khi bên mua là các nhà đầu tư trong nước
H
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Khi mua bán doanh nghiệp các nhà đầu tư
nước ngoài thực hiện thủ tục đầu tư để được
cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tại
Nghị định của Chính phủ số 108/2006/NĐ-CP
ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật đầu tư năm 2005
Các nhà đầu tư trong nước khi mua bán
doanh nghiệp phải thực hiện theo các quy định
tại Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn
bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc
sở hữu của một chủ như doanh nghiệp tư
nhân, công ti trách nhiệm hữu hạn một thành
viên thì: “Chủ sở hữu công ti trách nhiệm hữu
hạn một thành viên có quyền chuyển nhượng
toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá
nhân khác” (Điều 66 Luật doanh nghiệp năm
2005); “chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền
bán doanh nghiệp của mình cho người khác”
(Điều 145 Luật doanh nghiệp năm 2005)
Thực chất của việc chủ sở hữu công ti trách
nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển
nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức, cá
nhân khác chính là mua bán doanh nghiệp vì
người mua đã có quyền sở hữu tài sản và
quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh
doanh nghiệp mục tiêu
Thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân
được quy định tại Điều 145 Luật doanh nghiệp
năm 2005 và nghị định số 43/2010/NĐ-CP
ngày 15/4/2010 về đăng kí doanh nghiệp
(gọi tắt là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP)
Thủ tục mua bán công ti trách nhiệm hữu
hạn một thành viên được quy định tại Điều
155 Luật doanh nghiệp năm 2005 và Nghị
định số 43/2010/NĐ-CP Trường hợp chủ sở
hữu công ti trách nhiệm hữu hạn một thành
viên chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho
tổ chức hoặc cá nhân thì người nhận chuyển nhượng phải đến cơ quan đăng kí kinh doanh
để làm thủ tục thay đổi chủ sở hữu công ti Trường hợp chủ sở hữu công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác, công ti phải đăng kí chuyển đổi thành công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
Việc mua bán doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ được chia thành 2 trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Nếu nhà đầu tư chỉ
mua lại cổ phần, phần vốn góp của một hoặc một số thành viên, cổ đông công ti thì các bên sẽ kí kết hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần (gọi chung là hợp đồng chuyển nhượng) Thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần được thực hiện theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật chứng khoán năm
2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trường hợp thứ hai: Nếu nhà đầu tư mua
toàn bộ doanh nghiệp thì tất cả các thành viên, cổ đông thống nhất cử người đại diện hợp pháp kí kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp với bên mua doanh nghiệp Sau đó, các bên phải thực hiện các thủ tục thay đổi chủ sở hữu, đăng kí kinh doanh lại tại cơ quan đăng kí kinh doanh
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp không có bất kì quy định nào hướng dẫn về thủ tục mua bán toàn bộ công ti Trong thực tiễn, có trường hợp tất cả các thành viên công ti đã thống nhất bán toàn bộ doanh nghiệp nhưng
cơ quan đăng kí kinh doanh từ chối làm thủ tục đăng kí lại doanh nghiệp cho bên mua Lí
Trang 3do mà cơ quan đăng kí kinh doanh từ chối vì
Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ có quy
định về đăng kí kinh doanh lại khi mua
doanh nghiệp tư nhân mà không có quy định
về đăng kí kinh doanh lại cho bên mua công
ti thuộc sở hữu của nhiều thành viên
Như vậy, với sự thiếu vắng các quy định
pháp luật doanh nghiệp về thủ tục mua bán
