1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng hiện hành

138 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Thuế Giá Trị Gia Tăng Hiện Hành
Tác giả Nguyễn Hịa Bình
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hcm
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2001
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 388,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUQua 2 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã phát huycác mặt tích cực đối với đời sống kinh tế – xã hội; gópphần khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh;góp phần khuyến khíc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2001

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 01

CHƯƠNG 1 02

TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1.1 – THUẾ GTGT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 02

1.1.1- Khái niệm GTGT và thuế GTGT 02

1.1.2- Quá trình ra đời và phát triển của Thuế GTGT trên thế giới 02

1.1.3 - Các phương pháp tính thuế GTGT 04

1.1.4- Ưu điểm của thuế GTGT 05

1.1.5- Các nguyên tắc để xây dựng một luật thuế GTGT khả thi 05

1.1.6 - Các điều kiện cần thiết để áp dụng thuế GTGT một cách hiệu quả 06

1.2SỰ CẦN THIẾT CỦA THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM 07

1.2.1 - Thuế GTGT có thể khắc phục được các hạn chế của thuế doanh thu 07

1.2.2 - Thuế GTGT là một nội dung quan trọng của quá trình cải cách thuế bước 2 ở Việt nam 10

1.2.3 - Phục vụ cho việc hòa nhập vào khu vực và thế giới của thuế GTGT 10

1.3THUẾ GTGT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM 11

1.3.1- Những quy định chung 12

1.3.2- Căn cứ và phương pháp tính thuế 13

1.3.3 - Đăng ký, kê khai, quyết toán, nộp thuế 15

1.3.4- Xử lý vi phạm 17

1.3.5- Xét giảm thuế 17

1.4 – QUAN ĐIỂM VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ THUẾ GTGT CẦN THAM KHẢO ĐỂ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM 17

1.4.1- Thuế GTGT ở Philippines 18

1.4.2- Thuế GTGT ở Đài Loan 18

1.4.3- Quan điểm của một số nước chưa áp dụng thuế GTGT hoặc đã gặp nhiều khó khăn, thất

bại khi áp dụng thuế này 19

2

Trang 3

1.4.4- Các bài học kinh nghiệm có thể tham

khảo để áp dụng ở Việt nam 21

CHƯƠNG 2 22

NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CẦN GIẢI QUYẾT SAU 2 NĂM THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT 2.1 – NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM

22 2.2 – NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 2 NĂM THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT. 23

2.2.1 - Góp phần khuyến khích đầu tư; ổn định, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và sắp xếp lại cơ cấu nền kinh tế 23

2.2.2 -

Góp phần khuyến khích xuất khẩu; bảo hộ sản xuất trong nước 26

2.2.3 -

Không gây biến động giá cả thị trường 27

2.2.4 -

Không làm ảnh hưởng kết quả thu ngân sách 29

2.2.5 -

Tác động tích cực đến kết quả quản lý của doanh nghiệp 29

2.2.6 -

Tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nước 30

2.2.7 -

Phục vụ cho tiến trình hòa nhập với các tổ chức kinh tế trong khu vực và thế giới 31

2.3 – CÁC VẤN ĐỀ TỒN TẠI CẦN GIẢI QUYẾT 31

2.3.1 – Về Chính sách, chế độ thuế GTGT 31

2.3.1.1 - Một số đối tượng không chịu thuế, đối tượng chịu thuế và thuế suất của các đối tượng chịu thuế chưa rõ ràng và chưa phát huy vai trò điều tiết của thuế 31

2.3.1.2 -

Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu chưa phù hợp 35

2.3.1.3 - Việc áp dụng hai phương pháp tính thuế GTGT gây bất bình đẳng 36

2.3.1.4 - Vấn đề “khấu trừ khống” thuế GTGT đầu vào còn tạo kẽ hở pháp lý 37

3

Trang 4

2.3.1.5 -

Điều 28 Luật thuế GTGT quy định việc xét giảm thuế GTGT cần được giải thích rõ hơn 38

2.3.2 – Về vấn đề hóa đơn và quản lý thông qua hóa

đơn còn nhiều bất cập cần giải quyết 38

2.3.3 – Về tổ chức, thực hiện chính sách thuế GTGT 41

2.3.3.1- Một số trường hợp kê khai, quyết toán thuế và nộp thuế còn gây khó khăn và vướng mắc

khi thực hiện 41

2.3.3.2 -

Công tác hoàn thuế còn chậm 42

2.3.3.3- Quy trình quản lý thuế hiện nay cần phải tiếp tục được cải cách cho có hiệu quả để ngang tầm với sự tiên tiến của Luật thuế mới 42

2.3.4 – Một số vấn đề tồn tại khác liên quan đến việc thực hiện chính sách thuế GTGT cũng cần phải được khắc phục nhằm tạo môi trường pháp lý cho Luật thuế GTGT phát huy tác dụng 44

2.4 – NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT HIỆN NAY 45

2.4.1 -

Nguyên nhân khách quan 45

2.4.2 -

Nguyên nhân chủ quan 46

CHƯƠNG 3 47

CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT HIỆN HÀNH 3.1 – TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 47

3.2 – CÁC YÊU CẦU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT HIỆN NAY 47

3.2.1 -

Yêu cầu 47

3.2.2 -

Phương hướng hoàn thiện 48

3.3 – CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT HIỆN HÀNH 48

3.3.1 – Về Chính sách, chế độ thuế GTGT 48

3.3.1.1 - Sửa đổi, bổ sung yếu tố đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế và thuế suất 48

3.3.1.2 -

Cần thay đổi cách tính giá hàng nhập khẩu để tính thuế nhập khẩu và thuế GTGT ở khâu nhập

khẩu 53

3.3.1.3 -

Thống nhất một phương pháp tính thuế GTGT 53

4

Trang 5

3.3.1.4- Điều chỉnh theo hướng hạn chế và đi đến

xóa bỏ diện “khấu trừ khống” thuế GTGT đầu

vào 54

3.3.1.5 -

Quy định rõ đối tượng được xét giảm thuế GTGT tại Điều 28 Luật thuế GTGT 55

3.3.2 – Các giải pháp ngăn chặn tình trạng vi phạm chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ 56

3.3.3 – Về tổ chức, thực hiện chính sách thuế GTGT 57

3.3.3.1 -

Bổ sung, điều chỉnh một số vấn đề về kê khai, nộp thuế 57

3.3.3.2 -

Giảm thời gian giải quyết hoàn thuế 58

3.3.3.3 - Đẩy mạnh việc hiện đại hóa Quy trình quản lý thuế ở khâu xử lý số liệu, thông tin và công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ thuế nhằm phù hợp tình hình hiện nay 58

3.3.4 – Một số giải pháp đồng bộ khác đảm bảo môi trường thuận lợi cho Luật thuế phát huy tác dụng 59

3.3.4.1 -

Về vấn đề kế toán thuế GTGT 60

3.3.4.2 - Vần đề quy định thời gian hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật 60

3.3.4.3 -

Sớm nghiên cứu và ban hành Luật tố tụng về

thuế 60

3.3.4.4 -

Phải nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng 61

3.3.4.5 -

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật thuế 61 KẾT LUẬN 63

12 PHỤ LỤC.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

5

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Qua 2 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã phát huycác mặt tích cực đối với đời sống kinh tế – xã hội; gópphần khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh;góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuấttrong nước; nâng cao hạch toán kinh doanh của doanhnghiệp cũng như tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhànước… Tuy nhiên, Luật thuế GTGT là một sắc thuế mớilần đầu tiên được áp dụng ở nước ta trong điều kiện nềnkinh tế trong nước và thế giới đang có nhiều biến độngnên không thể tránh khỏi những khó khăn, vướng mắccần phải bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy hếttính ưu việt vốn có của nó

Với nhận thức của một học viên cao học, đồng thờicũng là một nhân viên ngành thuế, tác giả rất bứcxúc trước những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc củaLuật thuế GTGT hiện hành còn gây không ít khó khăncho nhà sản xuất, kinh doanh cũng như cho cơ quan thuế

trong khi thực hiện, cho nên đã chọn đề tài: “CÁC GIẢI

PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT HIỆN HÀNH”.

