Trên thực tế, dù đã có nhiều thay đổi nhưng nhìn chung hệ thống thuế Việt Nam và các sắc thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp và thu nhập đối với người có thu nhập cao vẫn còn bộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THI
LUẬNVĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU
Trang
1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẾ 4
1.2.1 Căn cứ theo đối tượng đánh thuế 61.2.2 Căn cứ theo áp lực chịu thuế 6
1.3 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH SẮC THUẾ 7
1.3.1 Tên gọi của thuế 71.3.2 Người nộp thuế (đối tượng nộp thuế) 71.3.3 Đối tượng tính thuế 7
1.3.5 Chế độ miễn giảm thuế 81.3.6 Thủ tục thu, nộp thuế 9
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG HỆ THỐNG THUẾ9
1.4.1 Hiệu quả kinh tế 91.4.2 Tính linh hoạt và độ tăng trưởng của nguồn thu111.4.3 Tính công bằng 14
1.5 VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
1.5.1 Thuế tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà
Trang 31.5.2 Thuế là công cụ để quản lý và điều tiết vĩ
mô của nền kinh
1.5.3 Thuế với vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện
công bằng xã
1.6 VAI TRÒ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG,
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP, THUẾ THU
NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP
CAO TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.6.1 Vai trò của thuế giá trị gia tăng 171.6.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 181.6.3 Vai trò của thuế thu nhập đối với người có thu
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP, THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CHUNG 20
2.2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP, THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO
23
2.2.1 Thuế giá trị gia tăng 232.2.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp 252.2.3 Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 27
Trang 42.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU HAI NĂM
TRIỂN KHAI
Trang 52.3.1 Về tác dụng của thuế đối với việc quản lý,
điều tiết vĩ mô
2.3.2 Về tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
2.3.3 Về công tác quản lý, hạch toán kinh doanh
của các doanh
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
GÓP PHẦN HOÀN THIỆN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP, THUẾ THU NHẬP ĐỐI
3.1 MỤC TIÊU CỦA VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
3.1.1 Đảm bảo tính linh hoạt và độ tăng trưởng của
nguồn thu,tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sác nhà nước
413.1.2 Hệ thống thuế phải bao quát các nguồn thu và
đảm bảo tínhtrung lập, công bằng và hiệu quả 413.1.3 Là công cụ điều tiết vĩ mô linh hoạt, hiệu quả
3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN HOÀN
THIỆN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP, THUẾ
THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO 42
Trang 63.2.1 Đối với thuế giá trị gia tăng 423.2.2 Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp 473.2.3 Đối với thuế thu nhập đối với người có thu
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1987, Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế của mình Quá trình cải cách đã được thực hiện với tốc độ nhanh chóng Đến tháng 10/1990, hệ thống thuế của Việt Nam đã có sự “lột xác”khá toàn diện so với trước đó với sự xuất hiện những thành tố quan trọng của một hệ thống thuế hiện đại Tuy nhiên, “những thành tựu bề nổi đó có thể
làm cho chúng ta nhầm lẫn, do trên thực tế, điều đãcứu Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài khóatrong giai đoạn 1988-1992 chính là khoản thu nhập tăng lên
nhờ vào dầu mỏ” [1,53] Vì vậy, đến năm 1997, Quốc hội
đã lần lượt thông qua luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế cho thuế doanh thu, thuế lợi tức và sửa đổi bổ sung một số sắc thuế khác, cùng có hiệu lực ngày 01/01/1999 Trên thực tế, dù đã có nhiều thay đổi nhưng nhìn chung hệ thống thuế Việt Nam và các sắc thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp và thu nhập đối với người có thu nhập cao vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm, tính hiệu quả chưa cao, nguồn thu từ thuế thiếu sự ổn định, v.v.v Chính vì thế, trong dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đặt ra mục tiêu: “Tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù
hợp với tình hình đất nước và các cam kết quốc tế; đơngiản hoá các sắc thuế; từng bước áp dụng hệ thốngthuế thống nhất, không phân biệt đầu tư trong nước vàđầu tư nước ngoài Nuôi dưỡng nguồn thu và thu đúng, thu
đủ Hiện đại hoá công tác quản lý thuế của Nhà nước”.
Xuất phát từ suy nghĩ đó, do tính cấp bách và thiết
thực của nó, chúng tôi đã chọn đề tài “Một số biện
pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” làm Luận án
Thạc sĩ của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những lý luận về thuế, Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về hệ thống thuế Việt Nam, chú trọng đến ba sắc thuế : thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối
Trang 8với người có thu nhập cao Từ đó xác định yêu cầu khách quan cần có để hoàn thiện các sắc thuế này phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta.
Thông qua phân tích quá trình áp dụng các sắc thuế nói trên ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của đất nước, các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và
Trang 9thực thi các sắc thuế này, đồng thời tham khảo kinh nghiệm ở các quốc gia đã và đang phát triển, Luận văn sẽ đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện đối với ba sắc thuế nói trên sao cho phù hợp với điều kiện và bối cảnh nền kinh tế ở Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Một số biện pháp chủ yếu góp phần
hoàn thiện thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” lấy hệ thống thuế Việt Nam và các sắc
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành ở Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là những nội dung quản lý về phía Nhà nước đối với việc thực thi các sắc thuế này.
4.Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, có tham khảo một số học thuyết về kinh tế thị trường và các học thuyết kinh tế hiện đại trong lĩnh vực thuế, kết hợp với phương pháp thống kê phân tích, phân tích tổng hợp, quy nạp, diễn dịch Đồng thời tham khảo những kinh nghiệm thực thi hệ thống thuế ở các quốc gia có nền kinh tế đã và đang phát triển để đi sâu có trọng điểm nội dung của Luận văn nhằm nâng cao lý luận từ thực tiễn, phát hiện, định hướng các giải pháp cần thiết và khả thi để hoàn thiện các sắc thuế mà Luận văn đề cập, phù hợp với chủ trương, đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII.
