Cổ phần hoá và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty điện lực 1 Cổ phần hoá và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty điện lực 1 Cổ phần hoá và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty điện lực 1 Cổ phần hoá và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty điện lực 1
Trang 1sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CỔ PHẦN HOÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ CỔ PHẦN HOÁ CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1
TRẦN THỊ TIẾN
HÀ NỘI 2007
Nhi ■ u event thú v ■ , event ki ■ m ti ■ n thi ■ t th ■ c 123doc luôn luôn t ■ o c ■ i gia t ■ ng thu nh ■ p online cho t ■ t c ■ các thành viên c ■ a website.
123doc s ■ u m ■ t kho th ■ vi ■ n kh ■ ng l ■ i h ■ n 2.000.000 tài li ■ t c ■ nh v ■ c: tài chính tín d ■ ng, công ngh ■ thông tin, ngo ■ i ng ■ , Khách hàng có th ■ dàng tra c ■ u tài li ■ u m ■ t cách chính xác, nhanh chóng.
Mang l ■ i tr ■ nghi ■ m m ■ i m ■ cho ng ■■ i dùng, công ngh ■ hi ■ n th ■ hi ■ ■■ ■ n online không khác gì so v ■ i b ■ n g ■ c B ■ n có th ■ phóng to, thu nh ■ tùy ý.
Luôn h ■■ ng t ■ i là website d ■ ■■ u chia s ■ và mua bán tài li ■ u hàng ■■ u Vi ■ t Nam Tác phong chuyên nghi ■ p, hoàn h ■ o, cao tính trách nhi ■ m ■ ng ng ■■ i dùng M ■ c tiêu hàng ■■ ■ a 123doc.net tr ■ thành th ■ vi ■ n tài li ■ u online l ■ n nh ■ t Vi ■ t Nam, cung c ■ p nh ■ ng tài li ■■■ c không th ■ tìm th ■ y trên th ■ ■■ ng ngo ■ i tr ■ 123doc.net
123doc cam k ■ t s ■ mang l ■ i nh ■ ng quy ■ n l ■ t nh ■ t cho ng ■■ i dùng Khi khách hàng tr ■ thành thành viên c ■ a 123doc và n ■ p ti ■ n vào tài kho ■ n c ■ a 123doc, b ■ n s ■ ■■■ c h ng nh ■ ng quy ■ n l ■ i sau n ■ p ti ■ n trên website
Th ■ a thu ■ n s ■ ng 1 CH ■ P NH ■ N CÁC ■ I ■ U KHO ■ N TH ■ A THU ■ N Chào m ■ ng b ■■■ ■ i 123doc.
Trang 2sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
2 Đối tượng và phạm vị
nghiên cứu
14
Chương 1 Cơ sở phương pháp luận về cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước
16
1.1 Doanh nghiệp và cổ phần hoá doanh nghiệp 16 1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 16 1.1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước 22 1.2 Vai trò cổ phần hoá trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
30
1.2.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
Trang 3sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
2.2 Thực trạng quá trình cổ phần hoá ở Công ty Điện lực 1 62 2.2.1 Sự cần thiết phải cổ phần hoá Công ty Điện lực 1 62 2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong qúa trình cổ phần hoá
ở Công ty Điện lưc 1
65
2.2.3 Tình hình và kết quả thực hiện cổ phần hoá ở Công ty
Điện lực 1
67
2.2.4 Đánh giá tình hình cổ phần hoá ở Công ty Điện lực 1 72
Chương 3 Giải pháp đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá Công ty
Trang 4sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
3.3.5 Thiết lâp cơ chế hợp lý về mua-bán điện nội bộ giữa
Công ty mẹ và các Công ty điện lực tỉnh
105
3.3.6 Nâng cao hơn tính thị trường, minh bạch và công bằng
trong cô phần hoá
3.3.9 Giải pháp đưa nhanh việc thực hiện cơ chế công ích và
quỹ công ích cho ngành điện
110
Phụ lục 1 – Nghi định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính
phủ về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần
117
chính về việc hướng dẫn thực hiện nghị định 187/2004/NĐ-CP
118
Phụ lục 3 - Báo cáo kết quả kiểm kê và xác định giá trị tài sản của
doanh nghiệp, biên bản xác định giá trị doanh nghiệp
Phụ lục 6- Quyết định số 219/2003/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 của Thủ
tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án ‘Tổng thể sắp xếp đổi mới và
phát triển DNNN của Tổng công ty Điện lực Việt Nam giai đoạn
2003-2005’
122
Phụ lục 7 – Văn bản số 4623/BCN-TCCB ngày 15/8/2006 về việc
dừng CPH các đơn vị thuộc các Công ty Điện lực
123
Phụ lục 8 - Quyết định số 147/2006/QĐ-TTg ngày 22 /6/2006 của Thủ 124
Trang 5sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
phần hoá Công ty Điện lực 1
Phụ lục 10 – Văn bản số 4423/CV-EVN-CPH&CK ngày 25/8/2006 về
kế hoạch hoá cổ phần hoá Công ty Điện lực 1
126
Phụ lục 11 – Thông tư 43/2004/TT-BTC ngày 20/5/2004 của Bộ tài
chính về việc hướng dẫn xử lý lỗ từ thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp đến thời điểm doanh nghiệp Nhà nưước chính thức chuyyển
thành công ty cô phần
127
Phụ lục 12 – Danh sách Công ty chứng kháon, doanh nghiệp kiểm
toán được thực hiện dịch vụ định giá doanh nghiệp cổ phần hoá
128
Trang 6sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế thế giới Đảng và Nhà Nước đã xác định: kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế, định hướng các thành phần kinh tế khác Hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã đang và sẽ giữ vị trí nòng cốt của kinh tế Nhà nước, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, nhiều doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động kém hiệu quả
Đứng trước thực trạng hoạt động yếu kém đó - Đảng và Nhà nước đã
có chủ trương lớn là Cổ phần hoá (CPH ) nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trườngvà hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời cũng phù hợp với xu hướng chung của thế giiới Từ năm
1992, Việt Nam bắt đầu thực hiện cổ phần hoá DNNN và đến nay đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm đầu thế kỷ 21
Chủ trương này được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng và Thủ Tướng Chính phủ: Nghị quyết hội nghị lần thứ III, Nghị quyết Hội nghị lần IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 30/3/2004 của Thủ Tướng Chính phủ; Chỉ thi só 45-CT/TW ngày 22/10/2004 của Bộ Chính trị; Chỉ thị
số 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ Tướng Chính phủ
Mục tiêu của công tác cổ phần hóa được nêu rõ trong Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, đó là:
Chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp Thực hiện công khai, minh bạch theo
Trang 7sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
Công ty Điện lực 1 là một trong những Công ty phân phối điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện quyết định CPH thí điểm một số Điện lực trực thuộc Tuy nhiên trên thực tế, sau khi tiến hành CPH thí điểm một số Điện lực trực thuộc Công ty điện lực 1 đã gặp phải một số vướng mắc và Chính phủ đã quyết định dừng CPH các điện lực trực thuộc, thay vào đó sẽ CPH toàn Công ty điện lực 1 Quá trình tiến hành CPH Công ty điện lực 1 đang diễn ra một cách chậm chạp, hiệu quả thấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có những nguyên nhân do cơ chế chính sách của Nhà nước, có những nguyên nhân do cách thức thực hiện chưa đồng bộ của Công
ty Điện lực 1 và Tập đoàn Điện lực Việt Nam Đó cũng là lý do tác giả lựa
chọn đề tài: ''Cổ phần hóa và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ
phần hoá Công ty điện lực 1'' để tìm hiểu thực trạng quá trình CPH tại Công
ty Điện lực 1, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CPH toàn Công ty.Từ trường hợp công ty 1 tác giả sẽ rút ra các bài học kinh nghiệm cho các đơn vị khác tương tự trong ngành
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét, đánh giá quá trình cổ phần hoá tại Công ty Điện lực 1 từ trước đến nay
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2002 nhưng tập trung chủ yếu vào giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hoá Công ty Điện lực 1 từ 2004 đến nay
- Nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được, chưa đạt được và quy trình của công tác cổ phần hoá đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty Điện lực 1
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 8sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và vận dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử, thống kê,
so sánh…
5 Các kết quả chính của luận văn:
Luận văn đạt được các kết quả chính như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cổ phần hóa Luận văn nêu lên sự cần thiết cổ phần hóa trong doanh nghiệp ngành điện và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rút ra những bài học kinh nghiệm từ tiến trình cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới
- Đánh giá khái quát toàn bộ chặng đường mà cổ phần hoá của Công ty Điện lực 1 đã trải qua, đặc biệt giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa từ năm 2004 đến nay, rút ra những thành công và tồn tại