Đề tài hướng đến mục đích giải quyết các vấn đềcòn vướng mắc, khó khăn nhằm làm cho Luật thuế GTGT

ở Việt nam được hoàn thiện hơn Tác giả dựa trên cơ sởnghiên cứu các vấn đề cơ bản của thuế GTGT kết hợpvới việc phân tích tình hình thực tiễn ở Việt nam và kinhnghiệm rút ra từ các quốc gia đã áp dụng thành côngLuật thuế GTGT để đưa ra các giải pháp góp phần hoànthiện chính sách thuế trong thời gian tới

Luận văn này gồm 63 trang và phần phụ lục Ngoàiphần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu nhưsau:

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT Ở VIỆT

NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI.

CHƯƠNG II : NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ

CÁC VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CẦN GIẢI QUYẾT SAU HAI NĂM THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GTGT.

Trang 7

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH

SÁCH THUẾ GTGT HIỆN HÀNH.

Trang 8

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA

TĂNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ

GIỚI

1.1 - THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:

1.1.1 – Khái niệm GTGT và thuế GTGT:

a/ Giá trị gia tăng:

Giá trị gia tăng (GTGT) là giá trị tăng thêm đối vớimột sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ phát sinh trongquá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và nó đượcxác định làm căn cứ tính thuế GTGT

GTGT có thể tính bằng phương pháp cộng hoặcphương pháp trừ Theo phương pháp cộng, giá trị gia tănglà giá trị các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm, baogồm chủ yếu là giá trị lao động (thường được tính bằngchi phí lao động) và lợi nhuận về hoạt động sản xuấtkinh doanh, dịch vụ Còn theo phương pháp trừ, GTGT làkhoảng chênh lệch giữa giá bán đầu ra và giá mua đầuvào Từ những phương pháp trên, về mặt lý thuyết,người ta có thể biểu thị GTGT bằng các đẳng thức sau

Giá trị gia tăng = Tiền lương + Lợi nhuận

Giá trị gia tăng = Giá trị đầu ra – Giá trị đầu vào

b/ Thuế giá trị gia tăng:

Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêmcủa hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sảnxuất, lưu thông đến tiêu dùng Sản phẩm hàng hóa, dịchvụ dù có qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đếntiêu dùng cũng đều chịu một mức thuế như nhau trênphần giá trị tăng thêm ở từng khâu

Thuế GTGT là thuế gián thu do người tiêu dùng chịuthông qua việc trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ Ngườisản xuất, kinh doanh chỉ là người nộp thuế thay ngườitiêu dùng Với tư cách là người bán, các nhà sản xuất,kinh doanh sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán rồi thu sốthuế đó từ người mua (cùng với giá bán hàng) và nộpsố thuế GTGT đã thu vào Ngân sách Nhà nước Khi muahàng hóa về kinh doanh hoặc mua nguyên liệu, vật liệuvề sản xuất, kinh doanh với tư cách là người mua hàngcũng phải trả cho người bán hàng tổng số tiền gồm giámua hàng và thuế GTGT Nhưng khi bán ra, họ sẽ thu thuế

Trang 9

GTGT ở người mua hàng, đồng thời được khấu trừ số thuếGTGT đã nộp lúc mua hàng và chỉ phải nộp số chênhlệch còn lại vào Ngân sách Nhà nước.

1.1.2 – Quá trình ra đời và phát triển của Thuế GTGT trên thế giới:

Người đầu tiên nghĩ ra loại thuế này là một ngườiĐức tên là Carl Friedrich Von Siemens (Thành viên của giađình sáng lập Công ty Siemens A.G, một công ty

Trang 10

sản xuất máy điện tử lớn nhất của nước Đức) Mặc dùvậy, ông không thuyết phục được chính phủ áp dụng loạithuế này và chỉ tới năm 1986, Cộng hòa Liên bangĐức mới bắt đầu áp dụng thuế GTGT.

Trên thực tế, thuế GTGT ra đời đầu tiên ở Pháp dokết quả của một quá trình lâu dài nhằm vào việc hoànthiện hệ thống thuế nước này mà tầm quan trọng là đểtăng cường các loại thuế gián thu Nó có nguồn gốc từthuế doanh thu được nghiên cứu và áp dụng từ sau Chiếntranh thế giới lần thứ nhất nhằm động viên rộng rãi sựđóng góp của quãng đại quần chúng nhân dân cho nhucầu của Nhà nước

Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ năm 1917.Thời kỳ đầu, thuế doanh thu chỉ đánh vào giai đoạn cuốicủa quá trình lưu thông hàng hóa (khâu bán lẻ) với thuếsuất rất thấp Đầu năm 1920, thuế doanh thu được điềuchỉnh đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất Trongthực tế, cách đánh thuế này đã phát sinh nhược điểm vềtính trùng lắp Nói cách khác, quá trình sản xuất ranhững sản phẩm càng qua nhiều khâu thì thuế càng cao

do thuế chồng lên thuế Để khắc phục những nhượcđiểm này, năm 1936, Pháp cải tiến thuế doanh thu quahình thức đánh thuế một lần vào công đoạn cuối cùngvào quá trình sản xuất (tức là khi sản phẩm được đưavào khâu lưu thông lần đầu) Như vậy việc đánh thuếđộc lập, một lần với độ dài của quá trình sản xuất, đãkhắc phục được hiện tượng thuế trùng lắp trước đó

Tuy nhiên, chính sách thuế này lại phát sinh nhượcđiểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khisản phẩm được đưa vào khâu lưu thông lần đầu Nhànước mới thu được thuế

Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì mãi đến năm

1954, Chính phủ Pháp mới cải tiến thuế đánh một lầnvào sản xuất thành thuế GTGT (Tax sur la Valeur Ajoutée –viết tắt: TVA) Lúc đầu thuế GTGT được ban hành để ápdụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạnchế việc thu thuế chồng chéo qua nhiều khâu trong lĩnhvực công nghiệp, với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉkhấu trừ ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu.Đến năm 1968, nó đã có hiệu lực cả trong lãnh vực bánlẻ hàng hóa và cung ứng dịch vụ Quá trình thống nhấthóa Châu Âu được thúc đẩy vào những năm 50 đã cótác dụng thuận lợi để thuế GTGT triển khai nhanh chóng ởcác nước khác Đến năm 1966, trong xu hướng cải cáchhệ thống thuế “đơn giản và hiện đại” chung ở Châu Âu,

Trang 11

thuế GTGT được ban hành chính thức để thay thế một sốsắc thuế gián thu.