5.Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và phụ lục, bố cục của Luận án gồm có 3 chương :
Chương 1 : Lý luận chung về thuế
Chương 2 : Thực trạng về việc áp dụng thuế giá trị
gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Chương 3 : Một số biện pháp chủ yếu góp phần
hoàn hiện thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Trang 10Do phạm vi nghiên cứu giới hạn nên Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ba sắc thuế: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Tuy nhiên, do bởi ba sắc thuế này là một trong những sắc thuế quan trọng hình thành hệ thống thuế Việt Nam nên sẽ là khiếm khuyết nếu như
Trang 11chỉ phân tích độc lập ba sắc thuế này Vì vậy, Luận văn sẽ nghiên cứu ba sắc thuế này đặt trong tổng thể hệ thống thuế Việt Nam, có xem xét đến mối liên hệ giữa các sắc thuế này với các sắc thuế khác để có cái nhìn toàn diện và thuyết phục, chính xác hơn.
Để minh họa cho việc phân tích, Luận văn có sử dụng nguồn số liệu của Tổng Cục Thống Kê, Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế, Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, và một vài tài liệu thống kê từ các nguồn thông tin khác.
Thuế là vấn đề hết sức phức tạp nên Luận văn sẽ khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của quý thầy cô và những người quan tâm.
Trang 12CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ
THUẾ
1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẾ
Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Chính phủ đượctổ chức Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay trongKinh thánh đã có đề cập đến việc một phần mười cácloại cây trồng được để dành phân phối lại và hỗ trợ chonhà tu Tuy nhiên, trong Kinh thánh không đề cập rõ ràngvề cơ chế bắt buộc và cũng không nói gì về mức độtrốn thuế Vào thời kỳ trung cổ, các cá nhân cung cấptrực tiếp các dịch vụ cho chủ, đây chính là thuế mặc dùnó không được tiền tệ hoá Ngày nay, thuế hiện đại hầunhư đã được tiền tệ hoá, tức là các cá nhân và tổ chứckhông bị buộc phải cung cấp dịch vụ mà trả bằng tiền.Các nghiên cứu cũng cho thấy có hai sự khác biệt giữa
thuế của thời kỳ phong kiến và thuế hiện đại Thứ
nhất, dưới chế độ phong kiến, các cá nhân không được
phép rời bỏ lãnh chúa của mình nếu không được cáclãnh chúa cho phép trong khi đó hiện nay, các cá nhânđược phép chọn nơi cư trú và vì thế cơ quan có thẩm
quyền sẽ đánh thuế các cá nhân này Thứ hai, ở thời
kỳ trung cổ các cá nhân buộc phải làm việc, còn dướichế độ thuế hiện đại họ chỉ phải chia sẻ với Chính phủcái mà họ nhận được do làm việc hoặc cái mà họ nhậnđược từ việc họ đầu tư hay chi tiêu Họ có thể chọn nộpthuế ít đi nếu họ sẵn sàng làm việc ít đi và nhận ít đi
Như vậy, thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triểncủa Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳNhà nước nào cũng sử dụng để thực hiện chức năngcủa mình Bản chất của thuế do bản chất của Nhànước quy định vì thế có rất nhiều quan điểm khác nhauvề thuế tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cáchthức sử dụng nguồn thu từ thuế
Những người theo thuyết thuế ước cho rằng thuế là kếtquả tất yếu của một khế ước mặc định giữa nhà nướcvà dân chúng, tổng số thuế do sự thỏa thuận giữa mộtbên là Chính phủ và bên kia là đại biểu dân chúng Tuynhiên, thực tế cho thấy rằng, việc đóng thuế của ngườidân không dựa trên sự tự nguyện và cũng không hàm
ý sự thỏa thuận nào giữa Chính phủ và đại diện củadân chúng Những người theo thuyết quyền lực nhà nướcthì cho rằng, nộp thuế là bổn phận của người dân đối
Trang 13với Nhà nước, việc đóng thuế mang tính cưỡng báchchứ không thể dựa vào lòng hảo tâm hay sự tự nguyện.Nhìn chung, quan điểm cho rằng thuế mang tính cưỡngbách và được thu bằng quyền lực Nhà nước được thểhiện rõ thông qua các phát biểu của những nhà kinh tếhiện đại Các quan điểm này không chỉ dừng lại phântích ở khía cạnh “cưỡng
Trang 14bách” mà còn đề cập đến mục tiêu của thuế đồng thờihọ cũng chỉ ra rõ đối tượng chịu thuế, theo đó thuế đượcdùng vào mục tiêu công cộng và suy cho cùng, ngườichịu thuế là dân chúng, cụ thể :
hỏi ở các tư nhân đóng góp vĩnh viễn, không đối phần, để tài trợ các gánh nặng công cộng” [2,123 ]
“Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người
cho Chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào các lợi riêng được hưởng”[6,27 ].
