Với đà phát triển của nền kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay, các doanh nghiệp đang phải đối mặt vớinhững vấn đề vô cùng phức tạp trong quá trình cạnh tranhđể tồn tại và phát triển như
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
BÙI XUÂN HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 21
-LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,nhân dân ta đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới tolớn để chấn hưng đất nước đi lên trên con đường pháttriển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.Đặc biệt nền kinh tế thị trường đã khẳng định được vaitrò cực kỳ quan trọng trong công cuộc đổi mới đó Quađó các thành phần kinh tế phải tự chứng minh khả năngcủa mình để tồn tại và phát triển
Với đà phát triển của nền kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay, các doanh nghiệp đang phải đối mặt vớinhững vấn đề vô cùng phức tạp trong quá trình cạnh tranhđể tồn tại và phát triển như cạnh tranh về giá, về chấtlượng phục vụ, chế độ hậu mãi… Vì vậy đòi hỏi doanhnghiệp phải không ngừng tìm tòi, phát hiện, đổi mới từcông tác kế hoạch hóa, công tác đầu tư khoa học vàcông nghệ, công tác quản lý và điều hành sản xuấtbằng những giải pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh
Là một ngành có ý nghĩa quyết định trong sự pháttriển cơ sở hạ tầng, được chính phủ rất coi trọng trong sựphát triển kinh tế của đất nước, nhưng giao thông vậntải cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của nền kinhtế thị trường Đặc biệt hiện nay trong kinh doanh cảngbiển trong khu vực trọng điểm thành phố Hồ Chí Minh đangdiễn ra cạnh tranh quyết liệt và gay gắt
Theo đánh giá của Cục Hàng hải, tốc độ tăngtrưởng lưu thông hàng hóa thông qua hệ thống cảngbiển những năm gần đây đã đạt khá cao: 18-22%/năm.Tuy nhiên bên cạnh một số cảng được xây dựng mớihiện đại như cảng VICT thì hầu hết các cảng trong trongkhu vực thành phố Hồ Chí Minh đều đã từng bước đượccải tạo nâng cấp Hiện nay năng lực, khả năng của cáccảng đã vượt xa so với lượng hàng thông qua trong khu vựcnên cạnh tranh là vấn đề không thể tránh khỏi
Là một cảng container lớn nhất nước, công ty Tâncảng Sài gòn trong những năm qua đã khai thác triệt đểkhả năng của mình và đã chiếm được 66% lượngcontainer thông qua trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh(khoảng 45% cả nước) Theo quy luật của thị trường,nhiều cảng khác đã cạnh tranh thu hút hàng và Tâncảng đã phải đối mặt với áp lực thị phần ngày cànggiảm (năm 2000 chỉ còn 42% trong khu vực) Điều nàybuộc Tân cảng phải có cái nhìn tổng quan trong định
Trang 32 hướng phát triển trước mắt cũng như lâu dài để ổn địnhvà phát triển sản xuất.
-Từ những gì đã được học kết hợp với kinh nghiệmtrong thực tiễn thôi thúc tôi phân tích nghiên cứu đềxuất một số giải pháp trong công tác kế hoạch và tiếpthị, mở rộng ngành nghề, đầu tư khoa học và công nghệnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển sản xuấtkinh doanh, duy trì sự ổn định và phát triển tại Công tyTân Cảng Sài gòn – một trong những doanh nghiệp cảngbiển đang trong
Trang 4giai đoạn cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong nền kinhtế thị trường Việt Nam hiện nay.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử Tư liệu thu thập có hệthống thông tin khoa học và đánh giá khách quan các sốliệu phân tích
Nền kinh tế thị trường ở nước ta rất đa dạng vàphong phú Chính vì vậy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu và phântích thật cụ thể để đánh giá kết quả và hiệu quả kinhtế đã đạt được cũng như những khó khăn hiện tại hoặctrong tương lai đồng thời định hướng cho sự lựa chọn phươngán hoạt động kinh doanh để phát triển cũng như nhữnggiải pháp khắc phục
Qua các số liệu thực tế và kinh nghiệm kết hợp với
cơ sở lý luận, luận văn đề xuất một số giải phápkhắc phục những hạn chế tồn tại nhằm nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh ở một doanh nghiệp cảng biển– Công ty Tân cảng Sài gòn
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương :
- Chương 1 : Cơ sở lý luận
- Chương 2 : Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty Tân cảng Sài gòn và sự cạnh tranh của các cảng trong khu vực
- Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Tân cảng Sài gòn
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH:
1.1.1 Khái niệm :
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tếphản ánh trình độ quản lý sử dụng năng lực sẵn cócủa doanh nghiệp để đạt được những kết quả cao nhấttrong kinh doanh với chi phí ít nhất Đây là một vấn đềhết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố,nhiều mặt của một quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp như : lao động, tư liệu lao động…
Bất kỳ hành động nào của con người, hành độngnói chung và kinh doanh nói riêng đều có một mongmuốn đạt được kết quả hữu ích cụ thể, kết quả đạtđược trong kinh doanh, mà cụ thể là trong lĩnh vực sảnxuất, phân phối lưu thông mới chỉ là đáp ứng đượcphần nào yêu cầu của cá nhân và tiêu dùng xã hội,tuy nhiên kết quả đó được tạo ra ở mức nào, giá nào làvấn đề cần được xem xét vì nó phản ánh chất lượngcủa hoạt động tạo ra kết quả Mặt khác, nhu cầu tiêudùng của con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo
ra sản phẩm của họ Bởi vậy, con người quan tâm đếnviệc làm sao với kết quả hiện có lại làm ra được nhiềusản phẩm nhất Từ đó, nảy sinh vấn đề phải xem xétlại và lựa chọn cách nào để đạt hiệu quả lớn nhất.Chính vì thế, khi đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh,không chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá kết quả màcòn đánh giá chất lượng kinh doanh tạo ra hiệu quả đó
Như vậy, trước hiệu quả sản xuất kinh doanh phải làmột đại lượng so sánh : so sánh giữa đầu vào và đầu ra,
so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được Đứngtrên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí laođộng xã hội, tư liệu lao động và đối tượng lao động theomột tương quan cả về lượng và chất trong quá trình kinhdoanh để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng
Từ đó ta thấy bản chất của hiệu quả chính là hiệuquả của lao động xã hội, có được bằng cách so sánhgiữa lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được vớilượng hao phí lao động xã hội Do vậy thước đo hiệu quảlà sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩncủa hiệu quả là việc tối đa hóa kết quả hoặc tốithiểu hóa chi phí dựa trên điều kiện nguồn tài lực sẵn có
Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp phảiđược xem xét một cách toàn diện cả về mặt khônggian và thời gian trong một mối quan hệ với hiệu quả
Trang 6chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hiệu quả đóbao gồm cả hiệu quả kinh tế và xã hội.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạtđược trong từng thời kỳ không được làm giảm sút hiệuquả của các giai đoạn kinh doanh tiếp theo Điều đó đòihỏi bản thân doanh nghiệp không vì những lợi ích trướcmắt mà quên đi những lợi ích lâu dài Trong thực tế kinhdoanh, điều này rất dễ xảy ra khi con người khai thác sửdụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cả nguồn laođộng Không thể coi việc giảm chi để tăng thu là có hiệuquả được khi giảm một cách tùy tiện thiếu
Trang 7cân nhắc các chi phí cải tạo môi trường, thiên nhiên, đấtđai cũng không thể là hiệu quả lâu dài khi xóa bỏhợp đồng với khách hàng tín nhiệm để chạy theo một hợpđồng khác được nhiều lợi nhuận hơn nhưng không ổn định.