Từ năm 1978, theo yêu cầu điều hòa pháp luật củacác nước thành viên Liên minh Châu Âu, nước Phápđiều chỉnh lại Luật tài chính, trong đó có phần quantrọng là thuế GTGT Năm 1986, thuế GTGT ở Pháp được ápdụng rộng rãi đối với tất cả ngành nghề sản xuất, lưuthông hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng hai mục tiêuquan trọng: Bảo đảm số thu kịp thời, thường xuyên choNgân sách Nhà nước và khắc phục tình trạng thu trùnglắp của thuế doanh thu

Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, thuế GTGT làmột trong những đặc điểm riêng có của một nền kinhtế phát triển Nhưng ở Pháp, ngay từ khi được ban

Trang 12

hành, nó nhằm vào việc khắc phục các nhược điểmcủa hệ thống thuế trước đó Việc ban hành loại thuếnày cũng xuất phát từ mong muốn tăng thêm thu nhậpcho Nhà nước, cũng như bắt nguồn từ nhu cầu của Chínhphủ trong việc nâng cao hiệu quả đánh thuế, đáp ứngtrình độ phát triển chuyên môn hóa ngày càng cao củanền kinh tế Nhờ vào một số ưu thế, thuế GTGT đãnhanh chóng được triển khai hầu hết tại các nước thuộcLiên minh Châu Âu, ở nhiều nước công nghiệp pháttriển khác và một số nước đang phát triển Nếu vàogiữa năm 1988 chỉ có 47 nước áp dụng loại thuế này thìđến tháng 7 năm 1991 đã có 56 nước chính thức banhành thuế GTGT (chưa kể 15 nước dự kiến áp dụng), đếnnay đã có trên 100 nước đã đưa thuế GTGT vào hệ thốngthuế của mình Riêng tại Châu Á, thuế GTGT ngày càngtrở nên là một sắc thuế phổ biến trong khu vực Khởiđầu là Hàn Quốc áp dụng từ năm 1977 (thật ra thuếGTGT được áp dụng đầu tiên tại Miền nam Việt Nam từngày 01/07/1973), rồi đến Indonesia (1985), Đài Loan (1986),Philippins (1988), Nhật Bản (1988), Thái Lan (1991)… Gầnđây sau một thời gian thí điểm, Trung Quốc cũng đã choáp dụng loại thuế này trong cả nước từ ngày 01/01/1994.

Ở Singapore, một loại thuế tương tự có tên gọi là GST(Goods and Services Tax) đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày01/04/1994

Về tên gọi, có nhiều nước gọi là thuế GTGT, điểnhình là Pháp, Anh, Thụy Điển… Một số nước gọi là thuếhàng hóa và dịch vụ như Canada, New Zealand… Ở Phần Lanvà Áo vẫn gọi theo tên cũ là Thuế doanh thu với quanđiểm cho rằng: Đây không phải là sắc thuế mới mà bảnchất vẫn là thuế doanh thu cũ, chỉ thay đổi nội dung,biện pháp thu, mặt khác, thuế GTGT đánh trên giá trịhàng nhập khẩu nên không còn ý nghĩa là thuế đánhtrên giá trị gia tăng nữa

1.1.3 – Các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:

Căn cứ vào khái niệm nêu trên, về mặt lý thuyếtcó 3 phương pháp xác định số thuế phải nộp :

là phương pháp kế toán): Thuế suất x (tiền công + lợi nhuận)

là phương pháp kế toán): Thuế suất

x (giá đầu ra – giá đầu vào)

pháp hóa đơn hay phương pháp khấu trừ):

Trang 13

(Thuế suất x giá đầu ra) – (Thuế suất x giá đầu vào).

Trong 3 phương pháp nêu trên, theo các nước đãtổng kết thì phương pháp thứ ba có nhiều ưu điểm hơn, do :

- Nó gắn với hóa đơn, chứng từ Vì vậy mang tính phápluật cao hơn và dễ kiểm tra, kiểm soát

Trang 14

- Đơn giản hơn vì Doanh nghiệp chỉ cần căn cứ hóa đơn đầuvào, đầu ra để kê khai và nộp thuế hàng tháng Còn 2phương pháp kia phải dựa vào sổ sách kế toán nên phứctạp và không kịp thời.

Vì vậy, hầu hết các nước đều áp dụng phươngpháp khấu trừ thuế với nguyên tắc là số thuế GTGTđầu ra ghi trên hóa đơn bán hàng sẽ khấu trừ số thuếGTGT đầu vào ghi trên hóa đơn mua hàng để ra số thuếGTGT phải nộp

1.1.4 – Ưu điểm của Thuế GTGT:

Thuế GTGT là thuế gián thu tiên tiến với nhiều ưuđiểm và có thể tổng hợp lại như sau:

- Thuế GTGT thuộc loại thuế có phạm vi đối tượng thu rấtrộng nên mặc dù thuế suất không cao, ít thuế suất nhưngvẫn đảm bảo nguồn thu lớn cho NSNN

- Thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắpnhờ phương thức chỉ tính thuế trên phần giá trị tăngthêm của đối tượng chịu thuế

- Thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu quảcao và tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế thông quaviệc sử dụng hóa đơn chứng từ là căn cứ tính thuế

- Thuế GTGT có tính trung lập, đảm bảo môi trường cạnhtranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

- Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu, đầu tư và bảo hộhàng sản xuất trong nước bằng việc áp dụng thuế suất

ở mức ưu đãi đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩukèm với việc hoàn thuế và đánh thuế GTGT ngay ở khâunhập khẩu

1.1.5 – Các nguyên tắc để xây dựng một Luật thuế GTGT khả thi:

a/ Đơn giản: Điều mà bất kỳ người nào cũng

nhận thức được là để chấp nhận được một sắc thuế,người nộp thuế phải hiểu được nó Margaret Wilkinson đãcó lý khi cho rằng: “Một hệ thống thuế hoàn hảo phải làmột hệ thống đơn giản sao cho người chịu thuế có thểhiểu được” Khi mà tính phức tạp của một sắc thuế mớicao hơn sắc thuế cũ thì sự hiểu biết của quãng đại quầnchúng giảm xuống, kết quả tất yếu là cản trở sự tănglên của số thu Theo các chuyên gia hiện nay thì nguyêntắc “đơn giản” là nguyên tắc hàng đầu của hệ thốngthuế hiện đại Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy mộtsắc thuế được quy định rườm rà thường tạo kẽ hở choviệc trốn, lậu thuế Hơn nữa, tuy thuế GTGT là mộtphương pháp thu chặt chẽ, khoa học và tiện lợi, nhưng mặt

Trang 15

phức tạp của cơ chế vận hành của thuế GTGT lại là vấnđề khác nữa.

b/ Ổn định: Nguyên tắc này đòi hỏi Luật thuế GTGT

phải ổn định tương đối, có thể dự kiến trước được đểngười nộp thuế không phải lo đối phó thường xuyên vớinhà nước về việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế mà chỉtập trung vào các hoạt động nhằm thăng tiến hoạt độngkinh doanh hay sự nghiệp cá nhân Tuy nhiên, nguyên tắcnày không nên đối lập hẳn với tính linh hoạt của hệthống thuế khóa, bởi vì nền kinh tế là một thể thốngnhất, luôn luôn vận động và tạo ra những môi

Trang 16

trường mới cho việc cải cách thuế khóa Theo MargaretWilkinson, cả hai tính chất ổn định và linh hoạt cần đượccân đối với nhau Tính linh hoạt được đặt ra bởi các lý dovề mặt kinh tế và cả về mặt chính trị trong từng giaiđoạn phát triển của đất nước.

c/ Hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi Luật thuế

GTGT phải đảm bảo cho được 3 tính chất: Tính trung lậpđối với hoạt động sản xuất kinh doanh; Tính tiết kiệmtrong khi thực hiện và Tính tăng thu cho ngân sách Nhànước

d/ Công bằng: Thuế GTGT là một loại thuế không

thu theo lũy tiến mà chỉ mang tính lũy thoái- nghĩa làviệc đánh thuế theo một mức thuế suất không phânbiệt người chịu thuế là giàu hay nghèo, thu nhập cao haythấp- do đó nguyên tắc công bằng rất khó có thể đápứng đầy đủ Cho nên, nguyên tắc công bằng chúng ta đềcập ở đây chỉ có thể hiểu theo một nghĩa hẹp là: cácdoanh nghiệp trong một hoàn cảnh như nhau phải chịuthuế như nhau và các doanh nghiệp có khả năng thanhtoán khác nhau phải bị đánh thuế khác nhau khi chịu sựtác động của Luật thuế GTGT

