1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các thời điểm trong hợp đồng dân sự " pptx

5 365 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 182,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể dựa vào một trong ba căn cứ sau để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự: 1 Thời điểm giao kết hợp đồng; 2 Thoả thuận của các bên ; 3 Quy định khác của pháp

Trang 1

TS Ph¹m V¨n TuyÕt *

ợp đồng dân sự là phương tiện pháp lí

để các chủ thể trao đổi lợi ích và thực

hiện các hành vi dịch vụ đối với nhau Khi

hợp đồng được giao kết hợp pháp thì bên có

nghĩa vụ trong hợp đồng đó phải thực hiện

nghĩa vụ theo đúng những gì mà các bên đã

cam kết thoả thuận trong hợp đồng Việc

thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết của mỗi

bên trong hợp đồng nhằm đáp ứng các lợi

ích của bên kia Vì vậy, thực hiện hợp đồng

(hay còn gọi là thực hiện các nghĩa vụ đã

cam kết trong hợp đồng) luôn mang tính bắt

buộc Tuy nhiên, tính bắt buộc này hình

thành từ khi nào thì cần phải căn cứ vào các

thời điểm của hợp đồng đó

Hợp đồng được coi là đã giao kết từ khi

nào? Từ thời điểm nào thì hợp đồng có hiệu

lực? Từ thời điểm nào bên có nghĩa vụ trong

hợp đồng bắt đầu phải thực hiện nghĩa vụ?

Ngoài ra, trong các hợp đồng cụ thể còn có

nhiều “thời điểm” khác nhau như thời điểm

chuyển quyền sở hữu tài sản, thời điểm chịu

rủi ro đối với tài sản trong mua bán

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ

bàn về ba thời điểm sau: 1) Thời điểm giao

kết hợp đồng; 2) Thời điểm có hiệu lực của

hợp đồng; 3) Thời điểm thực hiện nghĩa vụ

1 Về thời điểm giao kết hợp đồng

Thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa

quan trọng trong việc xác định đối tượng trong

hợp đồng đó Chẳng hạn, nếu tài sản là đối

tượng của hợp đồng mua bán chưa có vào thời

điểm giao kết hợp đồng hoặc đã có nhưng bên

bán chưa chưa xác lập quyền sở hữu thì hợp đồng đó là hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai Theo đó, cách thức xác định về tài sản là đối tượng của hợp đồng sẽ khác nhau Bởi lẽ, cách thức xác định về tài sản hình thành trong tương lai hoàn toàn khác với cách thức xác định tài sản có sẵn Trong nhiều trường hợp, thời điểm giao kết hợp đồng còn là mốc thời gian để xác định giá của hợp đồng Chẳng hạn, nếu các bên thoả thuận về giá của hợp đồng theo giá thị trường thì giá thị trường vào thời điểm giao kết hợp đồng sẽ là giá của hợp đồng Hoặc trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì giá trị của đối tượng bảo hiểm được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng

đó Ngoài ra, thời điểm giao kết hợp đồng còn

là một trong các căn cứ để xác định thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng

Với ý nghĩa trên, thời điểm giao kết của hợp đồng luôn phải được xác định một cách

cụ thể Tuỳ thuộc vào hình thức thiết lập hợp đồng mà hợp đồng dân sự được coi là giao kết vào các thời điểm sau đây:

- Nếu hợp đồng dân sự được thiết lập theo trình tự một bên gửi văn bản đề nghị giao kết hợp đồng và một bên gửi văn bản trả lời thì hợp đồng được coi là giao kết vào thời điểm bên

đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết

- Nếu hợp đồng được giao kết theo trình

tự trên mà trong đó các bên thoả thuận im

H

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết thì hợp

đồng dân sự được coi là giao kết vào thời

điểm hết thời hạn trả lời mà bên nhận được

đề nghị vẫn im lặng

- Nếu hợp đồng được giao kết bằng lời nói

thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm

các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng

- Nếu hợp đồng được giao kết bằng văn

bản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời

điểm bên sau cùng kí vào văn bản

2 Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là

thời điểm mà kể từ đó các bên trong hợp đồng

buộc phải thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết

Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp, mặc

dù hợp đồng đã được coi là giao kết nhưng

vẫn chưa có sự ràng buộc về quyền và nghĩa

vụ giữa các bên nếu hợp đồng đó chưa đến

thời điểm có hiệu lực Chẳng hạn, hợp đồng

có thời điểm giao kết ngày 10/03/2011 nhưng

trong hợp đồng đó các bên có thoả thuận về

thời điểm có hiệu lực là ngày 20/05/2011

Chúng ta đều biết rằng hợp đồng dân sự

là căn cứ xác lập nghĩa vụ Tuy nhiên, nghĩa

vụ chỉ được xác lập từ hợp đồng dân sự nếu

hợp đồng đó được giao kết hợp pháp và

nghĩa vụ cũng chỉ xác lập từ thời điểm hợp

đồng đó có hiệu lực Vì thế, việc xác định

hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm nào là vấn

đề quan trọng đối với các bên liên quan đến

hợp đồng đó Chẳng hạn, trong hợp đồng

bảo hiểm thì rủi ro xảy ra trong thời hạn có

hiệu lực của hợp đồng (thời hạn có hiệu lực

của hợp đồng được xác định từ thời điểm có

hiệu lực của hợp đồng đến thời điểm hợp

đồng chấm dứt) mới được coi là sự kiện bảo

hiểm và theo đó bên bảo hiểm mới phải chi

trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm

Điều 405 Bộ luật dân sự (BLDS) năm

2005 đã quy định về thời điểm có hiệu lực

của hợp đồng dân sự như sau: "Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác"

Như vậy, có thể dựa vào một trong ba căn cứ sau để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự: 1) Thời điểm giao kết hợp đồng; 2) Thoả thuận của các bên ; 3) Quy định khác của pháp luật

- Nếu căn cứ vào thời điểm giao kết hợp đồng thì hợp đồng dân sự có hiệu lực vào một trong các thời điểm sau đây:

+ Nếu hợp đồng dân sự được thiết lập theo trình tự một bên gửi văn bản đề nghị giao kết hợp đồng và một bên gửi văn bản trả lời thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết + Nếu hợp đồng được giao kết theo trình

tự trên mà trong đó các bên có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng + Nếu hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm các bên

đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng + Nếu hợp đồng được giao két bằng văn bản thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản

- Nếu căn cứ vào sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng thì hợp đồng dân sự có hiệu lực vào một trong các thời điểm sau đây: + Nếu các bên có thoả thuận về sự kiện là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm xảy ra sự kiện

đó Ví dụ: A thoả thuận bán cho B một con bò

Hai bên đã lập và cùng kí vào văn bản mua

Trang 3

bán nhưng trong văn bản hợp đồng mua bán

đó, các bên đã thoả thuận rằng hợp đồng chỉ có

hiệu lực nếu đàn bò nhà A đã sinh thêm được

một con bê thì thời điểm có hiệu lực của hợp

đồng này là thời điểm con bê được sinh ra

+ Nếu các bên thoả thuận hợp đồng có

hiệu lực vào thời điểm giao kết thì hợp đồng

có hiệu lực ngay vào thời điểm đó

+ Nếu các bên thoả thuận hợp đồng có

hiệu lực vào ngày cụ thể thì hợp đồng có

hiệu lực từ thời điểm bắt đầu của ngày đó Ví

dụ: Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận

Hợp đồng có hiệu lực vào ngày 15/05/2011

thì hợp đồng đó sẽ có hiệu lực từ lúc 0 giờ

ngày 15/05/2011

Như chúng ta đã thấy hợp đồng dân sự

có hiệu lực vào nhiều thời điểm khác nhau

tuỳ thuộc vào căn cứ xác định thời điểm có

hiệu lực và theo từng trường hợp cụ thể khác

nhau Tuy nhiên, trong ba căn cứ để xác định

thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự

được quy định trong Điều 405 BLDS năm

2005 thì dựa vào căn cứ nào trước, căn cứ

nào sau để xác định thời điểm có hiệu lực

của hợp đồng là vấn đề mà chúng tôi thấy

rằng cũng cần bàn đến để có cách áp dụng

thống nhất về điều luật

Điều 405 BLDS quy định: “Hợp đồng

được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời

điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận

khác hoặc pháp luật có quy định khác” cần

được hiểu rằng hợp đồng được giao kết hợp

pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết nếu

các bên không có thoả thuận khác và pháp

luật không có quy định khác Nói cách khác,

chỉ được căn cứ vào thời điểm giao kết để

xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

trong những trường hợp các bên trong hợp

đồng đó không có thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và loại hợp đồng đó pháp luật không có quy định riêng về thời điểm có hiệu lực Nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì phải căn cứ vào thoả thuận hoặc quy định riêng trước