Về mặt không gian, hiệu quả kinh doanh chỉ có thểcoi là một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động củacác bộ phận, phân xưởng, các tổ mang lại hiệu quảkhông làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung Mỗi hiệu quảtính được từ một giải pháp kinh tế tổ chức kỹ thuật hayhoạt động nào đó trong từng đơn vị nội bộ hay toàn đơn
vị nếu không làm tổn hại đến kết quả chung (cả hiệntại và tương lai) thì mới được coi là hiệu quả, mới trởthành mục tiêu phấn đấu và tiêu chuẩn đánh giá hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh phải đượcthể hiện ở mối tương quan giữa chi và thu theo hướngtăng thu giảm chi, điều đó có nghĩa là giảm đến mứctối đa các chi phí mà thực chất là hao phí thời gian lao động(lao động sống và lao động vật hóa) để tạo ra một đơn
vị sản phẩm Đồng thời với khả năng sẵn có làm ranhiều sản phẩm có ích nhất
Biểu hiện tập trung nhất của hiệu quả là lợi nhuận.Có thể nói lợi nhuận là mục tiêu số một của doanhnghiệp kinh doanh, lợi nhuận chi phối toàn bộ quá trình sảnxuất kinh doanh, không có lợi nhuận thì không có kinhdoanh Để cho kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trên cơsở vật chất kỹ thuật, vật tư tiền vốn và lao động cầnphải xác định được phương hướng và biện pháp đầu tưcũng như các biện pháp sử dụng các điều kiện sẵncó Muốn vậy, cần thiết phải năm được các nguyênnhân ảnh hưởng mức độ và xu hướng ảnh hưởng củatừng nguyên nhân kết quả công việc của mình
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh:
Để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh cần sosánh đối chiếu các kết quả thu được với chi phí phải bỏ
ra để đạt được kết quả đó
Khi lập kế hoạch sản xuất hoặc phân tích hoạt độngkinh tế tại xí nghiệp, ta thường chia các loại chi phí sảnxuất ra làm 02 loại: chi phí thường xuyên và chi phí cơ bản
- Chi phí thường xuyên : là những chi phí chi ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Đặc điểm của chi phí này là phải thu về sau mỗi chu kỳ sản xuất
- Chi phí cơ bản : số vốn được vật hóa và tài sản cố định hoặc tài sản lưu động, tổng số vốn cơ bản hình
thành vốn sản xuất doanh nghiệp
Trang 8Việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinhdoanh và chi phí cho phép ta thấy được ý nghĩa của hàngloạt chỉ tiêu thể hiện hiệu quả của việc so sánh cácnguồn lực của doanh nghiệp.
1.1.2.1 Chỉ tiêu năng suất lao động :
Phản ánh hiệu quả của việc sử dụng lao động sốngtrong quá trình sản xuất, năng suất lao động (NSLĐ) cònđược gọi là mức sản xuất của lao động, là kết quả laođộng có ích của con người Tăng năng suất lao động làtăng số lượng sản phẩm
Trang 9trong một đơn vị thời gian hoặc tiết kiệm thời gian lao động cho một đơn vị sản phẩm.
1.1.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Thước đo hiệu quả làm việc của TSCĐ là khốilượng sản phẩm do chúng tạo ra trong năm
1.1.2.3 Hiệu quả sử dụng nguyên liệu và năng lượng:
Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm tiêu hao nguồnvật chất này là một yếu tố quan trọng để nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm thể hiện hiệu quảcủa việc sử dụng toàn bộ nguồn nguyên liệu
1.1.2.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh được phản ánh
qua giá thành:
Giá thành là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ hiệu quảsản xuất kinh doanh Vấn đề quan trọng là phải tính đượcgiá thành hợp lý (tính đúng, tính đủ các chi phí) Hiện nay
ở xí nghiệp giá thành có chiều hướng tăng nhanh khôngchỉ do hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn do giá vật
tư nguyên liệu tăng, tiền lương, BHXH, tăng lên
1.1.2.5 Chỉ tiêu về hiệu quả của việc sử dụng vốn
sản xuất :
- Vốn lưu động : trong sản xuất kinh doanh cần đặcbiệt quan tâm hơn nữa đến hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng (VLĐ) được vật hóa trong vật tư hàng hóa
- Vốn cố định (VCĐ) : mức hoàn VCĐ là sự tươngquan giữa giá trị sản lượng (hoặc sản lượng hiện vật) vớigiá trị bình quân TSCĐ dùng cho sản xuất CN Giá trị tuyệtđối của mức hoàn vốn rất khác nhau giữa các ngànhcông nghiệp, những doanh nghiệp có mức hoàn vốn thấpkhông phải là do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả màcòn do nhiều nguyên nhân khác như kỹ thuật, công nghệlạc hậu mức hoàn vốn nói lên quan hệ về lượng giữachỉ tiêu năng suất lao động (NSLĐ) và mức trang bị vốn
cho người lao động Mức hoàn vốn được nâng cao khiNSLĐ tăng hơn giá trị TSCĐ tính cho người lao động
- Doanh lợi : là chỉ tiêu phản ánh tương đối tổng hợpcủa hiệu quả sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được tínhbằng cách lấy tổng doanh thu – giá thành đầy đủ củasản phẩm đã tiêu thụ được
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh :
1.1.3.1 Bộ máy quản lý và hiệu lực của bộ máy
Trang 10tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, khoa học Đặc biệt phải phânrõ trách nhiệm và quyền hạn giữa các cấp quản lý, sựchồng chéo hoặc bỏ sót một mắt xích nào đó trongquản lý sẽ tất yếu dẫn đến trở ngại trong việc điềuhành doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc thực hiện đồng bộcác chức năng quản lý : hoạch định, tổ chức, thực hiệnvà kiểm tra, giám sát là nhân tố chính để đảm bảođạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của bộ máy quản lý ngày một quan trọng hơn : phải quyết định
phương án SXKD của doanh nghiệp sao cho phù hợp
Trang 11với cung, cầu của thị trường đồng thời đạt hiệu quả caonhất Một quyết định sai lầm của bộ máy quản lý trongsản xuất kinh doanh sẽ tạo hậu quả lâu dài cho doanhnghiệp, thậm chí có thể dẫn đến phá sản.