toàn bộ doanh nghiệp của nhiều chủ sở hữu
như đã phân tích thì:
- Quyền lợi chính đáng của các nhà đầu
tư trong nước bị ảnh hưởng Trong tương
quan so sánh với các nhà đầu tư nước ngoài
thì các nhà đầu tư trong nước sẽ bị mất cơ
hội thu lợi từ các thương vụ mua bán doanh
nghiệp Xem xét ở khía cạnh nào đó, pháp
luật đã “tạo ra” sự đối xử bất bình đẳng
trong việc thực hiện quyền đầu tư kinh
doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Cơ quan đăng kí kinh doanh cũng thể
hiện sự lúng túng và gặp khó khăn trong
quá trình áp dụng pháp luật Bởi lẽ, pháp
luật về nội dung không cấm nhà đầu tư
được mua toàn bộ doanh nghiệp Vì vậy, cơ
quan đăng kí kinh doanh không thể từ chối
cấp lại đăng kí kinh doanh cho bên mua
doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ
Mặt khác, nếu để đăng kí kinh doanh lại
cho bên mua doanh nghiệp, cơ quan đăng kí
kinh doanh cũng không có cơ sở pháp lí để
thực hiện thủ tục này
b) Pháp luật không có các quy định định
hướng về nội dung hợp đồng mua bán
doanh nghiệp
Nội dung của hợp đồng là do các bên
thoả thuận và hợp đồng đó sẽ có giá trị pháp
lí nếu phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự do giao kết hợp đồng nên thông thường pháp luật không quy định những nội dung của hợp đồng Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh có những quan hệ có tính đặc thù và mới mẻ, pháp luật nên có quy định định hướng để tránh rủi ro cho nhà đầu tư và những chủ thể có liên quan Yêu cầu pháp luật cần thiết có các quy định mang tính định hướng về nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp xuất phát từ những lí do sau:
Một là mua bán doanh nghiệp có bản
chất khác với việc mua bán toàn bộ tài sản của doanh nghiệp như chủ thể bán doanh nghiệp/bán tài sản, quyền và nghĩa vụ của người mua doanh nghiệp/mua tài sản của doanh nghiệp Mua bán doanh nghiệp không chỉ liên quan đến các bên mua bán mà còn liên quan tới việc thực hiện các chủ thể khác như chủ nợ, người lao động trong doanh nghiệp mục tiêu, cơ quan thuế…
Hai là mua bán doanh nghiệp khá mới
mẻ đối với nhà đầu tư Việt Nam Kiến thức
để “nhận dạng” quan hệ mua bán doanh nghiệp và các quan hệ tương tự chưa rõ ràng nên các bên lúng túng, tuỳ tiện sử dụng các quy định pháp luật để thương thảo hợp đồng Hợp đồng kí kết trên nền tảng nhận thức về pháp luật chưa rõ ràng, đầy đủ
sẽ dẫn đến tranh chấp
Tham khảo kinh nghiệm một số nước như Cộng hoà liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức, các nhà lập pháp cũng đưa ra
Trang 4những quy định mang tính định hướng cho
việc thiết lập hợp đồng mua bán toàn bộ
doanh nghiệp
Tại Điều 559 phần 2 Bộ luật dân sự
Cộng hoà Liên bang Nga năm 1994 (sửa đổi)
quy định: (2)
1) Theo hợp đồng bán doanh nghiệp,
người bán phải chuyển giao cho người mua
quyền sở hữu toàn bộ doanh nghiệp nói
chung như một tổ hợp tài sản trừ những
quyền và nghĩa vụ không được chuyển giao
cho người khác
2) Những quyền mang tính đặc thù riêng
của doanh nghiệp, sản phẩm, công việc hoặc
dịch vụ của người khác và những quyền
thuộc về người bán trên cơ sở hợp đồng
được phép sử dụng những quyền trên được
chuyển giao cho người mua nếu hợp đồng
bán doanh nghiệp không có quy định khác
3) Những quyền mà người bán có được
trên cơ sở được phép tiến hành các hoạt
động phù hợp không phải chuyển giao cho
người mua doanh nghiệp nếu pháp luật
không có quy định khác Trong trường hợp
người bán doanh nghiệp chuyển giao cho
người mua doanh nghiệp những nghĩa vụ mà
người mua không thể thực hiện được nếu
không có giấy phép thì người bán vẫn phải
liên đới chịu trách nhiệm cùng người mua
trước các chủ nợ
Quy định trên đã định hướng cho các bên
kí kết hợp đồng mua bán toàn bộ doanh