Bốn nguyên tắc trên phải được đáp ứng đầy đủ Vìnếu đặt nguyên tắc đơn giản lên hàng đầu thì điều nàydễ dẫn đến Luật thuế GTGT khập khiểng trên các chỗtựa còn lại; hoặc nếu thiên lệch cho nguyên tắc côngbằng thì các nguyên tắc còn lại khó mà được đáp ứng…

1.1.6 – Các điều kiện cần thiết để áp dụng thuế GTGT:

a/ Yêu cầu đối với chính sách thuế: Mức huy

động thuế phải phù hợp với khả năng của đối tượngnộp thuế Mức thu không hợp lý sẽ không đảm bảođược yêu cầu thu ngân sách, hoặc ngược lại sẽ ảnhhưởng tiêu cực đến sản xuất, tiêu dùng của nền kinhtế Nếu mức thu của thuế GTGT quá chênh lệch so vớimức thuế doanh thu trước đó thì sẽ phát sinh những độtbiến khó lường

b/ Trình độ phát triển kinh tế – xã hội phải đạt một mức độ nhất định, thể hiện ở các mặt:

- Trình độ tập trung hóa của nền sản xuất Đối tượng nộpthuế phải có quy mô đủ lớn mới có điều kiện tổ chứcbộ máy kế toán và thực hiện tốt chế độ chứng từ

Trang 17

- Hệ thống tín dụng ngân hàng hoạt động với hiệu quả cao và việc thanh toán không dùng tiền mặt phải trở thành thói quen của cả nền kinh tế.

- Chế độ sử dụng hóa đơn, chứng từ trong mọi quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải được người dâncũng như mọi tổ chức kinh tế tuân thủ cao

- Trình độ nhận thức cũng như ý thức tự giác trong việc chấp hành nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải được nâng cao

Trang 18

c/ Bộ máy quản lý và kiểm soát thuế: phải

được tổ chức theo một quy trình khoa học, hiệu quả vớiviệc được trang bị những máy móc, phương tiện hiện đạiđể xử lý các thông tin, số liệu một cách chính xác,kịp thời Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viênthuế cũng phải được nâng lên đáp ứng với yêu cầucủa Luật thuế mới

1.2 – SỰ CẦN THIẾT CỦA THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM:

Thuế GTGT là một loại thuế mới, được áp dụngrộng rãi trên thế giới từ thập niên 70 Phần lớn cácquốc gia có nền kinh tế thị trường tìm thấy ở thuếGTGT một phương thức nhằm cải thiện hệ thống thuếkhóa của mình Vừa với mục đích khắc phục những hạnchế của sắc thuế doanh thu không còn phù hợp với xuthế phát triển của cơ chế thị trường đang diễn ra ở từngnước vào thời điểm ấy; vừa với mục đích cải thiện tìnhhình thu ngân sách nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi ngàycàng tăng trong nước Còn ở nước ta thì Luật thuế GTGTđã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 Khóa IX (từngày 02/04 đến ngày 10/05/1997) dựa vào những đánh giásau đây:

1.2.1 – Thuế GTGT có thể khắc phục được các hạn chế của thuế doanh thu:

Ngày 08/08/1990 Hội đồng Nhà nước chính thức banhành Thuế doanh thu theo Nghị quyết số 270B-NQ/HĐNN thaythế thuế công thương nghiệp áp dụng đối với thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh và chế độ thu quốc doanh trongdoanh nghiệp Nhà nước

Từ những sắc thuế khác nhau cho từng đối tượngkhác nhau, thuế doanh thu mới đã thống nhất được cáchtính thuế, tạo sự bình đẳng ban đầu và mở ra khả năngkhai thác nguồn nội lực của các thành phần kinh tế trongnước để phát triển kinh tế xây dựng đất nước Tỷ lệ huyđộng thuế doanh thu so với thu nhập quốc dân từ năm

1993 đến năm 1997 như sau (Bảng số 1):

Bảng

số 1: TỶ LỆ HUY ĐỘNG THUẾ DOANH THU

SO VỚI TỔNG THU NHẬP TRONG

NƯỚC (GDP)

Chỉ tiêu (%) 1993 1994 1995 1996 1997

1 0

Trang 19

(Nguồn: Tổng Cục thuế).

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do tình hình đấtnước và cơ chế quản lý kinh tế tiếp tục có nhiều thayđổi , nên thuế doanh thu đã bộc lộ nhiều nhược điểmquan trọng Khi xem xét những nhược điểm của thuế doanhthu hiện nay,

1 0

Trang 20

người ta phát hiện ra thuế GTGT có những khả năng

khắc phục chúng, cụ thể ở những điểm sau:

a/ Về việc thu thuế trùng lắp: Thuế doanh thu

được tính dựa vào thuế suất nhân với tổng doanh sốhàng hóa, dịch vụ bán ra Khi đánh thuế doanh thu ở khâusau, người ta lại tính trùng doanh số kết chuyển của hànghóa, nguyên liệu, bán thành phẩm ở đầu vào Vì vậy,sản phẩm, hàng hóa càng có nhiều khâu luân chuyểntrước khi tiêu dùng cuối cùng, thì thuế tính trên giá trịsản phẩm cuối cùng càng cao Điều này hạn chế quátrình chuyên môn hóa sản xuất Sản xuất càng chuyênmôn hóa thì các khâu luân chuyển sản phẩm càng caovà thuế sẽ càng nhiều Còn thuế GTGT được tính trêngiá trị tăng thêm của mỗi khâu, mỗi công đoạn, nênviệc tính trùng doanh thu sẽ không còn nữa Sản phẩm dùqua bao nhiêu luân chuyển thì số thuế so với giá trị sảnphẩm cuối cùng cũng có tỷ lệ như nhau Do ưu điểmnày, thuế GTGT tạo điều kiện mở rộng sản xuất theohướng chuyên môn hóa và nhất là tạo điều kiện choviệc lưu thông hàng hóa đến những nơi xa nhất trênlãnh thổ (bởi qua nhiều khâu trung gian vẫn không tăngthuế) Nhờ vậy, nhà sản xuất có thể tận dụng nhữnglợi thế so sánh của từng vùng, từng doanh nghiệp, tạo ranhững sản phẩm hàng hóa có giá thành hạ, chất lượngtốt, góp phần hình thành lại việc phân công lao động,tránh tình trạng tập trung vào các thành phố lớn, bởi vìloại thuế này khuyến khích đưa các xí nghiệp vệ tinh độclập đến tận nơi có nguồn nguyên liệu hay lao động cao,phù hợp với đường lối và phương châm Công nghiệp hóa– Hiện đại hóa đất nước

b/ Về thuế suất và miễn giảm: Thuế doanh thu

có quá nhiều thuế suất và có quá nhiều trường hợpmiễn giảm chồng chéo Theo sửa đổi lần gần nhất trongngày 28/10/1995 của Quốc hội khóa IX, số lượng thuếsuất còn lại 11 mức, từ 0% đến 30% được phân bổ chonhiều loại hình sản xuất, dịch vụ khác nhau, đan xen lẫnnhau rất khó vận dụng Về nguyên tắc, thuế doanh thu làthuế gián thu, người tiêu dùng sản phẩm phải chịu, cácdoanh nghiệp chỉ thu hộ Nhà nước thông qua việc kếtchuyển thuế vào giá, nên việc miễn giảm thuế là chưathuyết phục Việc miễn giảm thuế thường phụ thuộc vàocác văn bản của Chính phủ trong quá trình điều hànhnên có nhiều trùng lắp Có doanh nghiệp được hưởng haihay ba diện miễn giảm như: Miễn giảm miền núi; miễngiảm khuyến khích đầu tư; miễn giảm sản xuất hàng thaythế hàng xuất khẩu; miễn giảm do thiên tai… Do vậy,