Hiệu quả SXKD có thể được nâng cao khi việc chấphành các mệnh lệnh quản lý ảnh hưởng đến hiệu quảsản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Tình hình vốn và sử dụng vốn :
Thực trạng tài chính của doanh nghiệp được biểu hiệnbằng tổng số vốn của doanh nghiệp thông qua sự đánhgiá tổng số vốn đầu năm và cuối năm (hoặc kỳ báocáo) Điều này biểu hiện qui mô hoạt động của doanhnghiệp Mức độ huy động vốn đảm bảo cho sản xuấtkinh doanh cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sảnxuất kinh doanh Trình độ sử dụng vốn là nhân tố chínhđể đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn, qua đóđánh giá hiệu quả SXKD
1.1.3.3 Tình hình cung cấp và sử dụng nguyên vật liệu :
Nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản của sản xuất,cung cấp nguyên vật liệu đầy đủ, đúng thời hạn vềcác mặt qui cách, chất lượng sẽ tiết kiệm được các chiphí sản xuất, góp phần làm tăng năng suất, hạ giáthành sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế
1.1.3.4 Trình độ công nghệ và các phương tiện sản
xuất :
Trong quá trình sản xuất và tổ chức quản lý córất nhiều yếu tố tác động đến quá trình sản xuất, mỗiyếu tố có ảnh hưởng khác nhau, dưới một góc độ khácnhau Nếu không được chú ý xem xét giải quyết mộtcách đồng bộ để phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ làmảnh hưởng không ít tới sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Công nghệ – thiết bị là yếu tố cực kỳ quan trọngtrong suốt quá trình sản xuất Nó phản ánh trình độ,khả năng sản xuất của doanh nghiệp trước đòi hỏingày càng cao của thị trường và là yếu tố quyết địnhsự tồn tại của sản phẩm trên thị trường, vì thiết bị vàcông nghệ là yếu tố làm tăng năng suất, tăng tínhhoàn thiện của sản phẩm Đầu tư thích đáng và khôngngừng khai thác khả năng của thiết bị công nghệ làphương tiện để đạt được hiệu quả của sản xuất kinhdoanh theo phương châm : hiệu quả là mục đích, thiết bị –công nghệ là phương tiện
1.1.3.5 Lao động và bố trí lao động:
Để tiến hành sản xuất phải có 3 yếu tố cơ bản làsức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trongđó sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, có ý nghĩa
Trang 12quyết định tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh.
1.2 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CẢNG
BIỂN:
1.2.1 Những đặc tính cơ bản của hoạt động sản xuất
kinh doanh tại cảng :
Đặc tính chung của công tác cảng biển là đặc tínhsản xuất của nó mà chúng ta coi ngang hàng với đặctính sản xuất của các lĩnh vực khác trong nền kinh tếquốc dân
Bên cạnh đặc tính chung này, công tác của cảngcòn một số đặc tính riêng biệt cho phép ta phân biệt nóvới sản xuất của các ngành khác
Trang 13Đặc tính riêng biệt hàng đầu là hoạt động sản xuấtcủa cảng mang tính chất phục vụ, tức là sản xuất ởdạng phi vật chất Từ đây đưa đến kết luận là công tácphục vụ ở cảng không thể là thứ sản xuất để dự trữ,và cũng từ đây đưa đến một kết luận rõ ràng là cảngbiển phải có một lượng dự trữ xác định tiềm năng kỹthuật như cầu tàu, thiết bị xếp dỡ, đôïi tàu thủy, cáckho hàng, bãi chứa hàng,… cũng như tiềm lực về conngười nếu như xét đến thực tế là công tác của cảngphụ thuộc vào số tàu đến và khối lượng hàng hóa thayđổi theo thời gian.
Đặc tính riêng biệt thứ hai của sản xuất phục vụcảng là tính thay đổi lớn của những điều kiện công tácmà nó được biểu hiện bằng sự thay đổi vị trí làm việccủa những người trực tiếp làm công tác phục vụ ởcảng, đó là những công nhân cùng thiết bị xếp dỡvận chuyển ở các cầu tàu, bến bãi khác nhau là khácnhau thậm chí trong cùng một ca sản xuất Đó là tính đadạng của hàng hóa, là đối tượng vận chuyển, xếp dỡcủa cảng Khi nói đến tính chất thay đổi điều kiện làmviệc của công nhân cảng chúng ta không thể bỏ quatác động của các điều kiện thời tiết, khí hậu lên cáccông việc này Tác động đó đến công việc ở cảng làrất lớn và không thể nào so sánh được, chẳng hạn so vớicông việc của người làm việc trong các nhà máy côngnghiệp
Đặc tính tiếp theo trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa cảng biển là qúa trình sản xuất không nhịp nhàng,hàng hóa đưa đến cảng không đồng đều và dâychuyền sản xuất phục vụ cảng phải qua nhiều khâu
Quá trình không nhịp nhàng của các công việc ởcảng trong dây chuyền vận tải gây nên do việc hànghóa được cung cấp cho vận chuyển theo chu kỳ nhưngkhông liên tục, cũng như do tính không nhịp nhàng củacác phương tiện vận tải đến cảng như tàu, sà lan, ôtô,… Bên cạnh những nguyên nhân này gây nên tínhkhông nhịp nhàng trong sản xuất của cảng cũng là điềukiện khí hậu như mưa bão, sương mù, băng giá,… Sự hợptác không chặt chẽ của các cơ quan liên quan với nhaucũng như cơ cấu hàng hóa đưa vào xếp dỡ không giốngnhau, tổ chức lao động bất hợp lý ở cảng cũng lànguyên nhân quan trọng làm cho sản xuất ở cảng mấttính nhịp nhàng
Đặc tính tiêu biểu thứ tư trong sản xuất ở cảng biểnlà tính mùa vụ, gây nên sự thay đổi cường độ của khốilượng hàng hóa trong những thời kỳ khác nhau của năm.Những nhân tố quan trọng có tính quyết định ảnh hưởng
Trang 14tới tính thời vụ lên hoạt động của các cảng có thể kể
+ Đặc tính tiêu dùng có tính chất thời vụ của một số loại hàng thực phẩm
+ Những điều kiện khí hậu thủy văn của từng cảng.+ Những điều kiện khí hậu thủy văn trên các tuyến đường vận chuyển và ở các cảng gửi hàng đi
+ Các tập quán thương mại quốc tế
+ Tình trạng kinh tế chung và tệ đầu cơ trong các thị
trường tư bản chủ nghĩa
Trang 15Nghiên cứu đặc điểm mùa vụ của sản xuất phục vụcảng biển người ta chia tính mùa vụ ra làm 2 loại đó làtính mùa vụ thiên nhiên và tính mùa vụ thương mại Tínhmùa vụ thiên nhiên chịu ảnh hưởng của các yếu tố khíhậu và mùa thu hoạch nông nghiệp Còn tính mùa vụthương mại chịu ảnh hưởng của các tập quán thương mạiquốc tế và khu vực.