nghiệp Theo đó, khi bán toàn bộ doanh
nghiệp, bên bán phải chuyển giao toàn bộ
doanh nghiệp và các quyền, nghĩa vụ kèm
theo trừ một số quyền, nghĩa vụ không được
chuyển giao vì những quyền, nghĩa vụ đó chỉ gắn với nhân thân của bên bán doanh nghiệp Tương tự như Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức đã ghi nhận hợp đồng mua bán toàn bộ doanh nghiệp và các điều khoản khác quy định về cách thức xác định đối tượng của hợp đồng như giá mua bán doanh nghiệp, nghĩa vụ về thuế, điều khoản hạn chế cạnh tranh(3)…
1.2 Các quy định pháp luật về thủ tục mua bán doanh nghiệp không thống nhất
a) Thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân giữa Luật doanh nghiệp và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP có sự mâu thuẫn
Mua bán doanh nghiệp là mua bán tài sản và cả tư cách pháp lí, quyền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu Mua bán doanh nghiệp khác với mua bán tài sản của doanh nghiệp mà người mua không tham gia quản trị, điều hành doanh nghiệp Mua bán doanh nghiệp tư nhân có bản chất là mua bán doanh nghiệp nhưng với các quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân tại Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ phản ánh
đó là quan hệ mua bán tài sản
Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định:
“Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác… người mua doanh nghiệp phải đăng kí kinh doanh lại theo quy định của Luật doanh nghiệp” Như vậy, tư cách pháp lí của doanh
nghiệp tư nhân không được chuyển cho người mua vì người mua phải đăng kí kinh doanh lại Vì vậy, mua bán doanh nghiệp tư nhân chỉ là mua bán tài sản của doanh nghiệp Hiện nay, trong tất cả các loại hình
Trang 5doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ có duy nhất
doanh nghiệp tư nhân là không có tư cách
pháp nhân Do vậy, chủ doanh nghiệp tư
nhân chỉ có quyền bán tài sản của mình với
tư cách là cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân không thể bán tư
cách pháp lí của doanh nghiệp tư nhân cho
người mua vì doanh nghiệp tư nhân không
có tư cách pháp nhân để bán
Tuy nhiên, những quy định tại Nghị định
số 43/2010/NĐ-CP sẽ làm thay đổi những
lập luận trên và trái ngược với quy định của
Luật doanh nghiệp năm 2005 Theo Điều 44
Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì “trường
hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bán doanh
nghiệp thì người mua doanh nghiệp phải
đăng kí thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân
tại cơ quan đăng kí kinh doanh” Việc người
mua doanh nghiệp tư nhân chỉ làm thủ tục
thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân đơn giản
hơn so với việc họ phải đăng kí kinh doanh
lại doanh nghiệp tư nhân Đồng thời quy
định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP cũng
đã thừa nhận bản chất của mua bán doanh
nghiệp tư nhân không chỉ là mua bán tài sản
của doanh nghiệp mà phải chuyển giao tư
cách pháp lí của doanh nghiệp cho người mua
Quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP
sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư khi mua
bán doanh nghiệp tư nhân Nhưng nếu cơ
quan đăng kí kinh doanh thực hiện pháp luật
theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì sẽ trái
với nguyên tắc của Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật là luật có giá trị pháp lí
cao hơn nghị định; nghị định hướng dẫn
không được trái luật
b) Nghị định “dự liệu” trước và khác luật
về quy định chuyển đổi công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Ví dụ: Giả sử Công ti trách nhiệm hữu
hạn ABC có ba thành viên là A, B, C; D là người muốn mua toàn bộ công ti Vậy D sẽ thực hiện thủ tục mua bán công ti như thế nào để đúng luật?