Cách hiểu trên được làm rõ hơn thông qua hai ví dụ sau:

Ví dụ 1: Ngày 20/02/2011 A và B lập hợp

đồng mua bán tài sản bằng văn bản và các bên đều đã kí vào hợp đồng đó Trong hợp đồng, các bên đã thoả thuận A bán cho B một chiếc laptop hiệu HP với giá 8.000.000 đồng, hợp đồng có hiệu lực vào ngày 10/03/2011 Trong trường hợp này khi cần xác định xem hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm nào thì phải căn cứ vào sự thoả thuận của các bên, vì vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này

là thời điểm bắt đầu của ngày 10/03/2011

Ví dụ 2: Ông A lập hợp đồng để cho con

là B quyền sử dụng một thửa đất ở, cả hai bên đều đã kí vào văn bản hợp đồng và hợp đồng đã được công chứng nên hợp đồng này được coi là đã giao kết Sau đó, vì cha con phát sinh mâu thuẫn nên ông A không cho nữa Anh B cho rằng mình có quyền nhận tài sản đó và ông A buộc phải cho vì hợp đồng

đã được kí kết Tuy nhiên, để xác định ông A

có buộc phải giao tài sản đó cho B hay không cần phải xác định hợp đồng tặng cho

đó đã có hiệu lực hay chưa Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì pháp luật đã có quy định riêng về thời điểm có hiệu tại Điều 466

và Điều 467 BLDS Vì vậy, cần phải căn cứ vào các quy định này để xác định thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng tặng cho Điều 467 BLDS đã quy định:

Trang 4

“Hợp đồng tặng cho bất động sản có

hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí; nếu bất

động sản không phải đăng kí quyền sở hữu

thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời

điểm chuyển giao tài sản” Theo quy định

này thì hợp đồng giữa A và B chưa có hiệu

lực pháp luật nên ông A không buộc phải

chuyển giao tài sản cho B

Theo trên, ta thấy rằng nếu có thoả thuận

hoặc quy định khác của pháp luật về thời

điểm có hiệu lực của hợp đồng thì phải căn

cứ vào thoả thuận hoặc quy định khác của

pháp luật để xác định thời điểm có hiệu lực

của hợp đồng mà không được căn cứ vào

thời điểm giao kết

Mặt khác, trong trường hợp vừa có thoả

thuận, vừa có quy định khác của pháp luật về

thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì căn

cứ vào thoả thuận trước hay căn cứ vào quy

định của pháp luật trước để xác định thời

điểm có hiệu lực của hợp đồng?

Chẳng hạn, A thoả thuận với B (bằng

văn bản hợp đồng tặng cho) với nội dung:

Vào ngày sinh nhật của B, A sẽ cho B năm

mươi triệu đồng; hợp đồng có hiệu lực kể từ

ngày các bên kí vào văn bản hợp đồng Tuy

nhiên, chưa đến ngày sinh nhật của B thì hai

bên phát sinh mâu thuẫn nên A tuyên bố

không cho B số tiền đã hứa

Về loại hợp đồng này, Điều 466 BLDS

đã có quy định về thời điểm có hiệu lực như

sau: “Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu

lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối

với động sản mà pháp luật có quy định đăng

kí quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có

hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí”

Trong trường hợp trên, nếu xác định theo

thoả thuận thì hợp đồng có hiệu lực ngay từ

thời điểm các bên đã kí vào văn bản hợp

đồng, nếu xác định theo quy định của pháp luật thì hợp đồng chưa có hiệu lực vì chưa giao nhận tài sản Đây là vấn đề hiện còn có các quan điểm trái ngược nhau

Có quan điểm cho rằng cần căn cứ vào

sự thoả thuận trước bởi nguyên tắc của luật dân sự là tôn trọng sự thoả thuận của các bên, chỉ khi nào các bên không thoả thuận thì mới áp dụng quy định của pháp luật Quan điểm khác lại cho rằng cần căn cứ vào quy định khác của pháp luật trước vì nếu pháp luật đã quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì thoả thuận của các bên

về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mà khác với quy định của pháp luật thì thoả thuận đó là thoả thuận trái luật

Về phía mình, chúng tôi đồng ý với quan điểm sau vì những lí do dưới đây:

Một là mặc dù tôn trọng sự thoả thuận

của các chủ thể là nguyên tắc của pháp luật dân sự nhưng không phải mọi sự thoả thuận đều được tôn trọng Nói cách khác, thoả thuận của chủ thể chỉ được thừa nhận và tôn trọng nếu không trái luật

Hai là quy định của pháp luật là nguyên

tắc xử sự mà các chủ thể phải tuân theo khi tham gia quan hệ dân sự được điều chỉnh bằng quy định đó Chẳng hạn, Điều 450 BLDS quy

định: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” thì các bên tham gia hợp đồng mua bán

không được quyền thoả thuận về hình thức xác lập hợp đồng khác với hình thức nói trên

Ba là quy định tại Điều 466 là quy định

bắt buộc, không cho phép các chủ thể có thoả thuận khác nên chỉ trong trường hợp pháp luật vừa quy định cách xử sự vừa cho phép các bên

có thể thoả thuận khác thì sự thoả thuận của

Trang 5

các bên mới được thừa nhận Chẳng hạn,

khoản 2 Điều 397 quy định: “Khi các bên trực

tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường

hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện

khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay

có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ

trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời”

thì các bên giao kết hợp đồng theo trình tự

trên mới được quyền thoả thuận về thời hạn

trả lời khác với thời hạn “trả lời ngay”

Với lập luận trên, chúng tôi đi đến kết luận

sau đây: Trong ba căn cứ để xác định thời

điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định

tại Điều 405 BLDS thì khi xác định thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng cần theo thứ tự:

- Thứ nhất: Dựa vào quy định của pháp luật

- Thứ hai: Dựa vào sự thoả thuận của các bên

- Thứ ba: Dựa vào thời điểm giao kết

3 Về thời điểm thực hiện nghĩa vụ

theo hợp đồng

Thời điểm thực hiện nghĩa vụ theo hợp

đồng là thời điểm bắt đầu của thời hạn thực

hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng trong các

trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được

xác định theo khoảng thời gian nhất định

Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán tài sản

có hiệu lực từ ngày giao kết là 10/03/2011,

các bên đã thoả thuận bên bán phải chuyển

giao tài sản cho bên mua trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày hợp đồng mua bán đó có

hiệu lực thì thời điểm thực hiện nghĩa vụ

trong hợp đồng mua bán tài sản này được

xác định từ thời điểm bắt đầu của ngày

16/03/2011 Trong các trường hợp thời hạn

thực hiện nghĩa vụ là một thời điểm thì thời

điểm thực hiện nghĩa vụ trùng với thời hạn

thực hiện nghĩa vụ Chẳng hạn, trong hợp

đồng mua bán mà đối tượng là tài sản thông

thường và được thực hiện theo phương thức

mua bán trao tay thì thời hạn thực hiện nghĩa

vụ theo hợp đồng là thời điểm, theo đó thời hạn thực hiện nghĩa vụ giao vật bán cũng như thời hạn trả tiền là thời điểm và các bên thực hiện nghĩa vụ vào cùng một thời điểm

4 So sánh thời điểm giao kết hợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng

Nếu thời điểm giao kết hợp đồng phải xác định theo hình thức xác lập hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định theo một trong các căn cứ mà pháp luật

đã quy định thì thời điểm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng dân sự hoàn toàn do các bên thoả thuận Pháp luật chỉ quy định

về thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong trường hợp các bên không có thoả thuận Chẳng hạn, Điều 432 BLDS quy định: Khi các bên không thoả thuận thời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho nhau một thời gian hợp lí Khi các bên không có thoả thuận về thời hạn thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản

Trong hợp đồng dân sự cụ thể thì hợp đồng được coi là giao kết vào một thời điểm duy nhất (dù đối với hợp đồng dân sự nói chung thì có thể xác định theo các thời điểm khác nhau tuỳ theo hình thức xác lập), cũng như chỉ có hiệu lực vào một thời điểm duy nhất dù mỗi hợp đồng có một thời điểm có hiệu lực khác nhau Trong khi đó, trong một hợp đồng cụ thể mang tính song vụ, thường

có rất nhiều thời điểm thực hiện nghĩa vụ Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán, ngoài thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao vật còn có thời điểm thực hiện nghĩa vụ trả tiền./

Ngày đăng: 06/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w