Đặc tính tiêu biểu cuối cùng của sản xuất kinhdoanh ở cảng biển là tính chất hợp tác giữa các đơn vị.Điều này xuất phát từ sự phân chia các công việc tứclà việc của một hoặc vài chục đơn vị trong một khu vựcđồng thời thực hiện các công việc tạo nên một quátrình phục vụ ở cảng biển Sự hợp tác trong phục vụ sảnxuất ở cảng là việc đồng thời trên cùng một nơithông qua các công việc khác nhau của các đơn vị khácnhau tạo nên cả một quá trình sản xuất phục vụ cảng
Nghiên cứu các đặc điểm của hoạt động sản xuấtkinh doanh phục vụ ở cảng biển chính là nghiên cứu cácyếu tố ảnh hưởng đến sản xuất phục vụ ơ û cảng biển,điều này tạo điều kiện cho chúng ta tổ chức quá trìnhsản xuất ở cảng đạt hiệu quả kinh tế cao
1.2.2 Quản lý và điều hành cảng:
Từ tính chất và đặc điểm riêng của hoạt động sảnxuất kinh doanh của cảng biển ta nhận thấy:
Quản lý và điều hành cảng cũng có nghĩa là lãnhđạo cảng và có lẽ không ở đâu phụ thuộc nhiều vào vaitrò người lãnh đạo như là ở cảng biển
Người quản lý cảng phải năng động trong việc thayđổi các áp lực và nhanh chóng nắm bắt các cơ hội
Quản lý và điều hành có các chức năng Trong hệthống quản lý kinh doanh hiện đại có 4 chức năng chủyếu mà tất cả các nhà quản lý phải thực hiện trongnhiệm vụ của mình đó là: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạovà điều hành, ngoài ra có thể kể thêm chức năng làthông tin liên lạc Chức năng cuối cùng này chỉ cầnthiết trong các hoạt động dịch vụ để có thể trao đổi được
ý kiến nắm bắt được nhu cầu và khả năng của kháchhàng
Nói cách khác quản lý là một cái bàn là cáikhung phía trên của nó được liên kết bởi thông tin liênlạc và chất lượng, bốn chân của nó là lãnh đạo, tổchức, kế hoạch và điều hành
1.2.2.1 Kế hoạch phát triển tổng thể cảng:
Trước đây cảng phát triển chỉ để đáp ứng nhu cầuvề thương mại, ngày nay cảng phải được hoạch định để
Trang 16định liệu trước cho các nhu cầu của tương lai Vấn đềtrước hết phải xem xét là : Kinh tế, hiệu quả, năng động.
Kế hoạch phát triển cảng thường bắt đầu từ khimà có sự tắc nghẽn của cảng, từ việc thiếu cácphương tiện thiết bị, việc thay đổi dự tính trong vận tảibiển hoặc trong công nghệ của cảng và bất cứ cái gìkhác mà tác động đến sự thay đổi việc khai thác hayđầu tư của cảng Mục tiêu quan trọng là đánh giá đượcsự khai thác các thiết bị, phương tiện, cho phép đánh giáđược hiệu quả của việc thay đổi phương pháp khai tháccủa một thiết bị, phương tiện
Trang 17Trong công tác làm kế hoạch luôn luôn phải đánhgiá hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh doanhcủa cảng có nghĩa là khả năng thực hiện việc kinhdoanh của mình mà không phí thời gian, năng lực và tiềncủa.
Cảng có thể bổ sung một chế độ điều khiển vềgiá cả, hiệu quả của nó là tiết kiệm được chi phí, giatăng lợi nhuận hoặc cung cấp vốn để đầu tư vào nhữngđề án mới Hiệu quả được phát triển, nó ảnh hưởng trựctiếp đến khách hàng, ví dụ như rút ngắn thời gian quayvòng của tàu và như vậy sẽ có lợi thế về cạnh tranh
Cần phải duy trì sự phát triển hiệu quả Trong khaithác cảng muốn làm tốt vấn đề này phải có sự giámsát chặt chẽ
Có 3 vấn đề cảng nên làm để gia tăng hiệu quảsản xuất qua việc điều tra, giám sát, báo cáo và phântích :
- Tỷ lệ và thời gian xếp dỡ
- Thời gian quay vòng của tàu
- Thời gian chờ đợi
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của cảng:
Tổ chức của bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thểđược định nghĩa như là cơ cấu tập hợp của các nhómngười và mỗi nhóm nên làm gì để giúp tổ chức đạtđược những mục tiêu đã định bởi các cảng khác nhauvề kiểu loại, sự chuyên môn hóa và đơn vị chủ quản dovậy không có một mô hình tổ chức nào cho tất cả cáccảng, có một số xem xét chung sau đây :
- Tất cả các tổ chức cùng cố gắng để giành được
những mục tiêu chắc chắn
- Cơ cấu hình thức được chỉ ra bằng sơ đồ tổ chức
- Cơ cấu tổ chức không nên coi là cố định, không thay đổi
- Các chính sách, luật lệ, nguyên tắc của cảng thì các công nhân nên biết
- Trách nhiệm của mỗi người lao động phải được xác định rõ ràng, việc ra quyết định phải thống nhất từ trên xuống của tổ chức
- Trong hầu hết các tổ chức Thương mại có 4 nhóm sau: Ban giám đốc, các trưởng phòng, những người giám sát và lực lượng lao động
- Tổ chức bên trong cảng cần phải có kế hoạch rõ
ràng và tổ chức có hiệu quả nhằm đạt được mục
tiêu là giải phóng tàu nhanh, an toàn
1.2.2.3 Quản lý và điều hành cảng:
Trang 18Việc quản lý cảng phụ thuộc vào năng lực, vàotài tổ chức Việc quản lý cảng có 3 mức cơ bản như sau:
- Mức 1 : là người quản lý trực tiếp hoạt động sản
xuất của nhân viên
- Mức 2 : là người quản lý hoạt động chính của
những người quản lý khác và thỉnh thoảng mới trực tiếp tới sản xuất của nhân viên
- Mức 3 : quản lý điều hành phân chia thành
từng nhóm nhỏ có trách nhiệm với toàn bộ việc quản lý và tổ chức của cảng
Bước đầu tiên trong kế hoạch là phải thiết lập cácmục tiêu cho cảng và tiến trình thực hiện chúng Mụctiêu ban đầu của cảng biển là nhận hàng lưu giữ vàgiao hàng với phương pháp có hiệu quả và kinh tế Dovậy mục đích của các nhà
Trang 19quản lý là thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình nhưthế nào để giải quyết tốt những vấn đề trên.