20

Trang 21

việc tính thuế dường như là một nghiệp vụ phức tạp, chỉcó các nhà chuyên môn về thuế mới hiểu và vận dụngđúng Người nộp thuế thường thụ động trong việc tínhthuế, xem thuế doanh thu như một loại thuế áp đặt, mà

cơ quan thuế thích bao nhiêu thì áp bấy nhiêu, thích ai thìmiễn giảm người ấy Khác hẳn với thuế doanh thu, thuếGTGT nước ta hiện nay chỉ có 4 thuế suất Trong đó thuếsuất phổ biến là 10%, nên việc tự tính toán, kiểm tra tínhtoán của người nộp thuế dễ dàng hơn Một số nướckhác trên thế giới có thuế GTGT chỉ với 2 thuế suất :một mức bằng không và một mức khác không nào đó

Ví dụ như Argentina: 0% và 15%; Đan mạch: 0% và 22%;

Peru: 0% và 18% (Nguồn: Alan Atait- Quỹ tiền tệ quốc tế)…

Các trường hợp miễn

21

Trang 22

giảm thuế GTGT tuy giải quyết chưa tốt nhưng cũng giảmthiểu, tránh được trùng lắp Việc có ít thuế suất và hạnchế miễn giảm thuế đã tạo ra ưu thế ban đầu của thuếGTGT.

c/ Về khuyến khích xuất khẩu hàng hóa và đầu tư: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa tuy đã được chú

ý khuyến khích trong luật thuế doanh thu thông qua việckhông thu thuế doanh thu đối với hoạt động xuất khẩu.Và đến ngày 20/06/1998, việc khuyến khích này tiến sâuhơn một bước nữa khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư83/1998/TT-BTC hướng dẫn cụ thể việc hoàn thuế doanhthu đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm mua từcác cơ sở sản xuất trong nước để sản xuất hàng xuấtkhẩu Tuy nhiên, điều đó cũng chỉ thể hiện quan điểmchủ quan của Nhà nước mà thôi Trên thực tế, do tínhchất trùng lắp của thuế doanh thu, nên việc không thuthuế hay hoàn thuế chỉ có ý nghĩa đối với một khâunhất định Kết cấu thuế trong sản phẩm cũng không vìthế mà giảm đi đáng kể để có thể tăng cường khảnăng cạnh tranh trên thị trường thế giới Qui trình xétduyệt và hoàn thuế phức tạp, kéo dài, có nhiều quiđịnh không rõ ràng, có thể dẫn đến tiêu cực trong khihoàn thuế Việc hoàn thuế nói trên không xuất phát từ

cơ chế vận hành của thuế doanh thu nên khó triển khaimột chính sách hỗ trợ xuất khẩu thỏa đáng Trong khi đó,với phương pháp khấu trừ và thuế suất thuế GTGT là0%, toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệpđều có thể được hoàn trả thuế ngay sau khi xuất khẩu.Việc áp dụng thuế suất bằng 0% không kể là hàng xuấtkhẩu của cơ sở sản xuất hay kinh doanh xuất khẩu, làmcho hoạt động ưu đãi xuất khẩu được mở rộng ra nhiềuđối tượng hơn Trong lĩnh vực đầu tư, thuế GTGT của tài sảncố định được khấu trừ hay hoàn trả trong kỳ thuế làmtăng khả năng đầu tư của các doanh nghiệp, góp phầnkhuyến khích doanh nghiệp dùng lợi nhuận kinh doanh đểtích lũy đầu tư nhiều hơn

d/ Thuế doanh thu không khuyến khích việc thực hiện nghiêm túc chế độ hóa đơn, chứng từ: mặc

dù việc sử dụng hóa đơn, chứng từ đã từng bước đượcsử dụng trong hầu hết các doanh nghiệp và trở nên phổbiến hơn trước Tuy nhiên, các doanh nghiệp sử dụng đầyđủ hóa đơn, chứng từ phần lớn là doanh nghiệp Nhànước Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường chỉ sử dụngchiếu lệ, mang tính đối phó Bởi lẻ, có tình trạng doanh

Trang 23

nghiệp thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ càngnghiêm chỉnh thì càng không có khả năng cạnh tranh vớidoanh nghiệp không thực hiện đầy đủ trong cùng ngànhhàng Còn địa phương nào thực hiện nghiêm ngặt chếđộ hóa đơn, chứng từ thì lưu thông hàng hóa thường bịách tắc Đó là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạngkéo dài việc không chấp hành chế độ sổ sách kếtoán của các doanh nghiệp Hơn nữa, do nhu cầu lấy hóađơn khi mua hàng của các tổ chức, cá nhân là khôngthiết thực, cho nên không làm phát sinh quan hệ kéo dàitrong việc sử dụng hóa đơn của các cơ sở kinh doanh Vớithuế GTGT, để có thể

Trang 24

được khấu trừ thuế đầu vào đầy đủ, đòi hỏi khi mua

hàng các doanh nghiệp phải có hóa đơn theo quy định Đâylà lý do thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn phổ biến hơn

e/ Thuế doanh thu không khuyến khích tính tự giác kê khai và nộp thuế của doanh nghiệp: bởi lẽ thuế

doanh thu được tính khá phức tạp như các phân tích nêutrên Lợi dụng tính phức tạp, các hộ kinh doanh thường kêkhai thiếu trung thực nhằm trốn thuế Trong khi đó, một sốđịa phương còn duy trì dạng khoán thuế theo mức quy định,nên các doanh nghiệp phải kê khai thường cố ý khôngkê khai để được khoán mức dễ chịu hơn

1.2.2 – Thuế GTGT là một nội dung quan trọng của quá trình cải cách thuế bước hai ở Việt Nam :

Nhằm khắc phục nhược điểm của hệ thống thuế hiệnhành, hạn chế thất thu, đảm bảo tỷ lệ huy động vàongân sách từ 20% đến 22% GDP và để thuế thật sự trởthành công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu lực củaNhà nước trong giai đoạn mới, thúc đẩy sản xuất pháttriển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinhthần Nghị quyết của Quốc hội khóa IX Ngành tài chínhđã vạch ra một chiến lược cho công cuộc cải cách thuế.Trong đó, việc lựa chọn và xây dựng trước 3 luật thuế:thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhậpcá nhân, mà luật thuế GTGT là quan trọng nhất Do vậy,muốn khởi đầu cho cuộc cải cách thuế bước 2 nàythắng lợi, thuế GTGT phải là một khởi điểm thành côngcần có đầu tiên

1.2.3 – Phục vụ cho việc hòa nhập vào khu vực và thế giới của thuế GTGT:

Hiện nay, xu hướng phát triển của thế giới là hìnhthành những khu vực kinh tế theo nhiều tiêu thức khácnhau Những tổ chức kinh tế này thường đòi hỏi cácthành viên của mình phải thống nhất một số các chỉtiêu trong thời hạn nhất định, mà chủ yếu là các chỉtiêu về tăng trưởng kinh tế và thuế Ví dụ: một trongnhững yêu cầu đặt ra với khối EC là phải hình thành mộthệ thống thuế GTGT thống nhất và gia hạn cho các thànhviên phải tự điều chỉnh hệ thống thuế của nước mìnhhạn chót là vào năm 1996

Từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhữngbước tiến đáng kể trong quan hệ kinh tế đối ngoại:

- Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các nước ĐôngNam Á (ASEAN) tháng 07/1995

Trang 25

- Việt Nam là một trong những nước thành viên sáng lậpDiễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM).