- Từ những định hướng của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa, luận văn đề xuất các giải pháp mang tính vĩ mô, vi mô và giải pháp tổ chức thực hiện nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa Công ty Điện lực 1nói riêng và các doanh nghiệp cổ phần hoá nói chung trong thời gian tới
6 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mục lục; danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt; danh mục các bảng; danh mục các hình vẽ, đồ thị; lời mở đầu; kết luận, tài liệu tham khảo; phụ lục; nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I - Cơ sở lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Chương II - Phân tích thực trạng các doanh nghiệp của Công ty Điện lực
1 trước và sau khi cổ phần hoá
Chương III - Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá trong các doanh nghiệp của Công ty Điện lực 1
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thu Hà đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn tốt nghiệp này
Trang 9sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
CHƯƠNG I
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.DOANH NGHIỆP VÀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP
1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) tồn tại ở hầu hết các nước cho dù là nước đi theo con đường XHCN hay TBCN Trước đây, ở các nước XHCN như Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Hunggary, Rumani , DNNN được thành lập theo mô hình XHCN và các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể làm nền tảng của sự phát triển
xã hội công bằng DNNN chiếm gần như tuyệt đối trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông
Cổ, Cuba đều tổ chức hoạt động kinh tế thông qua các DNNN Bên cạnh ảnh hưởng lý luận về CNXH, việc hình thành nhiều DNNN còn chịu sự ảnh hưởng của viện trợ kinh tế mà Liên Xô dành cho các nước XHCN, đặc biệt trong ngành công nghiệp nặng
DNNN cũng xuất hiện ở các nước TBCN như Anh, Pháp, Niu Dilân và
cả Mỹ, hình thành từ việc Nhà nước thấy cần thiết phải can thiệp vào nền kinh
tế thị trường Học thuyết “Bàn tay vô hình” cho đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết cho thấy không thể không có sự can thiệp tích cực của Nhà nước để duy trì sự phát triển kinh tế cân đối, có định hướng Một trong những phương sách để thực hiện sự can thiệp này là Nhà nước trực tiếp nắm những tiềm lực kinh tế quan trọng qua các DNNN
Vì vậy, DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập trong các ngành, lĩnh vực cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có tính chất nhạy cảm hoặc quan trọng
Nếu dựa vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp thì có thể phân DNNN thành hai loại: DNNN hoạt động kinh doanh (DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận) và DNNN hoạt động công ích (DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh)
Trang 10sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Hình 1.1: Phân loại DNNN ở Việt Nam theo Luật DNNN
Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật DNNN năm 2003 thì DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) (xem Hình 1.2) Theo phần vốn góp, các DNNN quy định tại Luật DNNN năm 2003 gồm:
điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước độc lập, Tổng Công ty (TCT) nhà nước
Công ty nhà nước độc lập là doanh nghiệp đơn nhất, không có trong cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp khác, dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước Đây là loại hình doanh nghiệp truyền thống
TCT nhà nước là DNNN được thành lập và hoạt động trên cở sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau vì lợi ích kinh tế, công nghệ, dịch vụ, thông tin nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên (đơn vị hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp) và thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế
xã hội trong từng thời kỳ
TCT được phân thành 2 loại: loại thành lập theo Quyết định 90/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ gọi tắt là TCT 90 (như TCT Khoáng sản Việt Nam, TCT Lắp máy Việt Nam, TCT Xăng dầu, TCT Lâm nghiệp, TCT Muối ); loại thành lập theo Quyết định 91/TTg ngày
Doanh nghiệp nhà nước
Công ty cổ phần nhà nước
Công ty TNHH Nhà nước 2 thành viên trở lên
Công ty nhà nước
độc lập Tổng công ty Nhà nước
Công ty TNHH Nhà nước 1 Thành viên
Trang 11sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
06/04/1994 của Thủ tướng Chính phủ gọi tắt là TCT 91 (TCT Dệt may, TCT
Xi măng, TCT Hàng không, TCT Dầu khí, TCT Cà phê, TCT Điện lực, TCT Bưu chính Viễn thông, TCT Hóa chất, TCT Thép )
các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
trách nhiệm hữu hạn do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là chủ sở hữu công ty) Chủ sở hữu công ty chụi trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn của công ty, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vị vốn cam kết góp vào doanh nghiệp, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Tuy nhiên, do đặc điểm sở hữu nói trên mà DNNN thường bị động về vốn, không tự chủ về tài chính nên không tự chủ trong kinh doanh, chưa chủ động sắp xếp lao động vì Nhà nước chưa đủ các chính sách phù hợp để giải quyết việc làm và đời sống cho số lao động dư thừa
- Về lĩnh vực kinh doanh:
DNNN tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, có quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại:
Trang 12sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
+ Ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; + Ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn;
+ Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư;
Quy mô và lĩnh vực kinh doanh của DNNN do Nhà nước quy định từ khi thành lập nên rất cứng nhắc và chậm đổi mới
Ở nước ta, TCT nhà nước do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập phải đáp ứng đủ các điều kiện:
Điều kiện 1: Có vốn nhà nước từ 500 tỷ đồng trở lên; đối với ngành đặc
thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì vốn nhà nước có thể thấp hơn, nhưng không dưới 100 tỷ đồng
Điều kiện 2: Có mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân 3 năm liền
kể từ 50 tỷ đồng trở lên, đối với ngành đặc thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20 tỷ đồng
Điều kiện 3: Có trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến, chất lượng sản
phẩm tốt, hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Ngoài những đặc điểm chung như các DNNN trên thế giới, DNNN ở nước ta có một số hạn chế sau:
Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các DNNN
chưa tương xứng với ưu đãi Nhà nước dành cho Một DNNN kinh doanh có hiệu quả theo các tiêu chí hiện hành do Bộ Tài chính quy định, phải đạt các tiêu chuẩn: 1 Bảo toàn và phát triển được vốn, phải trích đủ khấu hao tài sản
cố định; 2 Lương bình quân phải bằng hoặc vượt mức bình quân của doanh nghiệp cùng ngành nghề trên địa bàn; 3 Trả đầy đủ các khoản nợ đến hạn, nộp đủ các khoản thuế theo luật định; 4 Có lãi, nộp đủ tiền sử dụng vốn và lập đủ các quỹ doanh nghiệp như: dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm, đầu tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi
Nợ phải trả của DNNN thường gấp 1,2 - 1,5 lần vốn chủ sở hữu Các khoản này chủ yếu là nợ các ngân hàng thương mại (khoảng 70%), nợ các doanh nghiệp khác, nợ ngân sách và các khoản chiếm dụng khác Nợ phải thu chiếm 50 - 60% vốn chủ sở hữu, bằng 15 - 20% lợi nhuận hàng năm, nhưng
tỷ lệ này thường chưa phản ánh đầy đủ trong sổ kế toán doanh nghiệp
Trang 13sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Khả năng cạnh tranh của DNNN còn thấp Nhiều DNNN muốn Nhà nước tăng cường các biện pháp bảo hộ để duy trì việc làm và thị phần qua bảo
hộ tuyệt đối (ưu đãi độc quyền) hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế ) Nhiều sản phẩm có định mức chi phí tiêu hao nguyên nhiên liệu cao, khấu hao máy thiết bị quá lớn gây bất lợi trong cạnh tranh về giá
Thứ hai, trình độ công nghệ lạc hậu Phần lớn các DNNN được trang
bị máy thiết bị từ nhiều nước khác nhau, sản xuất từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ thì công nghệ của nước ta lạc hậu so với thế giới từ 10 - 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ
30 - 50%, thậm chí 38% trong số này ở dạng thanh lý