Việc quản lý phải được dự kiến phát triển tổ chứcnhằm các khả năng thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đểtổ chức thực hiện được các nhân viên của mình cầnphải làm các vấn đề cần thiết sau đây :
- Lập ra các bộ phận cho mỗi phần việc của cảng
- Đánh giá kỹ năng và trách nhiệm được giao cho các bộ phận đó
- Thiết lập hệ thống thông tin liên lạc có hiệu quả giữa các bộ phận
- Phân rõ quyền lực và mức độ ra quyết định
1.2.2.4 Kiểm tra và thông tin :
Phải xác định được trách nhiệm từng bộ phận và thuthập thông tin có chọn lọc, phân tích điểm mạnh, điểmyếu, cơ hội và nguy cơ Phân tích những vấn đề này quahoàn cảnh hiện tại và tương lai, sử dụng định tính hơn làxem xét định lượng
Cảng có xu hướng nhìn nhận chính mình như là ngườitham dự trong việc kinh doanh vận chuyển và tự kiểm tra.Mức độ ảnh hưởng đối với trách nhiệm kinh doanhtrong tương lai của mình trên cơ sở nguyên tắc Cảng nênbắt đầu bằng việc phát triển một đội ngũ tiếp cận vớiviệc phân tích và tất cả các nhà quản lý giàu kinhnghiệm có thể cung cấp đầu vào Mục đích là để kiểmtra vai trò, vị trí của cảng trong khu vực, xác định môitrường đã thay đổi như thế nào Việc phân tích bao gồmcả đánh giá bên ngoài lẫn bên trong
Các thông tin từ việc đánh giá nội bộ được sử dụng,nhận ra được điểm mạnh và điểm yếu của cảng và quađó xác định được vị trí hiện tại của mình
Các thông tin phát sinh từ đánh giá bên ngoài đượcsử dụng để nhận ra được vận hội và những nguy cơ Mụcđích là để xác định những vùng rộng lớn mà cảng nên(hoặc không nên) phát triển các chiến lược
Quản lý cảng ngày nay yêu cầu cao về kỹ năng vàkiến thức, cơ sở của vận tải hàng hải, kinh tế vàthương mại là toàn bộ giá trị thông qua kiến thức vàhoạt động Ngày nay người quản lý còn phải có thêmchức năng về công nghệ thông tin, Marketing và quản lýcác dịch vụ
Hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là vấn đề sốngcòn của doanh nghiệp mà còn là động cơ thúc đẩydoanh nghiệp Để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệuquả buộc doanh nghiệp phải tổ chức quản lý, điều hành
Trang 20hợp lý các yếu tố đầu vào sao cho kết quả đầu ra cólợi ích kinh tế lớn nhất mà chi phí lại thấp nhất Doanhnghiệp có hiệu quả cao sẽ không những thúc đẩy doanhnghiệp phát triển mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển.Các nhà doanh nghiệp không những quan tâm rất nhiềuđến hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn dùng nólàm thước đo trình độ quản lý, trình độ vận hành, trìnhđộ sử dụng các năng lực sẵn có nhưng ngày càng khanhiếm của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nóichung.
Trang 21Chương 2 :
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TÂN CẢNG SÀI GÒN VÀ SỰ CẠNH TRANH CỦA CÁC CẢNG TRONG KHU VỰC
2.1- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY TÂN CẢNG SÀI GÒN :
2.1.1- Giới thiệu về Tân cảng Sài gòn :
Tân cảng có vị trí 106 độ 30 phút đến 106 độ 44phút kinh độ Đông và 10 độ 47 phút đến 10 độ 48 phút
vĩ độ Bắc, nằm cạnh khu vực chân cầu Sài gòn đượckhởi công xây dựng từ năm 1963 và hoàn tất vàonăm 1968 dưới chế độ Mỹ - ngụy
Tân cảng Sài gòn nằm ngay cửa ngõ Đông Bắcthành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm thương mại lớncủa cả nước, tiếp giáp nhiều tuyến giao thông quantrọng, ít bị ảnh hưởng bởi mật độ giao thông nội thành,là một đầu mối lý tưởng cho một doanh nghiệp cảngbiển
Tân cảng bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1969
do quân đội Mỹ – ngụy quản lý, hoạt động của Tâncảng trong giai đoạn 1969 – 1975 là phục vụ cho mục đíchchiến tranh của Mỹ – ngụy
Từ sau ngày giải phóng năm 1975 đến 1988, Tâncảng được giao cho Bộ Quốc phòng quản lý với mục đíchphục vụ cho nhiệm vụ quân sự Thời gian này do ảnhhưởng nặng nề của chế độ bao cấp, do đó cảng chỉhoạt động được từ 10% đến 15% công suất, vừa lãng phívừa không có kinh phí để bảo dưỡng, duy tu nâng cấpcảng, do đó cảng đã xuống cấp nhanh chóng và trầmtrọng
Trước sự đổi mới kinh tế của đất nước, nhận rõtầm quan trọng của lưu thông hàng hóa, ngày 15 tháng
3 năm 1989, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 41/QĐ-QPcho phép Quân chủng Hải quân quản lý, sử dụng vàkhai thác Tân cảng Tiếp theo đó, ngày 29 tháng 3 năm
1989 Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định 77/CT về việcquản lý, sử dụng và khai thác Tân cảng thành phố HồChí Minh
Kể từ đó Tân cảng đi vào hoạt động như một thươngcảng với hai chức năng chính là vận tải phục vụ Quốcphòng và tranh thủ khả năng nhàn rỗi của cầu bến vàkho bãi để khai thác kinh tế phục vụ Quốc phòng
Ngày 1 tháng 6 năm 1991, Bộ Giao thông Vận tải raquyết định số 1031/QĐ-VT cho phép tàu trong và ngoàinước ra vào Tân cảng để xếp dỡ hàng hóa
Trang 22Và cuối cùng ngày 13 tháng 7 năm 1993 Thủ trướngChính phủ đã ra quyết định số 352/TTg cho phép thành lậpCông ty Tân cảng Sài gòn trực thuộc Bộ Quốc phònghoạt động theo nghị định số 388/HĐBT là xếp dỡ hànghóa, dịch vụ cảng biển, kho bãi.
Như vậy, ngoài nhiệm vụ Quốc phòng, Tân cảng Sàigòn đã tận dụng khả năng dư thừa cầu cảng, kho bãikhai thác kinh tế như một doanh nghiệp Nhà nước
Trang 23Nhờ khai thác có hiệu quả, Tân cảng đã có điềukiện đầu tư nâng cấp cầu tàu, bãi chứa, mua sắmphương tiện thiết bị chuyên dùng, mở rộng quy mô sảnxuất và các loại hình dịch vụ Đến nay, công ty Tân cảngđã triển khai hoạt động ở cả 3 khu vực là : Tân cảng, Cátlái và ICD Sóng thần.