- Tháng 11/1998, Việt Nam làm thành viên Diễn đàn Hợptác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)

- Việt Nam cũng đang tiến hành các vòng đàm phán đểgia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Trang 26

- Quan hệ với Mỹ đã được bình thường hóa và đã ký kếtHiệp định thương mại song phương năm 1997.

Đây là cơ hội cho Việt Nam hòa nhập và tăng vịthế trên trường quốc tế, nhưng cũng là thách thức tolớn đối với ngành thuế trong việc đảm bảo nguồn thuvà bảo hộ sản xuất trong nước Vì khi Việt Nam tham giakhu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA) thì phải cam kếtthực hiện lộ trình giảm thuế, cụ thể là thực hiện Chươngtrình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEFT đến năm2006: nước ta phải điều chỉnh hoàn toàn thuế suất thuếxuất nhập khẩu theo biểu thuế chung có thuế suất khôngquá 5% Bên cạnh đó, Việt nam cũng phải thực hiện tự dothương mại và đầu tư vào năm 2020 theo chương trình củaAPEC Chương trình này cũng đòi hỏi việc giảm thuế quan.Và sắp tới, khi xin gia nhập WTO, Việt nam cũng phảituân thủ quy định của Tổ chức này về việc giảm thuếquan (được nêu rõ trong Điều II và III của GATT) Như vậy,để giải quyết các khoản thâm hụt này thì hệ thốngthuế nội địa, trước hết là thuế gián thu cần phải đượccải tiến hợp lý Cho nên, việc thay thế thuế doanh thubằng thuế GTGT là một bước tiến quan trọng và có ýnghĩa lớn tới việc bảo hộ và khuyến khích sản xuất trongnước phát triển, tạo điều kiện cho kinh tế nội địa có thểhòa nhập tốt hơn

1.3 – THUẾ GTGT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM:

Vào cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70, khi mộtsố quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu thay thế các sắcthuế hiện hữu bằng thuế GTGT, xem đó như một cáchthức đánh thuế tiến bộ và phù hợp với phát triển kinhtế; thì đối với các nước đang phát triển, thuế GTGT cũngđược xem như một phương tiện để cải thiện hệ thốngthuế, tăng số thu cho ngân sách và thúc đẩy kinh tếphát triển Cùng với trào lưu đó và nhằm để giảm bớtthâm hụt ngân sách do viện trợ của Mỹ có chiềuhướng giảm dần, Chính quyền Chế độ Sài Gòn đã banhành Sắc lệnh số 035- TT/SLU ngày 21/12/1972 về thuếGTGT Qua đó, luật thuế GTGT có hiệu lực từ ngày01/07/1973 Tuy nhiên, chỉ sau hơn một tháng áp dụng, luậtthuế này đã gặp sự phản ứng gay gắt của quần chúng

do giá cả gia tăng dẫn đến những xáo trộn trong xã hộivà phải thu hẹp phạm vi áp dụng của Luật thuế

Sau ngày thống nhất đất nước, đến tháng 06/1990Luật thuế doanh thu được ban hành thay thế chế độ thuquốc doanh, thuế doanh nghiệp cũ và nó tồn tại mãi đếnnăm 1998 Khi đó, sản xuất kinh doanh bước đầu đượcsắp xếp, củng cố và kinh tế thị trường đã làm bộc lộ

Trang 27

những điểm mạnh, yếu của từng doanh nghiệp thì nhượcđiểm cố hữu của thuế doanh thu là tính và thu thuếtrùng lắp gặp phải sự phản hồi gay gắt Chính vì vậy,thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứhai ngày 23/12/1992 “Giao cho Chính phủ thực hiện thí điểmthu thuế trị giá gia tăng (Thuế trị giá gia tăng- tên gọicủa thuế GTGT trước khi ban hành Luật thuế GTGT) để rútkinh nghiệm xây dựng luật thuế này”, Bộ Tài chính đãbáo cáo và được Chính phủ cho phép triển khai thực hiệnthí điểm thuế GTGT ở các ngành: Sản xuất xi-măng; Sảnxuất sợi, dệt; Sản xuất đường Tuy nhiên, như kinh nghiệmcủa các nước trên thế giới cho thấy không thể ápdụng có kết quả việc thí điểm

Trang 28

thuế GTGT trong phạm vi một số ít doanh nghiệp hoặc mộtsố ngành, một số khâu hoạt động sản xuất kinh doanhmà phải nghiên cứu và chuẩn bị tốt để thực hiện rộngrãi, thống nhất thuế GTGT trong phạm vi toàn xã hội.

Do đó, sau một thời gian nghiên cứu các kinh nghiệmđược rút ra trong giai đoạn thí điểm, Luật thuế GTGT đượcQuốc hội khóa IX chính thức thông qua tại kỳ họp thứ 11

(từ ngày 02/04/1997 đến ngày 10/05/1997) và được Chủ

tịch nước ký lệnh công bố ngày 28/05/1997 Luật thuếGTGT có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Để quy định chi tiếtviệc thi hành Luật thuế GTGT, Chính phủ đã ban hànhcác Nghị định như: Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày11/05/1998; Nghị định số 102/1998/NĐ-CP ngày 21/12/1998 vàNghị định số 78/1999/NĐ-CP ngày 20/08/1999 Còn để hướngdẫn các Nghị định trên của Chính phủ thì Bộ tài chính đãban hành hàng loạt các Thông tư như: Thông tư số89/1998/TT-BTC ngày 27/06/1998; Thông tư số 175/1998/TT-BTCngày 24/12/1998; Thông tư số 106/1999/TT-BTC ngày30/08/1999 và một loạt các Thông tư khác hướng dẫnthêm về thuế GTGT đối với các ngành đặc thù (như:Thông tư 101 cho ngành vận tải đường bộ; Thông tư 118cho hoạt động công ích; Thông tư 163 cho ngành vận tảihàng không; Thông tư 164 cho ngành bưu điện…)

Qua 2 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã phát huycác mặt tích cực vốn có của nó nhưng cũng gặp không

ít những vướng mắc, khó khăn cho nên đến ngày29/12/2000, Chính phủ đã căn cứ vào Nghị quyết của Ủyban thường vụ Quốc hội để ban hành Nghị định số79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGTđã sửa đổi, bổ sung và Bộ Tài chính cũng đã ban hànhThông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thihành Nghị định trên của Chính phủ

Theo đó, Thuế GTGT Việt nam hiện có những nội dung

cơ bản sau:

1.3.1 – Những quy định chung:

a/ Đối tượng chịu thuế:

Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT thì đối tượngchịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng ở Việt nam, trừ các đối tượng khôngchịu thuế mà Luật đã quy định

b/ Đối tượng không thuộc diện chịu thuế:

Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT, có 26 nhóm

hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT (Phụ

Trang 29

lục số 1) Những hàng hóa, dịch vụ này có các tiêu

thức đặc trưng sau:

- Khó xác định GTGT như dịch vụ tài chính, ngân hàng haynếu xác định được thì cũng không đáng kể như sản phẩmnông nghiệp, muối…

- Nhóm hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ cho nhu cầu côngcộng như vệ sinh, cây xanh, chiếu sáng, xe buýt… hoặckhông nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời như: dạy học,truyền thanh, truyền hình, thể dục - thể thao…