Sự lạc hậu về công nghệ và hoạt động không có hiệu quả một phần do các DNNN đầu tư sai từ thời bao cấp và vẫn tiếp tục trong nhiều năm nước ta đổi mới theo cơ chế thị trường Khá nhiều quy hoạch xuất phát từ ý muốn chủ quan, địa phương nào cũng muốn tự cấp tự túc, có đủ cơ cấu kinh tế Có những ngành hoặc địa phương muốn tranh thủ càng nhiều vốn Nhà nước càng tốt và lấy oai mà xây dựng các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng không thật sự cần thiết cho ngành hoặc địa phương mình Sự quản lý của Nhà nước không đủ hiệu lực để ngăn chặn tình trạng đầu tư tràn lan không tính đến yếu tố thị trường, không cân đối nguồn nguyên liệu, cũng không tính đến chi phí giá thành
Thứ ba, cơ cấu DNNN còn bất hợp lý và chưa được chuyển dịch theo
hướng sắp xếp lại Trước hết, tỷ trọng số DNNN ở khu vực nông nghiệp (25%) và thương mại dịch vụ (40%) là quá lớn trong khi DNNN cần phải tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo Cơ cấu DNNN về cấp quản lý cũng bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng DNNN thuộc địa phương quản lý cao trên 60% về số lượng Về quy mô nguồn vốn, tính đến tháng 12/2004, số doanh nghiệp có quy mô dưới 10 tỷ đồng chiếm đến 33% trong tổng số DNNN (xem hình 1.2)
Trang 14sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Hình 1.2 Cơ cấu DNNN theo quy mô nguồn vốn
D- í i 5 tû 19%
5 - 10 tû 14%
10 - 50 tû 37%
50 - 200 tû
22%
Trªn 200 tû 8%
Những hạn chế trên của DNNN cho thấy cần phải tiến hành sắp xếp, đổi mới DNNN để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước, huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và
cơ chế quản lý năng động có hiệu quả cho DNNN
1.1.1.3 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường
DNNN là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Nhà nước định hướng, điều tiết sự phát triển của các thành phần kinh tế thông qua các hệ thống pháp luật, kế hoạch và chính sách như bình ổn giá cả hàng hóa thiết yếu, đồng thời sử dụng DNNN như là một thực lực kinh tế, làm cơ sở đảm bảo cho những cân đối chủ yếu trong nền kinh tế, giảm thiểu những hạn chế của “bàn tay vô hình” trong cơ chế thị trường
DNNN có trách nhiệm xã hội rất cao, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, giảm bớt chênh lệch quá mức về thu nhập, giáo dục, văn hóa giữa các vùng, các dân tộc và các tầng lớp dân cư
DNNN ở nước ta có đặc thù là doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo đối với các thành phần kinh tế khác, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Theo Tổng cục Thống kê, năm 2004 DNNN chiếm 8,5%
số doanh nghiệp Nhà nước chiếm khoảng 48,5% số lao động, 62,1% vốn và đóng góp 52,6% ngân sách Nhà nước; trong khi CTCP chỉ chiếm 4,5% số doanh nghiệp, 6,1% số lao động, 21,4% vốn và đóng góp 2,1% ngân sách Nhà nước
Bảng 1.1: Vai trò của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam
Đơn vị tính : %
Trang 15sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
1.1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm và mục tiêu cổ phần hóa DNNN
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, tức là chuyển đổi loại hình doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước thành loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động trong doanh nghiệp và thành phần khác tham gia
Cổ phần hóa là kết quả gián tiếp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp Nhà nước - tư nhân, là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất lớn, ra đời trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là phạm trù kinh tế riêng của chủ nghĩa tư bản Đã có thời kỳ, giai cấp thống trị một số nước tư bản sử dụng cổ phần hóa làm công cụ để điều hòa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân bằng biện pháp “củ cà rốt”, “sở hữu hóa công nhân trong công ty, xí nghiệp tư bản chủ nghĩa” nhằm ngăn ngừa, hạn chế đình công, bãi công của công nhân Lịch sử đã chứng minh cổ phần hóa không phải là sản phẩm riêng của kinh tế tư bản mà là con đẻ của kinh tế thị trường và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đem lại nhiều thành công trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế có nhiều thành phần sở hữu
Đối tượng của cổ phần hóa là các DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn Ở nước ta, đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp quy định tại Điều 1 Luật DNNN (trừ những doanh nghiệp mà Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ), không phụ thuộc vào thực trạng kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Danh mục phân loại DNNN do Thủ tướng Chính
Trang 16sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
phủ quyết định trong từng thời kỳ Các DNNN sau cổ phần hóa hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Thực chất cổ phần hóa và tư nhân hóa có sự khác nhau Cổ phần hóa là chuyển DNNN sở hữu một chủ (là Nhà nước) sang sở hữu nhiều chủ (là các
cổ đông) Tư nhân hóa là chuyển DNNN sở hữu một chủ (là Nhà nước) sang doanh nghiệp sở hữu một chủ (là tư nhân) Doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân có một số điểm khác biệt Về mặt quản lý, cơ chế quản lý doanh nghiệp cổ phần hóa là cơ chế nhiều chủ còn trong doanh nghiệp tư nhân là cơ chế một chủ nhưng chuyển từ Nhà nước sang tư nhân Về mặt tổ chức, doanh nghiệp cổ phần hóa có HĐQT do ĐHCĐ bầu ra, còn doanh nghiệp tư nhân chịu sự điều hành của một nhà quản trị
Một số nước phân chia nền kinh tế ra hai thành phần kinh tế là Nhà nước và tư nhân (Doanh nghiệp tư nhân, CTCP, công ty TNHH) Vì thế khi chuyển DNNN thành CTCP, người ta gọi đó là tư nhân hóa như Nga, cộng hòa Séc, Ucraina
Đảng và Nhà nước ta chủ trương “Cổ phần hóa DNNN không được biến thành tư nhân hóa DNNN” Trước hết, trong chính sách tổng thể xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là ủng hộ và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển và kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Hai là, khi nói cổ phần hóa thì chủ thể của cổ phần hóa là DNNN Cổ phần hóa DNNN là một trong các giải pháp tổng thể
“sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN” Trong giải pháp tổng thể ấy, có những nội dung như định hướng, sắp xếp, phát triển DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích; sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách đối với DNNN; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCT nhà nước; đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN; thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản DNNN, nói cách khác là chuyển
sở hữu Đảng và Nhà nước ta khuyến khích tư nhân tham gia mua cổ phiếu của DNNN và trở thành những cổ đông bình đẳng trong DNNN cổ phần hóa Trong quá trình cổ phần hóa DNNN của các nước trên thế giới, nâng cao hiệu quả hoạt động các DNNN và giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước là hai mục tiêu chính, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà mỗi nước bổ sung thêm một số mục tiêu cổ phần hóa
Trang 17sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Ở các nước TBCN phát triển, cổ phần hóa còn thêm ba mục tiêu:
+ Xóa bỏ độc quyền được Nhà nước dành cho một số DNNN, buộc các doanh nghiệp này phải cạnh tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động so với khu vực kinh tế tư nhân và thu hút các nhà đầu tư tư nhân
+ Tạo điều kiện để Nhà nước tập trung vào những ngành then chốt, mũi nhọn đòi hỏi lượng vốn lớn và trình độ khoa học, công nghệ cao
+ Phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp, tạo sự ổn định về
xã hội trong giai đoạn nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
Ở nhóm các nước đang phát triển, ngoài hai mục tiêu chung còn có một
Ở nhóm các nước SNG và Đông Âu dưới chính thể mới, ngoài hai mục tiêu chung còn có thêm ba mục tiêu sau:
+ Giảm nhanh tỷ trọng kinh tế nhà nước trong nền kinh tế, xóa bỏ hệ thống kế hoạch hóa tập trung gây ra tình trạng kém hiệu quả
+ Tạo lập hệ thống kinh tế thị trường và tăng nhanh tốc độ cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp có điều tiết của Nhà nước
+ Xóa bỏ can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp, chuyển DNNN thành đơn vị sản xuất hàng hóa có quyền tự chủ kinh doanh, đặc biệt là tự chủ về tài chính
Ở nước ta, mục tiêu cổ phần hóa DNNN đã được Nghị quyết T.Ư 3 chỉ
rõ, không phải để tư nhân hóa DNNN mà để tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu vừa sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước; vừa huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, vừa tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN; vừa phát huy vai trò làm chủ thật sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp
Như vậy thực chất của CPH công ty Nhà nước là quá trình thực hiện đa dạng hoá sở hữu công ty Nhà nước, chuyển công ty nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu vời mục tiêu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