2.1.2- Sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật :
Kể từ sau khi tiếp quản Tân cảng đến khi có quyếtđịnh khai thác thương mại, Tân cảng có các cơ sở vậtchất chủ yếu sau:
- Tổng diện tích Cảng: 400.000 m2
- Tổng chiều dài hệ thống cầu cảng: 1.263 m
- Tổng hệ thống 8 kho kín với diện tích: 16.800 m2
- Chiều dài cầu cảng: 535 m
- Tổng diện tích bãi chứa hàng: 68.000 m2
- Tổng số vốn cố định: 41.390 triệu đồng
Sau một thời gian đi vào hoạt động khai thác dịch vụcảng, bằng các nguồn vốn tự có huy động được, trongnhững năm qua cầu cảng, bến bãi đã được đầu tư hàngtrăm tỷ đồng để nâng cấp và hoàn thiện quy trình côngnghệ xếp dỡ container, trang bị các phương tiện xếp dỡhiện đại Đến nay Công ty Tân cảng Sài gòn đã đượctrang bị khá đầy đủ và hiện đại để đảm bảo khả năngkhai thác các dịch vụ cảng biển một cách hiệu quảnhất
2.1.2.1. Hệ thống cầu cảng:
Cầu cảng có tổng chiều dài là 1.263m với diện tíchmặt cầu là 23.700m2 với thiết kế dầm trụ thép tròn,chân trụ được đóng sâu từ khoảng 45m đến 50m, đệm vakết cấu trụ thép, va mềm đàn hồi và đây cũng là dạngcầu được xây dựng bằng phương pháp tiên tiến trên thếgiới.Tổng chiều dài cầu cảng làm kinh tế là 704m vớidiện tích mặt cầu là 17.448m2
2.1.2.2. Hệ thống kho bãi:
Công ty Tân cảng hiện nay có 14 kho có mái che vớidiện tích 21.580 mét vuông với tổng trị giá 8.792.615.563đồng, nằm ngay trên cầu cảng rất thuận lợi cho việcchứa các loại hàng hóa khác nhau kể cả hàng lạnh
Diện tích toàn cảng là 400.000m2, trong đó bãi chứacontainer được cải tại và nâng cấp hoàn chỉnh rộng trên200.000m2
2.1.2.3. Hệ thống phương tiện xếp dỡ:
Những năm đầu khi bốc xếp hàng container, Tân cảngchủ yếu hợp đồng thuê các đơn vị bên ngoài để phục vụcông tác xếp dỡ
Trang 24Trong những năm qua, Tân cảng đã tăng cường đầu tưcông nghệ có chiều sâu và hiện nay Tân cảng đã cócác phương tiện xếp dỡ thuộc loại hiện đại trong khu vực:
Cẩu khung : 9 chiếc hiệu Mijack, sức nâng 42 tấn
Xe nâng : 15 chiếc các loại, sức nâng đến 42 tấn
Cẩu nổi : 1 chiếc, sức nâng 100 tấn
Cẩu bờ (mới trang bị : 6 cẩu cố định, sức nâng 40 tấn, tầm với 29m
năm 2001) 2 cẩu giàn di động sức nâng 45 tấn
Trang 25Xe vận chuyển : 60 đầu kéo và 84 rơ moóc
2.1.2.4. Phương tiện lai dắt:
Nhằm phục vụ cho công tác Quốc phòng và kinh tếtại doanh nghiệp, Công ty Tân cảng Sài gòn đã mạnh dạnđầu tư phương tiện lai dắt tại Tân cảng Trước mắt phụcvụ cho yêu cầu quân sự và lai dắt tàu ra vào Tân cảng,Cát lái, về lâu dài sẽ mở rộng địa bàn hoạt động ramột số cảng trong khu vực
Bảng 2.1 - Thông số đặc trưng kỹ thuật của đội tàu lai :
TC 01
TC 02
TC 04
TC 06
TC 08
TC 10
TC 12
* XN Cát lái : Xí nghiệp cảng Cát lái thuộc Tân cảng
Sài gòn nằm ở hữu ngạn sông Đồng nai, cách nhã bađèn đỏ 2 hải lý, cạnh khu vực neo Nhà bè, ở cuốiđường liên tỉnh lộ 25, phường Cát lái, quận 2, TP Hồ ChíMinh, cách xa lộ Hà nội 7 km
Nhiều hãng tàu rất quan tâm đến Cát lái và đãcó những thương thảo với Tân cảng về việc đưa tàucontainer vào Cát lái khi đường Liên tỉnh lộ 25 hoànthành Khi Cảng Cát lái đưa vào khai thác tàu container thìsẽ giảm áp lực đáng kể cho Tân cảng và đây là mụctiêu chiến lược của Tân cảng trong tương lai
* ICD Sóng thần : Là địa điểm tiến hành các thủ tục
xuất, nhập khẩu như là một cửa khẩu thuộc huyệnThuận an, Tỉnh Bình dương, cách Tân cảng 18 km nếu đitheo hướng cầu Bình triệu và 24 km nếu đi theo hướng cầuSài gòn Diện tích 50 héc ta, đã xây dựng 6.000 m2 khoCFS và đang tiến hành xây dựng 6.000 m2 kho bách hóa.ICD Sóng thần nằm ở gần các khu công nghiệp Bắc Thủđức, khu công nghiệp Sóng thần, Singapore, khu chế xuất
Trang 26Linh xuân… nên rất thuận lợi trong việc thu hút hàng hoáxuất nhập khẩu Việc đưa ICD Sóng thần vào khai tháctạo tiềm lực rất lớn cho công ty Tân cảng trong thời giantới.
Trang 272.1.3- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ khi thành lập đến nay :
2.1.3.1. Sản lượng thông qua:
Từ năm 1989 đến nay, đặc biệt là kể từ khi thành lập Công ty Tân cảng Sài gòn đến nay, sản lượng hàng qua Tân cảng liên tục tăng lên:
Bảng 2.2 - Tổng hợp sản lượng hàng qua cảng:
Nă
m
Tấn thông
qua
Teus thông qua
Tăng tuyệt Tăng tương Tấn Teus Tấn Teus
- Mức tăng trưởng bình quân tính theo teus là: 41.615 teus
- Mức tăng trưởng tương đối bình quân hàng năm tính theo tấn là: 41%
- Mức tăng trưởng tương đối bình quân tính theo teus là: 26%
Tuy nhiên những con số bình quân trên không có ýnghĩa gì khi ta thấy tỉ lệ tăng sản lượng container của Tâncảng liên tục sụt giảm từ 95% năm 1993 xuống dưới 1con số và đã âm vào năm 2000
Như vậy về sản lượng qua Tân cảng đã có sự thayđổi và hiện nay tình hình cạnh tranh của các cảng trongkhu vực đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết vì côngsuất hoạt động của các cảng vẫn đang còn thấp Chính
vì vậy mà Tân cảng cần phải có chính sách và công cụphù hợp trong công tác hoạch định chiến lược phát triểntrong những năm sau này cũng như trong quản lý và điềuhành khai thác cảng
Trang 282.1.3.2. Hiệu quả kinh tế:
Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanhcủa Công ty Tân cảng Sài gòn qua 10 năm (Bảng 2.3) tacó thể đánh giá phần nào hiệu quả hoạt động kinh tếcủa Tân cảng trong những năm qua
Trang 29Ta nhận thấy về mức độ tăng trưởng doanh thu củacảng hàng năm khá lớn, tỷ suất lợi nhuận trên doanhthu tăng liên tục từ 30,82% năm 1994 lên đến 50,85% vàonăm 1998 Đặc biệt so với sản lượng thì tỷ lệ tăng tươngđối của doanh thu cao hơn mức tăng tương đối của sảnlượng Tuy nhiên, các kết quả trên đều giảm dần vàocuối năm 1998 đến nay 6 tháng đầu năm 2001 sảnlượng tuy tăng 17,8% nhưng doanh thu lại giảm 0.3% so vớicùng kỳ năm ngoái Điều này thể hiện rõ Tân cảngđang đi vào giai đoạn cạnh tranh và và bước đầu gặpphải những khó khăn Chính vì vậy mà Tân cảng cầnphải có những biện pháp để duy trì sản lượng, doanhthu, sự ổn định và không ngừng nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của mình.