các công dân bằng quyền lực, để tài trợ các gánh nặng công cộng - sự cung cấp này có tính cách chung cục và không có đối giá” [6,27 ]
Như vậy, có thể hiểu “Thuế là một khoản đóng
góp mang tính pháp định do các tổ chức và cá nhân nộp vào ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của nhà nước”, vì
vậy, bất kỳ một sắc thuế nào cũng sẽ có các đặctrưng cơ bản:
Thuế mang tính cưỡng chế, bắt buộc, khác hẳn
với những khoản đóng góp tự nguyện vào ngânsách nhà nước Tính cưỡng chế được thể hiện thôngqua các điều khoản pháp luật Ngay từ khi mới ra đời,nhà nước đầu tiên của xã hội loài người, thuế đãđược thu bằng sức mạnh quyền lực Tuy nhiên, khi xãhội phát triển thuế càng phát triển, tính cưỡng chế,bắt buộc sẽ phải tinh vi hơn, mang tính dân chủ hơn
Thuế mang tính vĩnh viễn và không hoàn trả trực tiếp Điều này có nghĩa khi người dân nộp thuế
thì không bao giờ được hoàn trả trực tiếp hay nói khác
đi, nộp thuế là một nghĩa vụ – nghĩa vụ xã hội, màngười dân không có quyền trốn và cũng không đượcquyền đòi hỏi trả lại Tuy vậy, mọi khoản do dânchúng đã nộp sẽ quay lại với họ bằng nhiều conđường khác nhau thông qua chi tiêu của chính phủ từngân sách nhà nước
Thuế được sử dụng vào các mục tiêu công cộng, tức là ngoài một phần cung cấp cho quản lý
hành chính đại bộ phận thuế thu được chuyển giao lạicho người dân khi nhà nước chi ngân sách cho y tế,giáo dục, bảo trợ xã hội, cơ sở hạ tầng, chống ônhiễm mội trường, chống tệ nạn xã hội…
Trang 15Đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về nhà nướcvà thể hiện sức mạnh của nhà nước trong đời sống xãhội Nhà nước dùng thuế tái phân phối thu nhập xã hộivà điều chỉnh kinh tế vĩ mô Ngoài ra trong xã hội dânchủ, mặc dù không nhận sự hoàn trả trực tiếp nhưngdân chúng cũng nhận được một cách gián tiếp thôngqua
Trang 16lợi ích từ công chi Do đó ngoài việc hành thu thuế thậttế nhị và minh bạch, chính phủ cần phải công bố rõràng chương trình hành động của mình và tăng cường giáodục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế, có như vậydân chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế vàxem thuế là một việc làm tự nhiên, cần thiết cho cuộcsống cộng đồng.
Tóm lại, thuế đóng một vai trò hết sức quan trọng trongsự phát triển của nhà nước bởi nó chính là công cụhữu hiệu giúp nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô đốivới nền kinh tế Chính phủ tạo nguồn thu chủ yếu thôngqua thuế, dẫu rằng trong ngắn hạn, Chính phủ có thể vayhoặc in tiền, bán tài sản hoặc trưng dụng các nguồnlực nhưng trong thời gian dài hạn, cần phải có một hệthống thuế hiệu quả để tạo nguồn thu có thể đáp ứngcác nhu cầu chi tiêu của khu vực công cộng
1.2 PHÂN LOẠI THUẾ
1.2.1 Căn cứ theo đối tượng đánh thuế
Thuế đánh vào hàng hoá như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
Thuế đánh vào giá trị gia tăng như thuế giá trị gia
tăng
Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất
Thuế đánh vào việc sử dụng một số tài sản quốc gianhư thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp.1.2.2 Căn cứ theo áp lực chịu thuế
Thuế gián thu : là hình thức thu thuế gián tiếp bởi
người nộp thuế không phải là người chịu thuế Thựcchất thuế gián thu là một yếu tố cấu thành tronggiá mua hàng hóa dịch vụ nhằm động viên sự đónggóp của người tiêu dùng Chính vì vậy người tiêudùng phải trả một khoản thuế nhưng được nộp quatrung gian người kinh doanh Ở nước ta, điển hình loạithuế này là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặcbiệt…
Thuế trực thu : là loại thuế mà người nộp thuế chính
là người chịu thuế Điển hình loại thuế này ở nước talà thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuếthu nhập doanh nghiệp
Trang 17Thực tế cho thấy, đối với các nước đang phát triển thì nhà nước coi trọng thuế gián thu hơn Cụ thể ở nước ta thuế gián thu được thực hiện đối với tất cả thành
Trang 18phần kinh tế nhưng thuế trực thu chỉ áp dụng đối với
người có thu nhập cao và đối với các doanh nghiệp bởi thuế gián thu có ưu điểm:
Đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sáchnhà nước, bởi thuế đánh vào hàng hóa dịch vụđáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu màngười ta không thể ngừng hẳn nhu cầu này khinền kinh tế suy thoái hay đình trệ như vậy nhànước luôn luôn còn nguồn thu
Việc coi trọng thuế gián thu còn xuất phát từnguyên lý: “Đánh thuế vào những gì mà ngườichịu thuế lấy đi từ xã hội sẽ có tác dụng tốthơn là đánh vào những gì mà đối tượng chịu thuếnhập vào cho xã hội” [3,18 ] Hơn nữa thuế giánthu bao quát được hầu hết các lĩnh vực, ai cũngphải tiêu dùng, ai cũng phải chịu thuế Từ đó, vềmặt tâm lý, người chịu thuế bớt được cảm giácgánh nặng thuế, dễ dàng chấp nhận, đôi khi còn
“kiêu hãnh” về sự đóng góp cho ngân sách nhànước thông qua sự tiêu dùng cao cấp của mình.Hơn nữa, thuế gián thu thường có phương pháphành thu đơn giản thích hợp với trình độ tổ chức bộmáy và nhận thức của đông đảo dân chúng ởcác nước đang phát triển
1.3 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH SẮC THUẾ
Trên thực tế, hầu như quốc gia nào cũng xây dựng hệthống thuế với nhiều loại thuế khác nhau bao trùm mọihoạt động kinh tế – xã hội Tuy nhiên với bất kỳ một sắcthuế nào đi nữa, thì chúng đều phải chứa đựng các yếutố cơ bản sau:
1.3.1 Tên gọi của thuế
Không thể có loại thuế vô danh bởi tên gọi sẽ thểhiện “nội dung chính” của thuế, nhận diện nó với cácloại thuế khác và bảo vệ công chúng không nộp hai lầnmột thứ thuế
1.3.2 Người nộp thuế (đối tượng nộp thuế)
Đối tượng nộp thuế là những pháp nhân, thể nhânđược nhà nước công nhận về mặt pháp lý, có hoạtđộng, có tài sản, có thu nhập… thuộc phạm vi điều tiếtcủa thuế và có nghĩa vụ nộp thuế
1.3.3 Đối tượng tính thuế
Trang 19Đối tượng tính thuế được hiểu là những căn cứ đểnhằm vào đó nhà nước sẽ đề ra những sắc thuế Cụthể ở nước ta, hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế nhắmvào những đối tượng khác nhau như thuế giá trị gia tăngdựa trên cơ sở là giá trị tăng
Trang 20thêm của sản phẩm, dịch vụ khi luân chuyển qua các giai đoạn kinh doanh và tiêu dùng, thuế xuất nhập khẩu dựa trên cơ sở là giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu.