Trang 30

- Nhóm hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện chính sách ưuđãi hỗ trợ người tiêu dùng như các dịch vụ y tế, vănhóa, hàng viện trợ…

- Nhóm hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế của cácloại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế chuyểnquyền sử dụng đất

- Nhóm các hoạt động công nghệ cần khuyến khích đầu

tư, khai thác như máy bay, giàn khoan, tàu thủy… trongnước chưa sản xuất được; chuyển giao công nghệ, phầnmềm máy tính…

- Nhóm hàng hóa, dịch vụ không tiêu dùng ở Việt nam nhưhàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh, tạm nhập-tái xuất,cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế…

- Hàng hóa, dịch vụ của những cá nhân kinh doanh cómức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tốithiểu nhà nước quy định đối với công chức

c/ Đối tượng nộp thuế:

Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT thì tất cả cáctổ chức, cá nhân có các hoạt động sản xuất, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ chịu thuế ở Việt nam, không phân biệtngành nghề, hình thức và các tổ chức, cá nhân kháccó nhập khẩu hàng hóa chịu thuế đều là đối tượng nộpthuế GTGT Thực tế gồm 2 nhóm cụ thể sau:

- Cơ sở kinh doanh

- Người nhập khẩu kể cả kinh doanh hay không kinh doanh

1.3.2 – Căn cứ và phương pháp tính thuế :

- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá tại cửa khẩu

(+) thuế nhập khẩu Tuy nhiên cũng có một số biệt

lệ :

- Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù dùng cácchứng từ như tem bưu chính, vé cước vận tải, vé xổ sốkiến thiết… ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGTthì giá tính thuế chưa có thuế GTGT được xác định theophương pháp:

Giá chưa có thuế

GTGT =

Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem…)

Trang 31

b/ Thuế suất:

Thuế suất thuế GTGT hiện có 4 mức (Phụ lục số 2):

- Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, bao

gồm cả hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất

khẩu; phần mềm máy tính xuất khẩu không phân

Trang 32

biệt hàng sản xuất hay hàng gia công; xuất ra nướcngoài hay xuất vào khu chế xuất Sửa chữa máy móc,thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài và dịch vụxuất khẩu lao động.

- Thuế suất 5%: đối với hàng hóa, dịch vụ áp dụng cho các

trường hợp sau:

+ Những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho những nhucầu thiết yếu của nhân dân một cách trực tiếp trêncác lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục, khoa học…

+ Nhóm hàng hóa chưa qua chế biến là nguyên liệuthiết yếu phục vụ cho sản xuất cần khuyến khích

+ Loại hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu kinhdoanh thương mại theo phương pháp khấu trừ thuế

+ Vận tải, bốc xếp, xây dựng, lắp đặt

- Thuế suất 20%: áp dụng chủ yếu cho các hàng hóa, dịch

vụ cao cấp, xa xỉ hoặc có mức độ sinh lời cao như kinhdoanh vàng, bạc, đá quí; xổ số kiến thiết; đại lý tàu biểnvà dịch vụ môi giới

- Thuế suất 10%: áp dụng cho những hàng hóa, dịch vụ còn

lại

Mức thuế suất thuế GTGT quy định trên đây được ápdụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ; không phânbiệt hàng nhập khẩu hay sản xuất trong nước; khâu sảnxuất hay kinh doanh thương nghiệp

c/ Phương pháp tính thuế:

Theo luật thuế GTGT hiện hành ở nước ta có haiphương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ là phươngpháp cơ bản, phổ biến và phương pháp trực tiếp là phươngpháp bổ sung, dùng cho những đối tượng theo quy định chưathực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán và hóa đơnthuế

* Phương pháp khấu trừ thuế :

Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào

Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra

(x) thuế suất

Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT đã thanhtoán ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặcchứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu

* Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:

Thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hóa, dịch vụ (x) thuế suất

Trang 33

Giá thanh toán

Giá thanh toán

Thuế suất

Thuế GTGT

Trong đó:

- GTGT là: số chênh lệch giữa giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra và giá thanh toán của hàng hóa, dịchvụ mua vào tương ứng

Trang 34

- Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là: số tiềnbên mua phải thanh toán cho bên bán, bao gồm cả thuếGTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên muaphải trả.

- Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứngvới giá hàng hóa, dịch vụ bán ra: được xác định bằng giátrị hàng hóa mua vào (bao gồm thuế GTGT) mà cơ sở kinhdoanh đã dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụchịu thuế GTGT bán ra

d/ Khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

Tất cả các doanh nghiệp nộp thuế theo phương phápkhấu trừ và có hóa đơn GTGT hợp lệ thì mới được khấutrừ thuế GTGT, trừ một số trường hợp đặc biệt được

“khấu trừ khống” từ 2% đến 3% đối với một số hànghóa, dịch vụ chịu thuế GTGT chỉ có hoá đơn bán hànghoặc bảng kê và một số hàng hóa không chịu thuếGTGT nhưng có hoá đơn GTGT theo quy định trong Thông tư122/200/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ tài chính

Việc khấu trừ được thực hiện hàng tháng do doanhnghiệp tự kê khai và tính thuế Nếu thuế GTGT đầu ra lớnhơn thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp phải nộp phầnchênh lệch và ngược lại, nếu thuế GTGT đầu ra nhỏ hơnthuế GTGT đầu vào sẽ được hoàn khoản chênh lệch đóhoặc tính khấu trừ ở tháng tiếp theo

e/ Hoá đơn, chứng từ:

Đặc thù của thuế GTGT là tác động mạnh đến việctriển khai thực hiện sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ.Thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ thì quản lý cóhiệu quả và ngược lại, triển khai tốt thuế GTGT thì chế độhóa đơn, chứng từ sẽ được củng cố và ổn định ThuếGTGT có những yêu cầu về hóa đơn, chứng từ sau:

- Mọi hoạt động kinh doanh mua bán hàng hóa, cung cấpdịch vụ phải sử dụng hóa đơn, chứng từ

- Mọi doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế đều phảiđược cấp hóa đơn, chứng từ hoặc được phép tự in sau khicó ý kiến của Tổng Cục thuế

- Có 2 loại hóa đơn do Bộ tài chính phát hành là: Hóa đơnGTGT dùng cho doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấutrừ và Hóa đơn bán hàng cho các loại đối tượng áp dụngphương pháp trực tiếp và cơ sở sản xuất kinh doanh cungcấp hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Tất cả các hóa đơn khi sử dụng phải được viết đầy đủ,đúng các yếu tố quy định trên hóa đơn

Hóa đơn, chứng từ hợp pháp được sử dụng là:

Trang 35

+ Hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành do cơ quan thuếcung cấp cho các cơ sở kinh doanh.

+ Hóa đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụngtheo mẫu quy định và đã được Tổng cục thuế chấp nhậncho sử dụng

+ Các loại hóa đơn, chứng từ đặc thù khác được phép sử dụng

Trang 36

+ Các loại bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào,bán ra theo quy định tại Thông tư 122/200/TT-BTC ngày29/12/2000 của Bộ Tài chính.