Bảng 2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh 1991 2001:
Lợi nhuận
Triệu đồng Tỉ lệ tăng Triệu đồng
Tỉ lệ trên D.Thu
thán 2.537.415 169.999
2.2- TÌNH HÌNH CẠNH TRANH CỦA CÁC CẢNG
CONTAINER KHU VỰC THÀNH PHỐ CHÍ MINH :
2.2.1- Sơ lược hệ thống cảng container khu vực thành phố Hồ Chí Minh :
Hiện nay, hệ thống cảng biển của Việt nam nói chungvà của khu vực TP Hồ Chí Minh nói riêng chưa được quyhoạch và đầu tư đúng mức Các cảng container của tahiện nay hầu hết đều là các cảng bách hóa được cảitạo và nâng cấp từng phần để phục vụ xếp dỡ hàng
Trang 30hóa vận chuyển bằng container, nên về tổng thể mangtính chắp vá Hơn nữa cách quản lý và đầu tư của cáccảng rất khác nhau làm cho nguồn vốn đầu tư của toànngành bị phân tán Chúng ta chưa có một cảng containernào hoàn chỉnh về quy hoạch, công nghệ lẫn cơ cấu tổchức quản lý trừ cảng container quốc tế (VICT) là cảngliên doanh với nước ngoài.
Trang 31Đứng trước tình hình đó, các cảng đã khẩn trương tìmgiải pháp khắc phục và định hướng lại sản xuất nhằmđáp ứng yêu cầu xếp dỡ hàng hóa xuất nhập khẩuvận chuyển bằng container Một trong những đơn vị triểnkhai có hiệu quả nhất là Tân cảng Sài gòn – cảng cósản lượng container thông qua lớn nhất nước trong nhữngnăm qua.
Với tiềm năng cũng như sức hút to lớn của Tâncảng, hàng hóa vận chuyển bằng container đã tập trungtại đây tạo nên sự mất cân đối về lưu lượng hàng hóathông qua giữa các cảng trong khu vực Theo quy luật thịtrường, nhiều cảng khác đã và đang tạo ra sự cạnh tranhvà thực tế Tân cảng đã đứng trước áp lực đó màbằng chứng là việc cảng container quốc tế đã đưa vàohoạt động đang từng bước thu hút nguồn hàng, hệthống vận tải chuyển tiếp nội địa bằng xà lan đếncảng khô ICD Phước long của Gemadept ngày càng hoànthiện và phát triển mở rộng, buộc Tân cảng phải cócái nhìn tổng quan trong định hướng trước mắt cũng nhưlâu dài để ổn định và phát triển sản xuất
2.2.1.1. ICD Phước long :
ICD (Inland Clearance Depot) là địa điểm tiến hành cácthủ tục xuất, nhập khẩu như là một cửa khẩu (cảng,sân bay) nhưng nằm sâu trong nội địa Mục tiêu là đưa địađiểm giao nhận hàng và thủ tục hải quan về càng gầnkhách hàng càng tốt
ICD Phước long do công ty cổ phần đại lý liên hiệpvận chuyển Gemadept thành lập năm 1996 Là đơn vịhàng đầu của ngành vận tải biển Việt nam, Gemadeptcó nhiều thuận lợi khi triển khai các phương thức vận tảivà dịch vụ Với cơ sở vật chất kỹ thuật không ngừngđược đầu tư phát triển, đội ngũ cán bộ dày dạn kinhnghiệm, hoạt động khai thác vận tải container củaGemadept đã và đang thu hút được sự ủng hộ của kháchhàng Bằng việc cung cấp hầu hết các dịch vụ trọn gói,Gemadept đã tạo được lợi thế cạnh tranh lớn nhất hiệnnay mà các hãng vận tải nước ngoài khác không có
Cơ sở vật chất kỹ thuật của ICD Phước long
- Cầu cảng : Gemadept thuê cầu cảng để xếp dỡcontainer từ xà lan lên bờ hoặc ngược lại, tổng chiềudài cầu là 298m, có thể cập một lúc 4 xà lan loại
1000 tấn, mỗi xà lan chở từ 30-36 teus
- Diện tích bãi : Khu hàng nhập diện tích 38.000 m2, chophép xếp tối đa 2.000 teus Khu bãi container rỗng40.000 m2, có sức chứa 3.5000 teus Khu hàng xuấtdùng để đóng hàng và chứa container hàng xuất
Trang 32nằm gần khu vực cầu cảng ICD, có diện tích khoảng20.000 m2.