1.3.4 Thuế suất
Thuế suất là một suất thu từ đối tượng tính thuế Suấtthu này có thể được qui định là một số tỉ lệ trên đốitượng tính thuế hoặc là một mức thuế tuyệt đối Cụ thểđối với thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao làbiểu thuế luỹ tiến từng phần dựa trên thu nhập củangười dân, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ ápdụng một mức thuế cố định là 25% hoặc 32%
Thuế suất là yếu tố quan trọng, là nội dung chủ yếuđược nhà nước quan tâm hàng đầu khi xây dựng hệ thốngthuế bởi:
Thuế suất là yếu tố để nhà nước điều chỉnhnguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thuế suất giúp nhà nước phát triển hay hạn chế mộtlĩnh vực, một ngành nào đó thông qua việc nhànước sử dụng thuế suất cao, thuế suất ưu đãi hayngược lại
Để góp phần thực hiện công bằng xã hội, yếu tốthuế suất cũng được nhà nước chú trọng tối đa
Còn đối với người dân thì họ có đồng tình hay phảnứng gay gắt một loại thuế nào đó cũng chỉ tậptrung vào vấn đề thuế suất mà thôi
1.3.5 Chế độ miễn giảm thuế
Trên thực tế, mỗi sắc thuế đều có chế độ miễngiảm nhất định Thông thường nhà nước sử dụng côngcụ này để kích thích sự vận hành của nền kinh tế, điềuhòa lợi ích giữa nhiều tầng lớp xã hội theo định hướngcủa nhà nước Thể hiện: kích thích phân bổ các nguồnlực xã hội (đất đai, tài nguyên, nhân lực…), khuyến khíchsản xuất và tái đầu tư, khuyến khích xuất khẩu hànghóa, thực hiện chính sách đối nhân của thuế
1.3.6 Thủ tục thu, nộp thuế
Nếu chỉ bao gồm năm yếu tố trên thì thuế vẫn chưađược thực thi Do đó phải cần đến yếu tố thứ sáu để tạokhung pháp lý cho thuế Bao gồm:
Trang 21 Các thủ tục về khai báo: đăng ký kinh doanh và đăngký thuế như thế nào, ở đâu ? Khai báo tính thuế như thế nào ?…
Trang 22 Xử lý: trốn thuế sẽ bị xử phạt như thế nào?
Thời hiệu: Thuế có hiệu lực kể từ thời điểm nào ?Nếu phát hiện các dấu hiệu vi phạm thì trong thời gianbao lâu còn hiệu lực truy tố?…
Tóm lại, sáu yếu trên là các bộ phận cơ bản để tạonên một sắc thuế vì vậy khi ban hành một sắc thuế,nhà nước cần phải nghiên cứu kỹ từng yếu tố này Vềphía người nộp thuế, để chấp hành tốt các quy trình củaluật thuế, họ cũng không thể không nghiên cứu kỹ cácyếu tố này
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG HỆ THỐNG THUẾ
1.4.1 Hiệu quả kinh tế
Mối quan tâm dai dẳng trong những tranh luận về chínhsách thuế là liệu hệ thống thuế có kìm hãm, cản trởtiết kiệm và việc làm không, nó có bóp méo hành vikinh tế bằng những cách khác không bởi lẽ lịch sử đánhthuế đã được đánh dấu bằng những thực tế cho thấytác động gây sai lệch (Distortionary taxes) Thông thường,hiệu quả kinh tế được đánh giá qua các yếu tố sau:
hưởng của thuế đến hành vi là rất khó đánh giá.Một loại thuế làm tăng giá của hàng hoá bằng cáchcộng thêm vào giá gốc một tỷ lệ phần trăm củagiá (thuế theo phần trăm của giá trị hàng hoá)hoặc một khoản tiền cố định (thuế đơn vị) sẽ tạo ramột mức chênh lệch giữa giá trị người tiêu dùngphải trả cho hàng hoá đó (giá cầu) và chi phí nguồnlực kinh tế để sản xuất ra hàng hoá đó (giá cung) Khimột loại thuế như vậy không áp dụng để bù đắpcho một ngoại tác trên thị trường, điều đó sẽ làmtạo ra một sự biến dạng trên thị trường và sự biếndạng đó sẽ ảnh đến hành vi tiêu dùng và nhà sảnxuất Những biến dạng thị trường do việc đánh thuếgây ra (do thay đổi hành vi của người tiêu dùng,người sản xuất) sẽ tạo ra tổn thất về hiệu quả kinhtế
hưởng đến hình thức hơn là thực chất của một giaodịch Ví dụ, về giá trị thực không có mấy khác nhaugiữa việc doanh nghiệp trả tiền cho nhân viên đểnhân viên đi mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tếhay doanh nghiệp đi mua cho nhân viên Nhưng xét từgóc độ thuế thì hai việc này khác nhau rất lớn
Trang 23Trong trường hợp đầu, cá nhân nhận “thu nhập” màkhoản thu nhập này bị đánh thuế trong khi đó trongtrường hợp thứ hai “khoản phúc lợi phụ này” không bịđánh thuế Tất nhiên, những ảnh hưởng về mặt tàichính này có thể khác nhau đối với từng sắc thuếkhác nhau và ở mỗi nước khác nhau thì sự tác độngnày cũng khác nhau.