Trang 18sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
vững chắc của doanh nghiệp CPH góp phần đẩy nhanh tiến trình xoá bỏ hoàn toàn cơ chế chủ quản của các cơ quan quản lý Nhà nước(các Bộ chủ quản), tiến tưói chấp nhận quan hệ bình đẳng, minh bạch giữa các nhà đầu tư trong việc quản lý doanh nghiệp Sự chuyển hoá này thực hiện trên ba mặt đó là:
- Chuyển quyền sở hữu
- Thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa nhà nước và doanh nghiệp
- Thay đổi căn bản về tổ chức ,các quan hệ quản lý một doanh nghiệp
CPH và tư nhân hoá có nhiều điểm tương đồng nhưng chúng ta không đồng nhất hai khái niệm với nhau Tư nhân hoá được hiểu như là quá trình chuyển toàn bộ doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sang tay tư nhân Bản chất của tư nhân hoá khác với quá trình cổ phần hoá ở nước ta Cổ phần hoá
có mục tiêu đa dạng hoá sở hữu để thúc đẩy sản xuất Một số cá nhân, vì lợi ích cá nhân đã cố tình làm biến tướng bản chất của cổ phần hoá Tư nhân hoá
là khi thực hiện cổ phần hoá DNNN một số nhà lãnh đạo, quan chức đành giá thấp tài sản của nhà nước để mua, thâu tóm doanh nghiệp về tay mình Thực chất là đội lốt cổ phần hoá để hợp thức hoá việc chiếm đoạt tiền và tài sản của nhà nước bởi vì họ là những người có đầy đủ thông tin về tài sản, giá trị
cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy phải chuẩn bị đầy đủ điều kiện, đánh giá tài sản để thực hiện CPH, không để tài sản của nhà nước biến thành của tư nhân Không chuẩn bị đầy đủ, định giá tài sản không chính xác thì lúc
đó cổ phần hoá đã biến thành tư nhân hoá
1.1.2.2 Định giá tài sản khi cổ phần hoá
Nguyên tắc lựa chọn phương thức tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp thực hiện quy định tại Điều 23 Nghị định 187/2004/NĐ-CP.(xem phụ lục 1)
“Doanh nghiệp có giá trị tài sản theo sổ kế toán dưới 30 tỷ đồng, doanh nghiệp tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp hoặc thuê tổ chức tư vấn định giá để xác định giá trị doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên, văn phòng tổng công ty (nếu cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty) phải thuê tổ chức định giá xác định giá trị doanh nghiệp
* Tổ chức định giá báo gồm các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, nhân hàng đầu tư có chức năng và năng lực định giá
Tổ chức định giá phải đảm báo các tiêu chuẩn và điều kiện sau:
Trang 19sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
- Có chức năng định giá trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư
- Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh, phải đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn của pháp luật hiện hành
- Không cùng chủ sở hữu, không có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp được định giá như hùn vốn, góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần
- Không trực tiếp thực hiện kiểm toán cho các doanh nghiệp được định giá
- Trong quá trình hoạt động không có vi phạm luật về nghề nghiệp
- Hàng năm, trước ngày 31/12, Bộ tài chính công bố công khai danh sách các tổ chức định giá đủ điều kiện, tiêu chuẩn định giá doanh nghiệp của năm sau
- Ban chỉ đạo cổ phần hoá có trách nhiệm thẩm tra kết quả định giá, báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp và Bộ Tài chính Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định và hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp, cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp ra quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp
Việc định giá tài sản là các tổ chức được bộ Tài chính cho phép Đơn vị thực hiện CPH có quyền lựa chọn một trong các tổ chức xác định giá trị tài sản và trình lên cấp có thâm quyền ra quyết định phê duyệt
Việc định gia tài sản không chính xác sẽ làm ảnh hưởng đến phần vốn nhà nước Do đó trong thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 16/11/2004 của chính phủ đã hướng dẫn rất kỹ việc xác định tài sản khi thực hiện CPH (xem phụ lục 13) Như ở phần trên đã nêu CPH cũng là một hình thức bán tài sản, trong đó nhằm tới mục tiêu là thu hút được vốn, nếu việc định giá không
Trang 20sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
chính xác thì CPH sẽ biến thành tư nhân hoá Nhà nước sẽ bị thất thoát tài sản, mục tiêu thu hút vốn không đạt được
1.1.2.3 Hình thức và phương pháp cổ phần hóa
Hình thức cổ phần hóa căn cứ vào mục tiêu cải cách khu vực kinh tế Nhà nước nhằm phát triển nền kinh tế thị trường hỗn hợp để đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao, chủ yếu có các hình thức cổ phần hóa sau:
+ Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm
cổphiếu để tăng vốn điều lệ
+ Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
+ Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
Ở Việt Nam, tùy tính chất, loại hình doanh nghiệp mà cổ phần hóa thực hiện theo các hình thức:
+ Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn, áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có nhu cầu tăng thêm vốn điều lệ
+ Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
+ Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn,
Tính đa dạng của mục tiêu cổ phần hóa quy định tính đa dạng của hình thức cổ phần hóa, đồng thời cũng quy định tính đa dạng của phương pháp cổ phần hóa Để phân bố rộng rãi quyền sở hữu các DNNN, Chính phủ các nước trên thế giới đã áp dụng các phương pháp cổ phần hóa cơ bản sau đây:
+ Công cụ đầu tư tập thể
Các công cụ đầu tư tập thể có nhiều dạng khác nhau như: chức năng ủy thác đầu tư, quỹ ủy thác tư nhân hóa với sở hữu của Chính phủ (Srilanca, Zambia), quỹ ủy thác tư nhân (Malaysia) Công cụ này có ưu điểm là quản lý
ít tốn kém, được áp dụng ở những nước mà thị trường vốn còn kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao, dân chúng chưa hiểu biết nhiều về tích tụ tài sản và
sở hữu cổ phiếu
+ Chương trình bán cổ phần của các DNNN cho công chúng
Trang 21sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Phương pháp này được sử dụng đầu tiên ở Anh, sau đó được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển: Hàn Quốc, Nigieria, Maroc và thích hợp nhất đối với các nước có thị trường vốn tương đối phát triển
Ở Việt Nam cổ phần hóa thường áp dụng phương pháp bán cổ phần của các DNNN cho công chúng bởi vì; Khi các công ty cổ phần chào bán cổ phần ra công chúng tính minh bạch tài chính đã làm đa dạng hoá chủ sở hữu, thu hút rất nhiều tầng lớp nhà đầu tư và đó là một kênh huy động vốn tốt và lớn nhất, bên cạnh đó công ty cổ phần không phải trả lãi khi huy động vốn
Áp dụng phương pháp trên có những điểm thuận lợi
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty, nhờ vậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ở những lần sau Thêm vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty thường cũng sẽ trở thành cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua nguyên liệu
và tiêu thụ sản phẩm
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng, giúp công ty có được nguồn vốn lớn và có thể vay vốn của ngân hàng với lãi suất
ưu đãi hơn cũng như các điều khoản về tài sản cầm cố sẽ ít phiền hà hơn Ví
dụ như các cổ phiếu của các công ty đại chúng dễ dàng được chấp nhận là tài sản cầm cố cho các khoản vay ngân hàng Ngoài ra, việc phát hành chứng khoán ra công chúng cũng giúp công ty trở thành một ứng cử viên hấp dẫn hơn đối với các công ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên doanh
- Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viên giỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng khoán nhất định để bán cho nhân viên của mình Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty sẽ trở thành
cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường Điều này
đã làm cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự là thành bại của mình
- Phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây dựng một hệ thống quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng Công ty cũng dễ dàng hơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý Bên cạnh đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công ty cũng giúp tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty
Trang 22sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
- Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo của công ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản lý qui định Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn
Bên cạnh đó có những điểm bất lợi
- Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể làm mất quyền
kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín công ty Bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếu hàng ngày
- Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công
ty cũng phảI chịu thêm các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác Hơn nữa, việc công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh tranh bất lợi
- Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng Ngoài ra, do qui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế.20.700 đ
Ở Việt Nam, theo qui định của Nghị định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng được các điều kiện sau:
- Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất;
- Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lý kinh doanh
Trang 23sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu
- Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên
100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành
- Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành
- Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
+ Chương trình huy động vốn
Chương trình này được sử dụng thành công ở Bolivia Khác với tư nhân hóa ở chỗ Nhà nước không bán tài sản của mình mà đóng góp vào sự hình thành của các công ty lớn Chúng có sự tham gia đến 50% của các đối tác chiến lược là tư nhân, đóng góp của các đối tác mới này không vào túi Nhà nước mà được giữ lại ở công ty mới thành lập, cổ phần của Nhà nước tại đây được phân phối lại cho dân chúng thông qua các quỹ trợ cấp xã hội
1.2 VAI TRÒ CỦA CỔ PHẦN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Cổ phần hóa được nhiều nước trên thế giới tiến hành và thu được nhiều thành công Ở nước ta, Với koảng 1.750 DNNN được CPH trong 13 năm qua đang hoạt động tương đối có hiệu quả, chủ trương này đã thể hiện tính dúng đắn và phù hợp thực tiễn Do vậy, cổ phần hóa là cần thiết và xuất phát từ những yêu cầu sau đây:
1.2.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
1.2.1.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Việc định hướng XHCN nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tạo cho kinh tế nhà nước sức mạnh thực sự, trong đó DNNN là nòng cốt đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và định hướng các thành phần kinh tế khác Nhiều giải pháp được đưa ra như cơ cấu lại vốn và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp; sáp nhập các doanh nghiệp có vốn nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực tương đối giống nhau; liên doanh, liên kết với nước ngoài để tận dụng nguồn vốn nước ngoài nâng cấp các thiết bị lạc hậu, tiếp cận phương thức quản lý tiên
Trang 24sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
tiến Song những giải pháp này vẫn chưa tạo được sự thay đổi về chất, hiệu quả sản xuất kinh doanh của đa số các doanh nghiệp vẫn thấp, sức cạnh tranh còn yếu, chưa có sự thay đổi mang tính bước ngoặt
Nghị quyết Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII đã chỉ ra
“Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực và lãng phí lớn do tài sản của Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, không có trách nhiệm và lợi ích rõ ràng đối với việc sử dụng có hiệu quả các tài sản đó; công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp không có động lực thường xuyên và bền vững để gắn bó thiết thân với sự phát triển của doanh nghiệp, không có quyền hạn vật chất và tổ chức đủ mạnh để tham gia định đoạt các quyết sách làm ăn, ngăn chặn từ gốc rễ tham nhũng, làm thất thoát, hư hỏng tài sản công” Đây là những chủ trương đúng đắn trong cải cách và sắp xếp lại DNNN Phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý từ đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Thành phần kinh tế Nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát được phạm vi rộng hơn mà không cần tăng vốn đầu tư của nhà nước, doanh nghiệp sau cổ phần hóa có thể hoạt động hiệu quả hơn chuyển giao DNNN cho tư nhân
1.2.1.2 Nâng cao khả năng cạnh tranh của DN trong quá trình hội nhập
Khu vực hóa và toàn cầu hóa là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới Xu thế hòa nhập tạo cơ hội cạnh tranh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp song nó cũng đặt các doanh nghiệp vào cuộc chơi khắc nghiệt với quy luật “mạnh thắng, yếu thua” Vì vậy, biện pháp duy nhất để các doanh nghiệp không bị loại khỏi “cuộc chơi” là phải tăng cường khả năng cạnh tranh của chính mình để chiếm lĩnh và tạo thế đứng vững trên thương trường
Những năm gần đây, Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức kinh tế quốc tế Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và đồng thời gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Cuối năm 1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á
- Thái Bình Dương (APEC), năm 2000 ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, năm 2006 Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việt Nam tham gia AFTA được hưởng mức thuế suất ưu đãi thấp của chương trình
ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN, hàng nhập ngoại trở nên rẻ hơn, chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn sẽ chiếm lĩnh thị
trường, tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước Quy mô
Trang 25sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, công nghệ lạc hậu, trình độ tổ chức quản lý còn yếu kém, năng suất lao động thấp, giá thành cao, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế chưa nhiều Hơn nữa cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất lợi, chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp nhẹ, hàng nông sản, nguyên liệu thô hoặc mới qua sơ chế
Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về năng lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp
có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khả năng xuất khẩu Các DNNN không đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam thực hiện các cam kết cắt giảm thuế và trợ cấp xuất khẩu để gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và thế giới Vì vậy, Việt Nam cần phải tiến hành cải cách hệ thống DNNN
Một trong những giải pháp cải cách là cổ phần hóa DNNN, nhất là những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, bởi lẽ CTCP có những ưu thế riêng Hoạt động của doanh nghiệp cổ phần hóa chịu sự tác động trực tiếp của
cơ chế thị trường, buộc các doanh nghiệp phải đổi mới hoạt động quản trị từ
tư tưởng dựa dẫm vào bao cấp của Nhà nước sang tư tưởng tự lực, lời ăn lỗ chịu Thông qua bộ máy điều hành của CTCP là ĐHCĐ, HĐQT, Giám đốc điều hành được bố trí tinh giản, gọn nhẹ để kết hợp phân phối theo lao động với phân phối lợi nhuận theo cổ phần, giải quyết thỏa đáng cùng một lúc quyền lợi của cổ đông có vốn với người lao động tham gia sức lao động trong quá trình sản suất kinh doanh Giám đốc điều hành có thể được lựa chọn và thuê từ những người có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh Đây là tiền đề bảo đảm thành công của CTCP, nâng cao khả năng cạnh tranh, chủ động trong quan hệ kinh doanh, tự nguyện liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, mở ra khả năng hợp tác kinh doanh và các triển vọng lớn hơn
nghiệp
1.2.2.1 T ăng khả năng huy động vốn
CTCP giải quyết một cách thành công vấn đề huy động vốn, dựa vào phát hành thêm cổ phiếu để tạo khả năng mở rộng quy mô kinh doanh và đầu
tư phát triển theo chiều sâu CTCP dễ chuyển nhượng vốn cổ phần hơn công
ty TNHH Các cổ phiếu và trái phiếu thông thường của CTCP có thể được
Trang 26sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán (TTCK) Vì vậy, CTCP tồn tại không tách rời TTCK Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ đông sáng lập sở hữu cổ phần phổ thông phải có sự chấp thuận của ĐHCĐ Đồng thời, CTCP là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (bằng số tuyệt đối chứ không phải là
tỷ lệ phần trăm) Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ chỉ mất số tiền
đã đầu tư vào công ty
Dù cổ phần hóa bằng cách bán một phần tài sản doanh nghiệp qua hình thức bán cổ phần hoặc gọi thêm vốn bằng hình thức mua cổ phần thì nói chung tiền vốn của doanh nghiệp đều tăng, rất cần thiết đối với những doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới máy thiết bị hay tăng vốn mở rộng sản xuất Trong thực tiễn cổ phần hóa, vốn nhà nước có thể tăng lên do định giá tài sản doanh nghiệp theo giá thị trường trong đó có giá trị thương hiệu doanh nghiệp Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, giải tỏa những bế tắc khủng hoảng về vốn cho doanh nghiệp cổ phần hóa để tạo điều kiện cho nó mở rộng sản xuất kinh doanh Chức năng của cổ phần hóa là thúc đẩy quá trình xã hội hóa tư bản (vốn), thu hút và tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thực hiện nguyên lý “tiền đẻ ra tiền” theo công thức T - H - T’ (T’ = T + ∆t), trong đó T: Tiền, H: Hàng Nhà nước có thể thu hồi bớt vốn đầu tư ở doanh nghiệp để chuyển sang đầu tư cho các hoạt động cần ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển của toàn bộ xã hội, như đầu tư cho kết cấu hạ tầng, công trình phúc lợi