Luật doanh nghiệp năm 2005 không có quy định về thủ tục đăng kí kinh doanh lại doanh nghiệp đối với trường hợp mua bán toàn bộ doanh nghiệp nhiều thành viên Do vậy, trước tiên, D mua phần vốn góp của một trong ba thành viên và công ti sẽ gửi thông báo thay đổi thành viên đến phòng đăng kí kinh doanh Sau đó, D thực hiện việc mua lại phần vốn góp của các thành viên còn lại; đăng kí thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp
và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định công ti trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ti cổ phần và ngược lại mà không có quy định về thủ tục chuyển đổi công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên Do vậy, D không thể thực hiện được thương vụ mua bán toàn bộ Công ti ABC
Khác với Luật doanh nghiệp năm 2005, D
sẽ mua được Công ti ABC nếu thực hiện theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP D
kí ba hợp đồng mua lại phần vốn góp của A,
B, C hoặc kí một hợp đồng mua toàn bộ phần vốn góp của A, B, C do một trong ba thành viên làm đại diện tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên Sau đó công ti tránh
Trang 6nhiệm ABC sẽ thực hiện thủ tục chuyển đổi
loại hình công ti theo quy định tại khoản 2
Điều 23 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP
Như vậy, cùng một quan hệ mua bán
doanh nghiệp nhưng cơ quan có thẩm quyền
sẽ đưa ra cách giải quyết hoàn toàn trái
ngược nhau tuỳ thuộc vào việc vận dụng quy
định của pháp luật Dù quy định của nghị
định là hợp lí và tạo thuận lợi cho việc thực
thi quyền của nhà đầu tư nhưng xét ở góc độ
lí luận thì quy định của nghị định lại không
được trái luật Khi quy định pháp luật không
nhất quán, minh bạch sẽ ảnh hưởng đến hiệu
quả của pháp luật và việc thực hiện pháp chế
xã hội chủ nghĩa
2 Những giải pháp hoàn thiện pháp
luật mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam
Hiệu quả pháp luật và pháp chế xã hội
chủ nghĩa được củng cố và tăng cường phụ
thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau trong
đó có điều kiện hệ thống pháp luật thực
định phải đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của nền
kinh tế-xã hội
Pháp luật về hoạt động mua bán doanh
nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập và việc
tìm ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật
là cần thiết Các giải pháp để hoàn thiện các
quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp,
quy định về nội dung hợp đồng mua bán
doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, bổ sung các quy định về thủ tục
nhà đầu tư trong nước mua bán toàn bộ doanh
nghiệp thuộc sở hữu của nhiều thành viên
nhằm đảm bảo sự bình đẳng với các nhà đầu
tư nước ngoài trong việc thực hiện quyền
tương tự và yêu cầu đồng bộ của pháp luật
Thứ hai, sửa đổi quy định của Luật
doanh nghiệp năm 2005 về đăng kí kinh doanh lại doanh nghiệp tư nhân; đăng kí chuyển đổi công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hướng sửa đổi phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện quyền lợi chính đáng của họ trong thực tiễn Cụ thể:
- Luật doanh nghiệp năm 2005 nên bỏ quy định người mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng kí kinh doanh lại doanh nghiệp và thay thế bằng quy định người mua chỉ cần đăng kí thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp Sửa đổi quy định như vậy sẽ phản ánh đúng bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp
và đơn giản hoá các thủ tục gia nhập thị trường cho các nhà đầu tư kinh doanh
- Bổ sung quy định về chuyển đổi công
ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên Về lí thuyết, công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần đều là công ti đối vốn, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã có quy định về chuyển đổi công ti trách nhiệm hữu hạn thành công ti cổ phần và ngược lại
(Xem tiếp trang 37)
(1) Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương , Báo cáo
tập trung kinh tế tại Việt Nam – hiện trạng và dự báo,
Hà Nội, 2009
(2) Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1994 (sửa đổi), Bản dịch của TS Vũ Thị Lan Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội
(3).Xem: GS.TS F Kubler và J.Simon , Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức, Nxb Pháp lí, Hà Nội, 1992