Trang 24 Thuế có thể gây sai lệch và không gây sai lệch (Distortionary taxes – Nondistortionary taxes) : Mỗi hệ
thống thuế đều có ảnh hưởng đến hành vi bởi lẽdù sao dân chúng cũng phải nộp tiền vào ngânsách nhà nước cho nên các cá nhân bằng cách nàođó sẽ phản ứng khi thu nhập bị thấp đi Một hệthống thuế được xem là không gây sai lệch nếu nhưkhông có gì để cá nhân có thể làm được nhằm làmthay đổi nghĩa vụ đóng thuế của mình Ngược lại, hệthống thuế được xem là gây sai lệch nếu như các cánhân có thể có những nổ lực nhằm giảm bớt nghĩavụ thuế của mình Các sắc thuế đánh vào hàng hoáđều gây sai lệch do bởi các cá nhân có thể thayđổi nghĩa vụ thuế của mình bằng cách đơn giản làgiảm mua hàng hoá Các loại thuế đánh vào thunhập cũng gây ra sai lệch vì cá nhân có thể giảmnghĩa vụ thuế của mình bằng cách làm việc ít hơn.Nhìn chung, chỉ các loại thuế khoán không gây nêntác động sai lệch
đánh thuế, chẳng hạn như thuế đánh vào thu nhập,thuế vốn, sẽ làm thay đổi sự cân bằng của nền kinhtế Thuế đánh trên lợi nhuận sẽ có thể làm giảmcung tiết kiệm và từ đó sẽ làm giảm năng suấtcông nhân và tiền công của họ Những tác độngnày sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến cân bằng tổng thểtrong nền kinh tế
không thể thích ứng ngay được với một loại thuếmới Thông thường, những sai lệch về lâu dài lại lớnhơn nhiều so với ngắn hạn vì khi đó nền kinh tế mớicó thể phản ứng một cách toàn diện hơn với tìnhhuống mới Tuy nhiên, có thể cảm nhận một sốảnh hưởng của một sắc thuế ngay từ trước khi đưasắc thuế đó đưa vào áp dụng Chẳng hạn, việc côngbố áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam từ01/01/1999 đã gây ảnh hưởng đến việc dự trữ hànghoá của các doanh nghiệp vào thời điểm cuối năm1998
người đóng thuế dễ chấp hành Tính đơn giản đượcáp dụng cho việc quản lý luật thuế cũng như cơ cấuluật pháp của nó Tính đơn giản của hệ thống thuếgiúp người dân dễ chấp hành hơn và nhà nướcquản lý thuế hiệu quả hơn Một hệ thống thuếphức tạp sẽ có thể khiến cho người đóng thuế phải
Trang 25chịu chi phí rất cao khi chấp hành theo hệ thống thuếvà nhà nước phải chịu chi phí quản lý thuế cao.
Vì số thuế thu được chủ yếu là để tài trợ cho cácnhu cầu của Chính phủ nên chi phí thu thuế cao sẽlàm giảm số thu ròng còn lại của Chính phủ Một hệthống thuế tốt cần phải có chi phí quản lý thuếthấp và chi phí chấp hành thấp Nếu những chi phínày chiếm một phần lớn trong số thuế thu được, hệthống thuế này cần phải được cơ cấu lại
Trang 261.4.2 Tính linh hoạt và độ tăng trưởng của nguồn thu
Tính linh hoạt của hệ thống thuế là đưa ra chỉ định rằngthiết kế hệ thống thuế như thế nào để tạo nguồn thu ổnđịnh trong dài hạn Hay nói khác đi, hệ thống thuế có tínhlinh hoạt là gia tăng nguồn thu tương xứng với mức giatăng của GDP (hay cao hơn mức tăng trưởng GDP) nhằmđảm bảo việc chi tiêu của Nhà nước
Nếu như việc đảm bảo số thuế thu được có ý nghĩarất quan trọng trong việc tài trợ cho các nhu cầu của Chínhphủ thì tính ổn định của số thuế thu được theo thời giancũng là thiết yếu trong việc duy trì tính liên tục trong cácchính sách ngân sách của Chính phủ Nếu như số thuếthu được không ổn định và biến động theo thời gian thìnó sẽ ảnh hưởng nguy hại đến các chương trình của Chínhphủ Hơn nữa, tính bất ổn định của số thuế thu được sẽkhiến cho các chương trình phát triển mới không được thựchiện tốt, dẫn đến tình trạng trì hoãn và tăng chi phí, hoặcchương trình bị bãi bỏ
Để ước tính mức thay đổi về số thu thuế khi GDP thay
đổi, người ta thường dùng khái niệm độ nổi và độ co
dãn.
1.4.2.1 Độ nổi của thuế
Độ nổi của thuế là tỷ số giữa thay đổi phần trămvề số thu thuế (bao gồm các thay đổi trong việc thu thuế
do có các thay đổi về căn cứ tính thuế hoặc thuế suất,hoặc thay đổi cả hai) với phần trăm trong GDP
Với T0, T1 lần lượt là số thuế thu được trong năm 0, năm
1 Y0, Y1 lần lượt là GDP trong năm 0, năm 1
Như vậy, độ nổi của thuế bị ảnh hưởng bởi các khoảnmiễn giảm thuế được nêu trong căn cứ tính thuế Nếucăn cứ tính thuế bị xói mòn do các khoản miễn giảmthuế thì số thuế thu được sẽ không tăng theo tỷ lệ vớimức gia tăng GDP Sự xói mòn căn cứ tính thuế này cóthể tìm thấy trong trường hợp thuế thu nhập ở nhiềunước Nhằm khuyến khích một số hoạt động nào đó, một
Trang 27số Chính phủ chấp nhận các khoản miễn giảm thuếkhiến cho căn cứ tính thuế bị thay đổi và do vậy làmgiảm độ nổi của thuế hay nói khác đi, nếu Chính phủ cảitiến cơ cấu của hệ thống thuế thì theo thời gian, độ nổicủa thuế sẽ tăng lên.