1.2.2.2 Tăng hiệu quả sử dụng vốn
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Việc huy động thêm vốn qua cổ phần hóa xác lập người chủ một bộ phận tài sản của doanh nghiệp, người chủ ấy cùng với đại diện Nhà nước ở doanh nghiệp quản lý điều hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất Hơn nữa, việc huy động thêm vốn chỉ là phương tiện để đạt tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế Nếu không được quản lý sử dụng tốt, số vốn được huy động cũng không mang lại hiệu quả mong muốn
Trang 27sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Trước cổ phần hóa, việc phân phối thu nhập ở các DNNN mang nặng tính bình quân Sau khi chuyển thành CTCP, người lao động mua cổ phiếu và trở thành cổ đông Họ vừa là người chủ, vừa là người làm thuê Cổ phần hóa bảo đảm sở hữu cho người lao động tại doanh nghiệp bằng cách cho họ tham gia mua cổ phiếu, thực hiện quyền làm chủ thực sự trên phần vốn đóng góp và phấn đấu nâng cao hiệu quả đồng vốn đó Chủ sở hữu là cụ thể, đó là các cổ đông; lợi ích cũng cụ thể, đó là lợi tức cổ phần Lợi tức cổ phần là động cơ trực tiếp thôi thúc các cổ đông mà đại diện là HĐQT quản lý sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả Lợi tức cổ phần hiện nay thường đạt 12 - 15%, nghĩa là cao hơn mức lãi suất ngân hàng Động lực kinh tế này góp phần khắc phục nhược điểm của một số cán bộ lãnh đạo DNNN như tác phong hành chính, bị động, không dám mạnh dạn trong sản xuất kinh doanh
Cổ phần hóa cho phép dứt bỏ được chế độ bao cấp ngân sách của Nhà nước, làm cho doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh doanh, hoạt động theo các mục tiêu của doanh nghiệp và bình đẳng trước pháp luật, không bị chi phối, ràng buộc phi kinh tế làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Từ đó khắc phục nhược điểm làm chủ trừu tượng, chung chung trong các DNNN, thực hiện hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Đặc biệt hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, giảm các chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Cổ phần hóa DNNN và thị trường chứng khoán (TTCK) có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Cổ phần hóa tạo ra CTCP và thúc đẩy TTCK phát triển TTCK là nơi giao dịch cổ phiếu, tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa Thông qua TTCK, giá trị doanh nghiệp được xác định theo thị trường, là sự chấp nhận của người mua và người bán Mối quan
hệ giữa cổ phần hóa và TTCK thể hiện trước hết ở việc đấu giá cổ phần qua TTCK và niêm yết cổ phiếu trên TTCK ( hình 1.3)
Trang 28sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ giưa CPH và TTCK
1.2.3.1 Đấu giá cổ phần trên TTCK
Đấu giá cổ phần trên TTCK là việc bán cổ phần lần đầu khi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa hoặc bán bớt phần vốn nhà nước trong CTCP
Về lợi ích, quá trình đấu giá diễn ra công khai, minh bạch sẽ hạn chế cổ phần hóa khép kín, cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư lựa chọn Nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận mua cổ phiếu trên diện rộng (trực tiếp, gián tiếp)
Mức giá xác định dựa trên cơ sở thị trường (chấp nhận của người mua,
người bán), xác định chính xác các lợi thế thương mại, thương hiệu, đảm bảo tính khách quan, nhưng vẫn mang tính cạnh tranh
Thu được nguồn vốn lớn cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp Thông qua đấu giá thì cổ phiếu có thể được các nhà đầu tư mua cao gấp nhiều lần so với giá khởi điểm đưa ra đấu giá
Đấu giá cổ phần cũng có một số hạn chế như khả năng trúng thầu của nhà đầu tư cá nhân không cao, hoặc nếu có thì mức giá không tối ưu Giá trúng thầu có thể bị đẩy lên quá cao nếu thông tin về doanh nghiệp không đầy
đủ hoặc có quá đông nhà đầu tư tham gia Mất lợi thế về ưu đãi giá cho CBCNV, cổ đông chiến lược và gây trở ngại cho thị trường thứ cấp Số lượng
cổ đông bên ngoài công ty có thể bị hạn chế, nếu kết quả đấu giá nghiêng về một số nhà đầu tư chuyên nghiệp (không đảm bảo tỷ lệ ra công chúng) Thời hạn kết thúc đăng ký đấu trước ngày đấu thầu có thể sẽ gây rò rỉ thông tin về
số lượng, quy mô nhà đầu tư tham gia đấu thầu
Doanh
nghiệp Nhà
nước
Doanh nghiệp cổ phần
Thị trường
chứng
khoán
Nhu cầu đầu tư, các
tổ chức, cá nhân
Trang 29sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
1.2.3.2 Niêm yết cổ phiếu trên TTCK
Về lợi ích, đối với doanh nghiệp cổ phần hóa, niêm yết cổ phiếu sẽ nâng cao tính thanh khoản, tạo thuận lợi cho công ty huy động vốn, là phương tiện quảng cáo tốt nhất cho công ty, tăng uy tín của công ty trong mắt khách hàng, thực hiện quản trị công ty tốt nhất nhờ vào việc cổ đông giám sát qua
cơ chế công bố thông tin và công ty còn hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp để dành chia cổ tức và đầu tư mới cho trang thiết bị Áp lực về lợi nhuận trong thời gian giảm thuế bớt nặng nề và thời gian này được dùng để khắc phục những yếu kém về nhân sự, trình độ quản lý và năng lực sản xuất Người bán, người mua qua sàn giao dịch đều cảm thấy yên tâm hơn với những chứng nhận về mặt pháp lý cho cổ phiếu Cổ phiếu của những doanh nghiệp chưa niêm yết chỉ được giao dịch bằng giấy tay, độ rủi ro cao
Khi một công ty niêm yết cổ phiếu sẽ gặp một số hạn chế là bắt buộc phải kiểm toán và công bố thông tin, dễ lộ mục tiêu, kế hoạch kinh doanh; tốn kém chi phí niêm yết, kiểm toán, công bố thông tin; tạo áp lực về tăng trưởng, chi trả cổ tức cao và nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập
Cổ phần hóa được lựa chọn làm hình thức để chuyển đổi sở hữu nhà nước phổ biến nhất và cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân cho hợp lý, hiệu quả hơn Để tiến trình cổ phần hóa diễn ra thuận lợi và hiệu quả cao, việc tìm hiểu những kinh nghiệm về tiến trình cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới là rất cần thiết
1.3 VAI TRÒ CỦA NGÀNH ĐIỆN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Điện năng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta Bởi vì, hiện đại hoá chỉ có thể tiến hành được trên cơ sở công nghiệp hoá, mà điện năng là một loại năng lượng đặc biệt không thể thiếu đối với sự phát triển của mọi ngành công nghiệp Điện năng cũng như là một loại “nguyên liệu ban đầu” để sản xuất ra các sản phẩm khác Bên cạnh đó, điện năng còn đóng vai trò to lớn là phục vụ kinh tế - xã hội, đời sống của con người trong một xã hội hiện đại Trên bình diện một quốc gia, điện năng còn giúp thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, mang lại những tiện lợi chung của thế giới hiện đại Điện năng có tác động tới sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, phát triển xã hội, mở rộng và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, việc làm, tác động đến mức
Trang 30sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
sống, lối sống của người dân và của toàn xã hội Công nghiệp điện là một trong những ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi Ngành năng lượng điện (ngành điện) được coi như một ngành kinh tế hạ tầng cơ sở đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh
tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề quan trọng để bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ một nền kinh tế hầu như không tăng trưởng trước năm 1986, kinh tế Việt Nam đã khôi phục và phát triển ổn định Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 - 1999 bình quân 7,7% và đạt mức gần 9% trong 6 năm 1992 - 1997 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm
2001 - 2005 đạt mức kế hoạch đề ra 7,5%