1.3.3 – Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế:

a/ Đăng ký nộp thuế:

Cơ sở kinh doanh, kể cả các cơ sở kinh doanh trựcthuộc đều phải đăng ký nộp thuế GTGT và thực hiện theohướng dẫn của cơ quan trực tiếp quản lý thuế

Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đăng ký nộp thuếGTGT chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh Trong trường hợp sápnhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản hoặc thayđổi nội dung kinh doanh thì cơ sở kinh doanh phải khai báovới cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi việc đóxảy ra

Các cơ sở kinh doanh khi đăng ký nộp thuế GTGT cầnxác định phương pháp nộp thuế Trường hợp cơ sở kinhdoanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp có đủ điềukiện tự nguyện chuyển sang nộp thuế GTGT theo phươngpháp khấu trừ thì cơ quan thuế xem xét để giải quyết

b/ Kê khai thuế:

Thuế GTGT được kê khai từng tháng, trong 10 ngày đầucủa tháng tiếp theo Trường hợp không phát sinh thuế đầu

ra lẫn thuế đầu vào thì vẫn phải kê khai và nộp tờ khaicho cơ quan thuế

Cơ sở kinh doanh chịu trách nhiệm về những số liệukê khai trên tờ khai của doanh nghiệp mình

Việc kê khai thuế GTGT hàng nhập khẩu được thựchiện cùng lúc với việc kê khai thuế nhập khẩu cho Hảiquan

Đối với cơ sở kinh doanh buôn chuyến thì kê khai vànộp thuế theo từng chuyến hàng với cơ quan thuế nơi muahàng, trước khi vận chuyển hàng đi

Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ cómức thuế suất khác nhau phải hạch toán riêng cho từngloại Trường hợp không hạch toán riêng thì cơ sở phảichịu tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất trongsố các loại thuế suất mà hàng hóa, dịch vụ của cơ sởphải chịu

c/ Nộp thuế:

Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT vào ngân sách nhànước theo thông báo nộp thuế của cơ quan thuế Thời

Trang 37

hạn nộp thuế của tháng được ghi trong thông báo nhưngchậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo.

Thuế GTGT của hàng nhập khẩu có thời hạn thôngbáo và thời hạn nộp thuế cùng với thời hạn thông báonộp thuế nhập khẩu

Cơ sở nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nếu cóthuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra thì được khấu trừ vàothuế kỳ sau

Thuế GTGT được nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt nam

Trang 38

d/ Quyết toán thuế:

Hàng năm cơ sở kinh doanh phải thực hiện việc quyếttoán thuế với cơ quan thuế Năm quyết toán thuế đượctính theo năm dương lịch Trong thời hạn 60 ngày kể từngày kết thúc năm, cơ sở kinh doanh phải nộp báo cáoquyết toán thuế cho cơ quan thuế và phải nộp đủ sốthuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán Nếu nộpthừa thì được trừ vào số phải nộp kỳ tiếp sau

Trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể,phá sản thì cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toánthuế với cơ quan thuế và gửi báo cáo quyết toán thuếcho cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày cóquyết định sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phásản

e/ Hoàn thuế:

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theophương pháp khấu trừ thì được xét hoàn thuế nếu có sốthuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra trong 3 tháng liêntiếp, kể cả số thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra do đầu

tư mới tài sản cố định hoặc xuất khẩu từ 200 triệu trởlên

Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế khi sáp nhập, hợpnhất, chia tách, giải thể, phá sản có số thuế quyết toánnộp thừa

1.3.4 – Xử lý vi phạm:

Nếu cơ sở kinh doanh không đăng ký, kê khai, nộpthuế, quyết toán thuế, lập sổ sách kế toán… thì có thể

bị cảnh cáo hay phạt tiền

Nộp chậm tiền thuế thì mỗi ngày chậm nộp bị phạt 0,1% số tiền chậm nộp

Khai man, trốn thuế bị phạt từ 1 đến 5 lần số tiềnthuế gian lận Trường hợp số thuế lớn hoặc tái phạmnhiều lần có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Nếu không nộp thuế và tiền phạt thì có thể bị trừvào số tiền gửi tại ngân hàng, giữ hàng hóa, tang vậthoặc kê biên tài sản

1.3.5 – Xét giảm thuế:

Những cơ sở sản xuất, xây dựng, vận tải trong nhữngnăm đầu áp dụng thuế GTGT mà bị lỗ do số thuế GTGTphải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thutrước đây thì được xét giảm thuế GTGT phải nộp tương

2 0

Trang 39

ứng với số lỗ được xác định do nguyên nhân này, nhưngtối đa không quá 50% số thuế phải nộp và chỉ xétgiảm đến hết năm 2001.

1.4 – QUAN ĐIỂM VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ THUẾ GTGT CẦN THAM KHẢO ĐỂ ÁP

DỤNG Ở VIỆT NAM:

Ở phần này, tác giả luận văn sẽ khảo sát sơ nétLuật thuế GTGT (hay tương tự Thuế GTGT) của 2 nướcPhilippines và Đài Loan; cùng với việc đưa ra một số

2 0

Trang 40

các quan điểm về thuế GTGT của các nước chưa áp dụngthuế GTGT hoặc đã gặp nhiều khó khăn, thất bại khi ápdụng thuế này, làm kinh nghiệm cho việc thực hiện hoặchoàn thiện chính sách thuế GTGT của nước ta hiện nay Lý

do của việc lựa chọn này là ở chỗ: Philippines là nướccó cùng trình độ dân trí, mức độ phát triển tương tự nhưnước ta; còn Đài Loan là nước có cùng truyền thốngvăn hóa và là một trong bốn “Con rồng Châu Á”, rấtxứng đáng để chúng ta học hỏi; đặc biệt là việc rútkinh nghiệm để tránh mắc phải những sai lầm của nhữngnước đã đi trước

1.4.1 – Thuế GTGT ở Philippines:

Hệ thống thuế GTGT lần đầu tiên được áp dụngvào năm 1988 bằng Sắc lệnh hành chánh số 273 Sauđó, Luật thuế GTGT của Philippines được chính thức côngbố bằng Đạo luật 7716 vào ngày 30/10/1995

Theo đó, đối tượng chịu thuế là tất cả hàng hóa, tàisản, dịch vụ trừ 21 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đốitượng không chịu thuế như: hàng hóa, dịch vụ thiết yếuphục vụ trong các lĩnh vực y tế, văn hóa, xã hội, khoa học;hoặc đã được điều chỉnh bằng các luật thuế khác; nhómđầu tư nước ngoài được khuyến khích…

Thuế GTGT Philippines có 2 mức thuế suất 0% và 10%:Chịu thuế suất 0% bao gồm hàng hóa, dịch vụ xuất khẩukể cả xuất khẩu tại chỗ và hàng hóa, dịch vụ cung cấpcho hay sử dụng của Ngân hàng Trung ương Philippines Còntất cả hàng hóa, dịch vụ còn lại chịu thuế suất 10%

Hệ thống thuế gián thu của Philippines chia ra 2 ngưỡng

chịu thuế:

- Đối với người kinh doanh có tổng doanh thu bán hànghàng năm từ hoạt động kinh doanh lớn hơn 500.000 Pêsô(khoảng 145.000.000 đồng) thì nộp thuế theo Luật thuếGTGT Còn dưới mức này sẽ không phải là đối tượngnộp thuế GTGT, nhưng phải nộp 3% thuế doanh thu Tuynhiên các đối tượng này có thể tự chọn cách nộp thuếtheo GTGT hay theo doanh thu

- Đối với người kinh doanh có tổng doanh thu bán hàng hàng năm dưới

100.000 Pêsô (khoảng 29.000.000 đồng) thì không là đốitượng chịu thuế kể cả GTGT và doanh thu

Theo Đạo luật 7716, thuế GTGT Philippines chỉ tính theomột phương pháp khấu trừ: Thuế GTGT phải nộp được tínhtừ thuế GTGT đầu ra trừ cho thuế GTGT đầu vào

Người nộp thuế phải kê khai 2 loại tờ khai khácnhau: tháng thứ nhất và tháng thứ hai của quí thì theo

40

Ngày đăng: 27/08/2022, 23:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w