Trang 281.4.2.2 Độ co dãn của thuế
Độ co dãn của thuế là tỷ số giữa thay đổi phần trămvề số thu thuế (nếu không có thay đổi trong chính sáchliên quan về thuế suất hoặc căn cứ tính thuế) với thayđổi phần trăm về GDP Tác động của một thay đổi vềthuế suất hoặc thay đổi về căn cứ tính thuế cần phảiđược tách riêng ra khi tính độ co dãn của thuế Độ co dãncủa thuế là một số độ nhạy cảm của một cơ cấu thuếđối với các thay đổi trong thu nhập Vì cần phải tách rờicác tác động đến số thu do các thay đổi trong thuế suấtvà căn cứ tính thuế ra khỏi các tác động đến số thu
do những thay đổi trong thu nhập, việc tính độ co dãn củathuế khó khăn hơn nhiều so với việc tính độ nổi củathuế
Ngoài các yếu tố trên, khi xem xét đến tính linh hoạtcủa hệ thống thuế, cần phải quan tâm tính toán đếnyếu tố thời gian : nhịp độ thực hiện những thay đổi trongluật thuế (khi đã được ban hành) và độ trễ trong việc thuthuế Nếu những giao động trong nền kinh tế diễn ra nhanh
thì độ trễ có thể làm giảm hiệu lực (xem đồ thị 1) Phần
A của Đồ thị 1 chỉ ra sự dao động của GDP theo thời gian
trong một nền kinh tế lý tưởng Phần B chỉ ra những daođộng của số thu từ thuế theo thời gian nếu không cóđộ trễ trong việc thu thuế Trong trường hợp này, việc thuthuế thấp trong thời kỳ suy thoái trầm trọng nghĩa rằngngười tiêu dùng phải chi tiêu nhiều hơn, và việc chi tiêunhiều hơn đó sẽ là sự kích thích quan trọng cho nền kinh tế.Trong trường hợp việc thu thuế có độ trễ như trong phần
C của Đồ thị 1, thu nhập của Chính phủ đạt đến cao
điểm (ví dụ điểm E) khi GDP đã giảm xuống, Chính phủcần phải tạo ra kích thích cho nền kinh tế chính là ở điểmnày để đẩy nền kinh tế đi lên Thật vậy, việc thu thuếđạt cao điểm có nghĩa là thuế có tác động giảm dần.Trường hợp ngược lại xảy ra khi nền kinh tế thoát khỏi tình
Trang 29trạng suy thoái, ví dụ ở điểm E’ Có thể Chính phủ muốnkìm hãm nền kinh tế lại để nền kinh tế không bị cuốnvào vòng xoáy lạm phát Thay vào đó, vì thu thuế phụthuộc vào thu nhập của năm trước, lúc đó thu nhập cònrất thấp cho nên thu thuế cũng sẽ thấp hơn và do đó chitiêu của người tiêu dùng được kích thích bởi thuế thấp hơn.
Trang 30(có độ trễ)
E E’ Thời gian
Trang 311.4.3 Tính công bằng
Hầu hết những phê phán về hệ thống thuế đều bắtđầu bằng sự không công bằng Tuy nhiên, rất khó xácđịnh một cách chính xác xem thế nào là công bằng vàthế nào là không công bằng Có hai quan điểm khácnhau về sự công bằng : công bằng theo chiều ngang vàcông bằng theo chiều dọc Theo đó, công bằng theochiều ngang nếu các cá nhân như nhau về mọi mặt sẽđược đối xử ngang bằng nhau Còn công bằng theo chiềudọc được hiểu là nếu một số người có khả năng nộpthuế cao hơn những người khác thì họ phải nộp thuế caohơn Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn có những tranh cãixung quanh việc xác định thế nào là hai cá nhân nhưnhau về mọi mặt và đối xử hai người như thế nào thìđược gọi là ngang bằng nhau Vả lại, việc đưa ra nguyêntắc xác định ai là người có khả năng nộp thuế cao hơncũng không phải là dễ dàng Và ngay cả khi đã thốngnhất nguyên tắc áp dụng thì vẫn còn có những tranhluận về cách thức đo lường khả năng nộp, điều kiện kinhtế tốt hoặc lợi ích họ nhận được Do đó, nguyên tắc nàyvẫn mang một tính tương đối nhất định
1.5 VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
“Khảo sát của The World Bank tại 85 nước trên thế giới,vào năm 1990 có đến 60 quốc gia mà khoản thu thuếchiếm 80% tổng thu ngân sách nhà nước Đặc biệt ởcác nước công nghiệp phát triển, tỷ trọng này đạt rấtlớn Đức 92,7%, Mỹ 95%, Pháp 95,3%, Nhật 95,4%” Riêng
ở nước ta tỷ lệ này được thể hiện như sau:
Bảng 1:Tổng số thu về thuế trong tổng thu ngân sách
Nguồn: Vietnam Statistical Appended and Backgroup Notes, IMF Staf Country Report No 00/116.