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, trong những năm qua hoạt động điện lực nói chung và của Công ty Điện lực 1 nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư thích đáng, vì vậy năm 2005 Công ty Điện lực 1 đã phấn đấu thực hiện vượt mức chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật kế hoạch được giao Điện mua đàu nguồn lên đến 11.394.5 Tr, kWh chiếm, điện thương phẩm 10.426 Tr.kWh tăng 14.1% so với năm 2004, tỷ lệ tổn thất 10,05% và giá bán điện là 662,83 đ/kWh Nhìn chung trong 5 năm qua, sản xuất - kinh doanh của Công ty Điện lực 1 đã góp phần đáp ứng đủ điện cho nền kinh tế và đời sống xã hội, đã hoàn thành sớm trước thời hạn 1 năm chỉ tiêu điện sản xuất và thương phẩm của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 Cơ cấu sản xuất kinh doanh điện của Công ty Điện lực 1 hiện nay cũng thay đổi.Trong những năm 1985 Công ty Điện lực 1 đã hoàn thành mạng lưới điện cấp điện áp 220 kV nối liền các nút chia điện Hoà Bình, Hà Đông, Chèm, Đông Anh, Phả Lại, Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh Đưa Nhà máy Nhiệt điện Phả lại
có công suất 110 MW x 4 = 440 MW vào hoạt động, nâng tổng công suất nguồn lên 860 MW, sản lượng đạt 3 tỷ kWh chiếm 50% sản lượng điện trong
cả nước
Công tác quản lý, vận hành, cải tạo và phát triển lưới điện, đặc biệt lưới điện phân phối được cải tiến và tăng cường trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả đáng kể trong việc giảm tổn thất điện năng từ trên 20% những năm
1991 (27,0%) - 2001 (8,9%) xuống còn 8,6% năm 2005 Trung bình giảm 1,8%/năm giá trị làm lợi tăng doanh thu đến hàng trăm tỷ đồng/ năm và làm
Trang 31sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
lợi do không phải đầu tư nguồn từ 200-300 tỷ đồng / năm Thực hiện nghị quyết của Quốc Hội khoá X trong hai năm 200 – 2001, dưới sự chỉ đạo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, Công ty Điện lực 1 đã cơ bản hoàn thành việc tiếp nhận lưới điện trung áp nông thôn Khối lượng đường dây và trạm biến áp Công ty Điện lực 1 tiếp nhận băng 1/3 khối lượng đường dây và trạm cùng loại mà Công ty đang quản lý Đây là một khó khăn rất lớn mà Công ty phăi khắc phục Tuy nhiên do Công ty đã tích cực đầu tư xây dựng đưa điện
về nông thôn, vùng sâu, vùng xa Tính đến nay, số huyện có điện đạt tỷ lệ 100%; có 93% xã và 91% số hộ nông thôn được sử dụng điện lưới quốc gia
Tỷ lệ người dân được sử dụng điện cao hơn nhiều nước trong khu vực có điều kiện kinh tế bằng hoặc cao hơn ta
Về cơ cấu sản xuất điện trong những năm 2004 đến 2006 sản lượng thuỷ điện luôn chiếm tỷ trọng cao trên 70%, nhưng có xu hướng giảm dần
năm 2005 chỉ còn 28,61% Tính đến ngày 01/12/2006 về cơ cấu nguồn điện theo công suất lắp đặt: thuỷ điện 28,61%, nhiệt điện than, Dầu 18,45%, Tua bin khí (khí + Diesel) 55,40% Sản lượng điện năm 2006 là 57.450 triệu kwh
(xem chi tiết tại Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất điện năng
Trang 32sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Qua tình hình tiêu thụ điện từ năm 2004 - 2006 (Bảng 1.3) nhận thấy rằng, điện thương phẩm tăng gần 4 lần với tốc độ tăng trưởng bình quân 13,.4% cao hơn tốc độ tăng trưởng điện năng sản xuất Nguyên nhân chủ yếu
do công tác quản lý, vận hành, cải tạo và phát triển lưới điện, đặc biệt lưới điện phân phối được cải tiến và tăng cường trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả đáng kể trong việc giảm tổn thất điện năng từ trên 12,2% năm 2004 xuống còn 11,8% năm 2006 Tốc độ tăng trưởng của ngành điện lớn hơn tốc
độ tăng trưởng kinh tế cùng thời kỳ , càng cho thấy vai trò đi trước một bước của ngành điện trong sự nghiệp phát triển đất nước
Bảng 1.3: Cơ cấu tiêu thụ điện năng 2004 - 2006
Đơn vị : Triệu KW/h
1.4 SỰ TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CỔ PHẦN HOÁ NGÀNH ĐIỆN
Do đặc thù của sản phẩm điện là không dự trữ được, các khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ điện (sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ) gắn trực tiếp với nhau nên mô hình tổ chức trước đây của ngành điện dựa trên quan niệm điện lực là một ngành hạ tầng cơ sở cho phát triển kinh tế nên ở hầu hết các nước trên thế giới, ngành điện được hình thành từ một công ty nhà
Trang 33sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
nước nắm độc quyền quốc gia thâu tóm toàn bộ quá trình từ sản xuất, truyền tải đến phân phối điện
• Nhu cầu vốn đầu tư rất lớn
Trong những năm gần đây, do nền kinh tế thế giới phát triển mạnh, trào lưu tự do hoá kinh tế làm cho nhu cầu về năng lượng nói chung và nhu cầu điện nói riêng ngày càng tăng cao Đầu tư cho phát triển điện gây một sức ép rất lớn về tài chính đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển, đồng thời hiệu quả hoạt động của các công ty điện lực độc quyền có xu hướng ngày càng giảm do bao cấp giá điện cho toàn bộ hoặc một số lĩnh vực, sự kém năng động trong quản lý, không cân đối được tài chính
Để đáp ứng được nhu cầu tăng điện năng cho nền kinh tế quốc dân, công tác đầu tư xây dựng phát triển nguồn và lưới điện là vô cùng quan trọng Trong thời gian vừa qua công tác trên là công tác trọng tâm, quan trọng của Tổng công ty Năm 2005 khối lượng đầu tư xây dựng của Tổng công ty đạt 24.341 tỷ đồng , bằng 95,95% kế hoạch, trong đó khối lượng đầu tư thuần đạt 21.541 tỷ đồng, bằng 93,34% kế hoach và trả nợ vốn vay gốc và lãi vay trong thời gian xây dựng đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 10,5% đầu tư thuần tăng 1.841 tỷ đồng tương đương với tốc độ tăng trưởng 9,43% Ta có thể điểm lại tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong một số năm gần đây (từ năm 2002 - 2005).-bảng 1.4
Bảng 1.4: Tổng hợp thực hiện vốn đầu tư xây dựng từ năm 2002-2005
của ngành Điện lực Việt Nam
Đơn vị: Triệu đồng
Diễn giải 2002 2003 2004 2005 Tổng cộng
5.483.421 2.253.260 4.243.501
18.815.200
18.815.200
7.855.926 4.623.086 4.592.097
22.322.148
19.322.148 3.000.000
8.922.610 4.648.094 4.711.740
25.954.355
22.954.355 3.000.000
11.559.995 3.673.368 5.202.038
Trang 34sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Căn cứ vào tình hình thực hiện vốn đầu tư của EVN, Công ty Điện lực
1 đã cân đối nguồn vốn đầu tư hàng năm như sau:
Bảng 1.5: Nguồn vốn đầu tư cho xây dựng hàng năm Công ty ĐL1
Đơn vị tính: Triệu đồng
Tổng vốn ĐTXD
Vốn
KHCB
Vốn ĐTPT
và vốn khác
Tổng nước Vay
ngoài
Vay ưu đãi
Vay ngân hàng
Tổng
KH 2004 741.037 14.846 755.883 208.910 18.000 0 226.910 982.793
KH 2005 927.150 24.727 951.877 325.751 58.753 262.295 646.799 1.598.676
KH 2006 876.246 0 876.246 347.451 96.016 450.560 894.027 1.770.273
(Nguồn số liệu: Phòng Kế hoạch – PC1)
Qua bảng 1.5 ta có thể thấy tổng vốn do Công ty phải huy động để đáp ứng nhu cầu đầu tư đã tăng lên đáng kể qua các năm Trong năm 2004, Tổng công ty vẫn cân đối đầu tư toàn bộ lưới điện 110KV và các công trình đưa điện về xã chưa có điện nên lượng vốn Công ty vay không lớn và chưa có vay ngân hàng để đầu tư Đến tháng 9/2005 Tổng công ty có chủ trương giao cho các Công ty tự cân đối đầu tư toàn bộ lưới điện 110KV trở xuống đã làm tăng thêm gánh nặng đầu tư cho Công ty Và đến năm 2006 khi chủ trương trên được thực hiện ngay từ đầu năm thì phần vốn vay đã tăng lên nhanh chóng và chủ yếu là vốn vay ngân hàng Sự tăng trưởng của các nguồn vốn đã cho thấy nhu cầu cấp thiết phải mở rộng đầu tư, đồng thời cũng thể hiện những khó khăn trong cân đối nguồn vốn và khả năng tài chính của Công ty
Trang 35sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Tính năng động của khu vực tư nhân: Hơn nữa sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân đã tác động mạnh mẽ đến cấu trúc kinh tế của các nước
• Kinh tế mở:
Mô hình kinh tế mở, xu hướng quốc tế hoá và tăng cường trao đổi giữa các nước cũng thâm nhập vào ngành điện lực Đặc biệt nhờ sự phát triển mạnh của công nghệ, nhất là công nghệ về điều khiển, vận hành lưới điện lớn, khoa học và công nghệ tiên tiến đã chứng minh được rằng, có thể co hẹp phạm vi độc quyền trong ngành điện bằng cách tạo ra sự cạnh tranh của một
số công đoạn Song với tính chất là cơ sở hạ tầng, ngay cả trong cơ chế thị trường, vẫn cần phải có sự bao cấp ở một số lĩnh vực Do đó các nước bắt buộc phải thay đổi lại tổ chức của ngành này để có thể thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng của quá trình trao đổi, hợp tác trong sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng, trong đầu tư xây dựng và thậm chí trong việc tham gia vào các dự án phát triển điện lực
• Áp lực từ các tổ chức nước ngoài:
Ngoài ra, các tổ chức tài chính như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp nhà nước Thông qua điều kiện xét duyệt các dự án cho vay, các tổ chức này đã yêu cầu các nước tiến hành cải cách ngành điện lực để đảm bảo tính hiệu quả về tài chính và khả năng thanh toán trong đó có Việt Nam
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp hay nước đang phát triển, xu thế cải tổ ngành điện đã và đang được tiến hành Việc cải tổ ngành điện ở các nước đang phát triển thường được thực hiện theo các bước sau:
- Tách hoàn toàn các chức năng quản lý nhà nước ra khỏi các chức năng quản lý sản xuất kinh doanh trong ngành điện
- Thành lập cơ quan điều tiết để giải quyết, đề xuất những vấn đề có liên quan đến sản xuất, kinh doanh, giá cả và các vấn đề pháp lý khác có liên quan đến hoạt động điện lực
- Phân chia ngành điện lực độc quyền thành các lĩnh vực phát điện, truyền tải điện và phân phối điện, bán buôn, bán lẻ và tiến hành thương mại hoá từng khâu này, tiến tới hình thành thị trường trao đổi điện năng
- Xây dựng cơ chế để tạo ra sự cạnh tranh trong mỗi lĩnh vực
Trang 36sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
- Xu hướng chuyển hình thức sở hữu bằng cách cổ phần hoá hoặc tư nhân hoá từng phần
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nhưng cũng có những hạn chế nhất định làm cho DNNN hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Cổ phần hóa là sự cần thiết khách quan để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập ở tại trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh , tăng khả năng huy động và sử dụng vốn, tạo động lực cho người lao động Trong chương 1 luận văn đã hệ thống hoá một số nội dung lý luận cơ bản liên quan đến cổ phần hoá, sự tất yếu khách quan của cổ phần hoá trong con đường phát triển
Công ty Điện lực 1 là một doanh nghiệp nhà nước, trong quá trình CPH, với các mục đích như trên, Công ty còn phải thực hiện việc đảm bảo tính chất phục vụ cho xã hội, đáp ứng định hướng của Đảng ta là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phát triển doanh nghiệp làm cơ sở cho sự phát triển của cả xã hội Trong chương 2 luận văn sẽ phân tích đánh giá tình hình cổ phần hoá tại Công ty 1
Trang 37sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ
CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1
2.1.1.1 Giới thiệu chung về Công ty
Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt : Công ty điện lực 1
Tên gọi bằng tiếng Anh : Power Company 1
Tên viết tắt : PC1
Trụ sở : 20 Trần Nguyên Hãn - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Công ty điện lực 1 là đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Tập đoàn điện lực Việt Nam
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Điện lực trước đây nay là Công ty Điện lực l được thành lập
từ ngày 6/10/1969 trên cơ sở tiền thân là Cục Điện lực thuộc Bộ Điện và Than Công ty được thành lập khi kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam vừa trải qua cuộc tổng tiến công nổi dậy, ở miền Bắc cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đang ở thời kỳ gay go ác liệt nhất Các cơ sở vật chất của Công ty đều là các mục tiêu oanh tạc hàng đầu của không lực Hoa Kỳ Thời kỳ ban đầu nguồn điện chỉ có 181MW
Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, Công ty Điện lực 1 có nhiệm
vụ nặng nề là vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh khôi phục sản xuất, vừa phải sản sẻ những cán bộ lãnh đạo, công nhân có trình độ tay nghề cao, san sẻ vật tư thiết bị, tiền vốn để tiếp quản các cơ sở vật chất của ngành điện lực trên nửa phần đất nước vừa được giải phóng và tham gia trong việc thành lập Công ty Điện lực 2 ở miền Nam và Công ty Điện lực 3 ở miền Trung Trong thời gian ngắn Công ty Điện lực 1 đã khôi phục các nhà máy điện, trạm biến
áp, đường dây truyền tải để đưa công suất nguồn đạt 451MW, điện năng đạt tới 1.264kWh
Thời kỳ 1985- 1995 Công ty Điện lực 1 có nhiều chuyển biến đang kế, hàng năm đều hoàn thành các chỉ tiêu của Bộ chủ quản giao, tỷ lệ tăng trưởng nguồn, lưới điện, khách hàng cũng như các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đều tăng cao hơn trước với tốc độ từ 10- 20% Sự tăng trưởng này đã đảm bảo cho chất
Trang 38sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
lượng quản lý của Công ty ngày càng ổn định và vững chắc Thời kỳ này Công ty Điện lực 1 thể hiện rõ vai trò chủ chốt trong ngành điện
Tháng 12/1988 việc đưa tổ máy số 1 thuỷ điện Hoà Bình có công suất 240MW vào vận hành nâng tổng công suất cho Công ty Điện lực 1 lên gần
3.000MW So với năm 1985 nguồn điện tăng hơn 3,5 lần
Thực hiện Nghị quyết lần thứ 22 của Ban chấp hàng Trung ương khoá
VI, Công ty Điện lực 1 đã đưa vào vận hành các đường dây và trạm biến áp
để lưới điện quốc gia đã được phủ kín các tỉnh miền Bắc Năm 1992 cơ bản các huyện trong các tỉnh miền Bắc đã có điện lưới quốc gia, đem ánh sáng của Đảng tới các đồng bào dân tộc ít người, nơi xa xôi hẻo lánh
Từ khi mới thành lập Công ty Điện lực 1 có 17 đơn vị thành viên, quá trình phát triển có lúc lên tới 46 đơn vị, trong thời kỳ đổi mới Công ty Điện lực 1 giảm xuống còn 36 đơn vị
Từ 10/1994 khi thành lập Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), do thay đổi về cơ cấu tổ chức quản lý, các nhà máy điện lớn và Điện lực Hà Nội, Điện lực Hải Phòng tách khỏi Công ty Điện lực 1 trực thuộc EVN, từ đó đến nay Công ty Điện lực 1 chủ yếu làm nhiệm vụ kinh doanh bán điện trên địa bàn miền Bắc, một phần sản xuất điện từ các nhà máy thủy điện nhỏ và điện diesen ở một số tỉnh miền núi Công ty đã hoàn thành nhiệm vụ đưa điện phục
vụ nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, phục vụ đắc lực tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện hợp tác giao lưu kinh tế -
kỹ thuật với thế giới và khu vực
Công ty điện lực 1 đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, thách thức nhưng cũng rất tự hào về những thành quả đạt được Trong gần 40 năm qua, phát huy truyền thống cao đẹp của ngành điện, cán bộ công nhân viên Công ty điện lực 1 quyết tâm xây dựng đơn vị thành một doanh nghiệp phân phối điện lớn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, thoả mãn nhu cầu điện năng ngày càng cao của đời sống kinh tế xã hội, đóng góp nhiều cho sự nghiệp CNH - HĐH
mà Đảng và Nhà nước đề ra, xứng đáng với danh hiệu “Đơn vị anh hùng thời
kỳ đổi mới” mà Đảng và Nhà nước trao tặng
Công ty Điện lực 1 (CTĐL I) được thành lập lại theo Quyết định số 146/TTg ngày 7/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ là một trong 9 Công ty phân phối điện, hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) Công ty có nhiệm vụ chính là kinh
Trang 39sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
doanh phân phối điện năng trên địa bàn của 25 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung
bộ với diện tích 145.244km2 và dân số trên 30 triệu người, chiếm 43% diện tích và 36% dân số Việt Nam, trừ các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh Hải Dương, Ninh Bình
Ngoài ra, công ty còn kinh doanh trên một số lĩnh vực khác như kinh doanh thiết bị và dịch vụ viễn thông công cộng, sản xuất vật liệu điện, xây lắp điện, kinh doanh khách sạn, du lịch, tư vấn khảo sát thiết kế trong lĩnh vực xây dựng điện Trực thuộc Công ty có 25 Điện lực tỉnh hạch toán phụ thuộc, 6 đơn vị phụ trợ, 3 Ban quản lý dự án (BQLDA) Ngoài ra Công ty còn góp vốn
cổ phần, liên doanh để thành lập các Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công
ty liên doanh, liên kết, hợp doanh
- Công nhân kỹ thuật
- Chưa đào tạo
53 4.384 4.860 11.204
0
- Hợp đồng dài hạn (không xác định thời hạn)
- Hợp đồng ngắn hạn (từ 1-3 năm)
- Hợp đồng dưới 1 năm
- Viên chức không phải ký HĐLĐ
17.962 2.260
129
150 Nguồn : Phòng Tổ chức cán bộ Công ty điện lực 1
2.1.3.2 Bộ máy quản lý và mô hình tổ chức quản lý :
Trang 40sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem sang kien nghiem
Hình 2.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty điện lực 1 trước CPH
Giám đốc là đại diện theo pháp luật trong mọi hoạt động của Công ty
và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Tập đoàn Giúp việc Giám đốc có
các Phó giám đốc được Giám đốc phân công và uỷ nhiệm quản lý, điều hành
Đơn vị trực thuộc
Điện lực Bắc Giang Điện lực Bắc Kạn
Điện lực Cao Bằng Điện lực Bắc Ninh
Điện lực Hà Giang Điện lực Điện Biên
Điện lực Hòa Bình Điện lực Hà Tĩnh
Điện lực Lạng Sơn Điện lực Hưng Yên
Điện lực Lai Châu Điện lực Lào Cai
Điện lực Nghệ An Điện lực Nam Định
Điện lực Quảng Ninh Điện lực Phú Thọ
Điện lực Hà Tây Điện lực Hà Nam
Điện lực Thái BÌnh Điện lực Sơn La
Điện lực Thanh Hóa Điện lực Thái Nguyên
Điện lực Vĩnh PHúc Điện lực Yên Bái Điện lực T Quang
Cơ quan Công ty
P Kỹ thuật P4 Phòng TC cán bộ P3
Công ty Điện lực 1 Ban Giám đốc Công đoàn
Đơn vị phụ trợ
Ban QLDA Lưới điện
Khách sạn Điện lực HN
Ban QL dự án phát triển ĐL
Trung tâm thí nghiệm điện
Ban QLDA CTLĐ ADB
CT CP vật liệu kỹ thuật điện
CT CP Cơ điện vật tư
CT CP sử thủy tinh cách điện