Trang 32Với những số liệu như trên, đã chứng minh được vị tríhàng đầu của thuế trong tổng thu ngân sách nhà nước.Tóm lại, tạo nguồn thu cho ngân sách là chức năng vốncó của thuế Tuy nhiên phát huy tốt chức năng này cầnphải đặt thuế trong mối quan hệ tăng trưởng kinh tế, bởichính sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở tồn tại và phát triểncủa thuế, nhà nước
Trang 33không vì nhu cầu cấp bách của mình để tăng thu mà bỏqua yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thuế Mặtkhác khi thu thuế nhà nước phải tính đến nguyên tắc:
“Thuế phải có tác dụng nuôi dưỡng thuế, tránh gây ratình trạng thuế giết thuế (tức lạm thu thuế)”
1.5.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Thuế có vị trí quan trọng trong việc quản lý hướng dẫnvà khuyến khích phát triển sản xuất Ngoài ra nó cũngchính là yếu tố trực tiếp nhất, cơ bản nhất tác độngđến lợi ích của toàn dân Nhận thức rõ vấn đề này, nhànước đã sử dụng triệt để công cụ thuế để quản lý và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế (xem Sơ đồ 1)
Khi năng lực sản xuất của xã hội đạt đến đỉnh cao,nền kinh tế đang ở giai đọan cực thịnh, nhà nước có thểtăng thuế nhằm điều chỉnh thu nhập, đầu tư, cung cầugiá cả để nền kinh tế phát triển lành mạnh Mặt khác,tăng thu để nghiêng phần thu nhập nhiều hơn về mình, tạo
ra nguồn vật chất dự trữ an toàn, đề phòng khi nền kinhtế bị suy thoái Trái lại, khi làm kinh tế suy yếu, nhà nướccó thể dùng chính sách thuế mở rộng và qua đó sẽ kíchthích tiêu dùng, tăng cao tổng cầu, kích thích sản xuấttừng bước ổn định phục hồi nền kinh tế Cụ thể hơn,để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành này, mở rộngsản xuất cho ngành khác, mở đường cho một vùng kinhtế mới phát triển hay hạn chế các ngành xét thấykhông cần thiết Nhà nước sẽ sử dụng mức thuế thấp,chính sách thuế ưu đãi, miễn giảm, đồng thời sử dụngngay nguồn thu từ thuế để đầu tư trực tiếp cho ngành đó,vùng kinh tế đó; sử dụng mức thuế cao để hạn chế sựxâm nhập của ngành đó vào thị trường
Tóm lại, thuế có vai trò quan trọng trong việc kích thíchphát triển kinh tế, góp phần hướng dẫn khuyến khích hợptác đầu tư với nước ngoài, đẩy mạnh hoạt động xuấtnhập khẩu đồng thời với việc sản xuất nội địa
1.5.3 Thuế với vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự canthiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thìviệc phân phối của cải và thu nhập của các thànhviên trong xã hội sẽ dễ dàng tạo ra hai cực đối lập nhau:một thiểu số người sẽ giàu lên và số còn lại thì khôngđạt được sự tiến bộ nào đáng kể, mà mọi nguồn gốccủa mọi bất bình đẳng trong xã hội lại xuất phát từđây, do vậy nếu không chia xẻ thành quả phát triển
Trang 34chung cho mọi người thì rõ ràng thiếu công bằng, dễ dẫnđến sự bất ổn trong xã hội và xung đột giai cấp Vì thếmột lần nữa nhà nước lại phải sử dụng công cụ thuếđể giải quyết những bất ổn nêu trên Ở đây thuế sẽgián tiếp hay trực tiếp điều tiết thu nhập thông qua haibiện pháp :
Trang 35S C+I+G
GDPfc = C+I+G-NTi
G Ti SubC
S
Sub Sub
NDPfc = F - DNDPfc - NTd
Sơ đồ 1 : Sơ đồ chu chuyển kinh tế
GDPmp
Trong đó :
H : Thu nhập hộ gia đình
S : Tiết kiệm của hộ
gia đình C : Chi tiêu
của hộ gia đình
I : Đầu tư của khu vực
tư nhân G : Chi tiêu
của Chính phủ
Ti : Thuế gián thu
GDPmp : GDP theo giá thị
trường GDPfc : GDP theo
chi phí sản xuất
Sub : Trợ giáNti= Ti-Sub : Thuế gián thu ròng
F : Thu nhập trước thuế của doanh nghiệp
D : Khấu haoNDPfc : Sản phẩm quốcnội ròng Td : Thuế trựcthu
NTd = Td-Tr : Thuế trực thu ròng
Qua tác động của thuế gián thu : Với việc áp dụngthuế suất cao vào những hàng hóa, dịch vụ cao cấpnhư thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào rượu, thuốc lá,thuế nhập khẩu cao đối với xe ô tô sẽ giúp nhànước điều tiết thu nhập của các tổ chức, cá nhâncó thu nhập cao Qua đó sẽ giảm bớt sự chênh lệchvề thu nhập xã hội
Trang 36 Qua tác động của thuế trực thu : Ở đây thuế đượcxây dựng trên quan điểm khả năng nộp thuế Trongđó người có thu nhập cao chịu mức thuế cao (mứcthuế này dựa trên nguyên tắc luỹ tiến theo mức thu
nhập (xem phụ lục 1).
Mặt khác, thuế còn thể hiện sự công bằng ở quátrình chi tiêu của Chính phủ thông qua các công trình phúclợi công cộng như y tế, cầu đường và phát triển toàn xãhội nhằm chuyển dịch một số lớn thu nhập từ ngườigiàu sang người nghèo, từ thành thị tới nông thôn Quacác dẫn chứng nêu trên chúng ta có thể khẳng địnhthuế đã góp phần tích cực trong việc điều tiết thu nhập,thực hiện công bằng xã hội
1.6 VAI TRÒ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG,
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP,THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓTHU NHẬP CAO TRONG NỀN KINH TẾVIỆT NAM HIỆN NAY
1.6.1 Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu cónguồn gốc từ Pháp, do kết quả của một quá trình khálâu dài nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống thuế theohướng đơn giản hoá cơ cấu thuế của nước này Vớinhững ưu điểm vượt trội so với các loại thuế gián thuđánh vào tiêu dùng, thuế giá trị gia tăng đã dần đượcáp dụng rộng khắp các nước thuộc Liên minh Châu âu,Đông Âu, Châu Á, v.v Tính đến hiện nay, đã có hơn 100quốc gia trên thế giới áp dụng sắc thuế này Ở ViệtNam, luật thuế giá trị gia tăng được triển khai áp dụng từ01/01/1999 thay cho luật thuế doanh thu trước đây
Về mặt lý thuyết, có thể thấy rằng thuế giá trị giatăng có một số ưu điểm nổi bật sau:
Thuế giá trị gia tăng mang tính trung lập đối vớinghiệp vụ chuyển dịch sản phẩm và dịch vụ thôngqua việc xóa bỏ được vấn đề thuế đánh chồnglên thuế
Thuế giá trị gia tăng ít mang lại phản ứng nặngnề về phía người chịu thuế lẫn người nộp thuếbởi lẽ đánh thuế theo phương pháp này, dưới hìnhthức một loại thuế gián thu mà người nộp thuếkhông phải là người chịu thuế được tổng kết làmột cách đánh thuế khôn ngoan, tiện lợi
Trang 37 Thuế giá trị gia tăng dễ hành thu vì gánh nặngcủa thuế được chuyển qua từng công đoạn để cuốicùng quy vào người tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa,hệ thống thuế giá trị gia tăng yêu cầu, nếumuốn được khấu trừ thuế của
Trang 38các công đoạn trước cần thiết phải ghi nhận
khoản thuế giá trị gia tăng trên hoá đơn bán
hàng và ghi riêng, rõ ràng
Thuế giá trị gia tăng là sự đơn giản trong công tácquản lý thu thuế Hệ thống thuế được vận hànhmột cách tự động, cơ quan thuế không tham giatính thuế mà chỉ thực hiện công việc kiểm tra sổsách kế toán của doanh nghiệp về sau
Mặt khác, do thuế giá trị gia tăng là sắc thuế đánhvào tiêu dùng hay nói khác đi đây là loại thuế đánh trênsố tiêu thụ cuối cùng, đặt trên cơ sở sự bù trừ ở biêngiới theo nguyên tắc đáo xứ (destination principle) cho nênmọi hàng hoá tiêu dùng trong nền kinh tế đều phảichịu một hoặc một số thuế suất như nhau chứ khôngphải dựa trên nguyên tắc nguyên xứ (original priciple).Chính nguyên tắc này của thuế giá trị gia tăng đã
“biến” sắc thuế này trở thành một sắc thuế có diệnthu rộng, do đó sắc thuế này đóng một vai trò hết sứcquan trọng trong việc tạo số thu cho ngân sách nhà nước.Nói cách khác, mục tiêu và vai trò của thuế giá trị giatăng chính là việc tạo số thu cho ngân sách, số thu nàyphải đảm bảo là số thu lớn, số thu ổn định (vững chắc)và số thu kịp thời Điều này cũng có nghĩa là, chínhsách xã hội và kích thích sản xuất không phải là mụctiêu chính của thuế giá trị gia tăng
1.6.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp hay còn gọi là thuế thunhập công ty, là một loại trực thu đánh vào phần thunhập sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập của
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam được banhành ngày 10/05/1997 và có hiệu lực từ 01/01/1999 thaycho luật thuế lợi tức trước đây Việc ban hành luật thuếthu nhập doanh nghiệp là nhằm đảm bảo bao quát vàđiều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã và đangsẽ phát sinh của các cơ sở kinh doanh hoạt động trongnền kinh tế
Do bản chất của thuế thu nhập đánh trên thu nhập của
cơ sở kinh doanh nên nó gây tác động trực tiếp đếnphần thu nhập còn lại mà nhà đầu tư được giữ lại Việctăng hay giảm mức thuế thu nhập điều tiết vào ngânsách nhà nước sẽ có tác động lớn đến việc giảm haytăng khả năng tích luỹ, đầu tư của nhà đầu tư Vì lẽđó, trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, thuế thu nhậpdoanh nghiệp mang mục tiêu và vai trò chính là kích thích
Trang 39đầu tư và đến lượt mình, khi đầu tư được mở rộng vàtăng cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì chính nó lại quay trởlại làm gia tăng số thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp.Trong những năm trước mắt, khi nhu cầu vốn đầu tư chonền kinh tế đang là vấn đề nóng bỏng, hiệu quả đầu tưcủa các doanh nghiệp trong nền kinh tế chưa cao, theochúng tôi, thuế thu nhập doanh nghiệp nên nhắm
Trang 40đến mục tiêu chủ yếu là kích thích đầu tư hơn là việc tạosố thu cao cho ngân sách nhà nước Về lâu dài, khi nềnkinh tế Việt Nam phát triển ở mức độ cao và ổn định,ngoài vai trò kích thích đầu tư như hiện nay, thuế thu nhậpdoanh nghiệp sẽ đảm đương thêm vai trò tạo số thu lớn chongân sách nhà nước.
1.6.3 Vai trò của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO Ở VIỆT NAM HAY CÒN ĐƯỢC GỌI DƯỚI TÊN THÔNG DỤNG HƠN LÀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở CÁC NƯỚC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI THƯỜNG ĐƯỢC ĐÁNH VÀO CÁ NHÂN HOẶC ĐƠN VỊ GIA ĐÌNH TRÊN CĂN BẢN THU NHẬP MÀ HỌ NHẬN ĐƯỢC LOẠI THUẾ NÀY THƯỜNG ĐƯỢC XẾP VÀO LOẠI THUẾ TRỰC THU VÌ GÁNH NẶNG CỦA NÓ DO CÁC CÁ NHÂN PHẢI NỘP THUẾ CHỊU.
Ở Việt Nam, thuế thu nhập được gọi dưới tên “thuế thunhập đối với người có thu nhập cao” để nói lên chủ đíchhướng nhiều đến mục tiêu công bằng hơn là các mụctiêu kinh tế khác Thực tiễn ở Việt Nam trong thời gian quacho thấy, số thu từ thuế thu nhập đối với người có thunhập cao chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong tổng thutừ thuế nói chung và nếu so với thuế giá trị gia tăng thìchỉ chiếm khoảng 10% (theo báo cáo của Tổng Cục thuế,năm 2000 tổng thu từ thuế giá trị gia tăng vào khoảng18.000 tỷ đồng trong khi đó thu từ thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao chỉ hơn 1.700 tỷ đồng)
Trong những năm trước mắt, thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao (hay là thuế thu nhập cá nhân trongtương lai gần) của Việt Nam vẫn tiếp tục đóng vai trò gópphần điều hoà thu nhập xã hội, tạo sự công bằng nhấtđịnh hơn là nhắm đến mục tiêu tạo động lực thúc đẩy,khuyến khích sản xuất, tạo số thu lớn cho ngân sách nhànước
Tuy có những vai trò quan trọng như trên nhưng thuế giátrị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao của Việt Nam hiện nay vẫncòn nhiều nhược điểm Chính vì vậy, nghiên cứu thực trạngcủa nó và tìm ra một số biện pháp hoàn thiện là điềucần thiết