- Trang thiết bị : Thiết bị xếp dỡ container từ xà lan lênbờ và ngược lại là cần trục nổi, gồm 4 chiếc, có sứcnâng 40 tấn, có thể cùng lúc tiến hành 4 máng xếpdỡ Hiện tại Gemadept đã trang bị 5 cẩu nổi để xếpdỡ hàng từ tàu biển xuống xà lan và ngược lại Đảmbảo cùng lúc có thể xếp dỡ cho 2 tàu, kể cả nhữngtàu không có cẩu (các tàu của Gemadept neo đậu tạiphao gần khu chế xuất Tân thuận trên sông Sàigòn) Ngoài ra Gemadept còn trang bị đủ xe chuyêndụng, gần 100 xe đầu kéo và rơ-moóc vận chuyểncontainer để làm
Trang 33hàng trên bãi và thực hiện dịch vụ vận chuyển
container tới tận kho chủ hàng theo phương thức “tới cửa”
Năng lực của ICD Phước long : Với khả năng thông quavào khoảng 250.000 teus/năm, ICD Phước long đã thu hútmột lượng container đáng kể trong tổng số containerthông qua khu vực TP Hồ Chí Minh
Tổ chức sản xuất :
- Toàn bộ container chở trên tàu của Gemadept sẽ đượcchuyển tải tại phao về ICD Phước long và ngược lại
- Container chở trên tàu của các hãng khác sẽ xếp dỡtại Tân cảng Số container của Gemadept gửi trênnhững tàu này sẽ được chuyển thẳng từ cầu tàuTân cảng đến ICD hoặc ngược lại bằng đường bộ
Với phương thức kinh doanh như vậy, Gemadept đã chủđộng hoàn toàn đối với lượng hàng hóa vận chuyểnbằng container mà họ khai thác được mà không phụthuộc vào bất kỳ cảng nào Họ đã thu được toàn bộ tiềncước bao gồm cả phần cước vận chuyển đường biển vàphần cước xếp dỡ
Bên cạnh đó Gemadept đầu tư một số lượng rất lớnphương tiện chuyên chở container đường bộ, tiến hànhdịch vụ trọn gói về giao nhận vận tải nội địa từ cảng ICDPhước long tới kho chủ hàng và ngược lại Vì thế các chủhàng có thể ủy thác cho Gemadept tiến hành trọn khâudịch vụ giao nhận vận tải bao gồm : Vận tải đường bộtừ kho đến cảng, tiến hành các thủ tục hải quan vềxuất khẩu, vận chuyển đường biển ra nước ngoài
Ưu thế hơn hẳn so với các đơn vị giao nhận vận tảikhác là toàn bộ các khâu chỉ do một mình Gemadeptthực hiện trong khi các đơn vị khác phải chắp nối từnhiều cơ quan như cảng, hãng tàu, người vận tải đườngbộ… và thường xảy ra trục trặc Bởi vậy, ICD Phước longđã thực sự thu hút một lượng container đáng kể Sản lượngnăm 2000 bằng 60% lượng container thông qua Tân cảng,bằng 30% lượng container thông qua của các cảng khu vực
TP Hồ Chí Minh
2.2.1.2. Cảng container quốc tế (VICT)
Vietnam International Container Terminals (VICT) do Công tyliên doanh phát triển tiếp vận số 1 là chủ đầu tư VICTđược thiết kế theo tiêu chuẩn của một cảng containerhiện đại Cơ sở vật chất và quy trình hoạt động của cảngVICT được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi để việcbốc xếp, giao nhận container được diễn ra nhanh nhất vàtạo sự thông suốt trong lưu thông Cảng sẽ có khả năngthông qua tối đa hàng năm là 500.000 teus sau khi hoànthành đầu tư xây dựng giai đoạn 2 Đây là cảng container
Trang 34đầu tiên ở Việt nam sử dụng hệ thống vi tính điềuhành cảng nhằm năng cao năng suất và hiệu quả khaithác.
Trang 35Bảng 2.4 - Cơ sở vật chất kỹ thuật của cảng VICT :
4 Cẩu bờ chuyên dụng chiếc 2 6
5 Cẩu di động ( cẩu chiếc 4 16
6 Xe nâng chuyên dụng chiếc 3 7
7 Xe xúc (xe nâng nhỏ) chiếc 8 20
9 Số ổ điện container te 72 14
10 Năng lực thông qua teu/nă 200.000 500.000
Những khó khăn và thuận lợi của cảng VICT :
Thuận lợi :
- Đây là cảng được đầu tư đồng bộ, thiết bị và hệthống quản lý hiện đại, bãi chứa liên hoàn, đượctrang bị cẩu bờ có thể đảm bảo giải phóng tàunhanh, ngay cả với các tàu không có cần cẩu
- Các hãng tàu nước ngoài đã lần lượt đưa tàu vào VICTđể xếp dỡ hàng do một số hãng có cổ phần trongcảng và do chính sách khuyến mãi của cảng VICT
- Hệ thống giao thông của khu vực đã được cải thiệnmột bước, đặc biệt là việc triển khai đường giao thôngliên cảng VICT, Bến nghé, Tân thuận và việc xa lộ NamNhà bè-Bắc Bình chánh đã đưa vào sử dụng
Khó khăn :
- Khó khăn lớn nhất của cảng VICT là vấn đề kháchhàng Hiện nay, khách hàng đang có thuận lợi khi tiếnhành các thủ tục giao nhận tại Tân cảng và ICDPhước long Thực tế lượng hàng hóa vận chuyển bằngcontainer tập trung phần nhiều ở nội thành TP Hồ ChíMinh, Đồng nai, Bình dương Hàng hóa của khu vực Miềntây chủ yếu là lương thực, phân bón thường vậnchuyển bằng xà lan Bởi vậy VICT vẫn chưa thực sự hấpdẫn đối với khách hàng do giao thông và chi phí vậnchuyển cao
- Hiện tại hầu hết các hãng vận tải container lớn đềuđưa tàu vào xếp dỡ tại Tân cảng Việc gửi containersang tàu của nhau tạo điều kiện rất thuận lợi cho việcluân chuyển container Do vậy nếu các hãng tàu khaithác ở các cảng có vị trí cách xa nhau thì sẽ rất khókhăn trong việc luân chuyển container
2.2.1.3. Cảng Sài gòn :
Trang 36Cảng Sài gòn có 2 cảng trực thuộc là cảng Tân thuận và Cảng Khánh hội.
Cảng Tân thuận không xếp dỡ container qua cảng màchỉ đảm nhận việc xếp dỡ tại phao cho Gemadept đểchuyển đến ICD Phước long
Cảng Khánh hội hiện tiếp nhận trung bình mỗi tuần 3chuyến tàu container với sản lượng không cao lắm Chuyếntàu do Vietfracht làm đại lý sẽ chuyển về VICT trong thờigian tới
Trang 37Cảng Khánh hội đã hoàn thành việc nâng cấp hệthống cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ADB, trang bị 2cẩu bờ kiểu cần trục quay vừa xếp dỡ container vừaxếp dỡ hàng rời, mua mới 2 cẩu khung chuyên dụng xếpdỡ container trên bãi, mở rộng và nâng cấp bãi chứacontainer với diện tích trên 120.000 m2.
Tuy nhiên sự cạnh tranh về mặt hàng container của cảngKhánh hội gặp nhiều khó khăn mà khó khăn cơ bản làhệ thống giao thông không thuận lợi Container vậnchuyển ra vào cảng phải qua khu vực nội thành trong khihệ thống đường bao chưa xây dựng xong nên bị hạn chếvề thời gian lưu thông, không thu hút được khách hàng.2.2.1.4. Cảng Bến nghé :
Bến nghé hiện tại là một cảng đang được mở rộngvà đầu tư khá hiện đại để xếp dỡ hàng container Song
do sản lượng container thông qua cảng ít nên rất dư thừanăng lực Mặc dù năm 1998, sản lượng container xếp dỡtăng khoảng 200% so với năm 1997, đạt 35.200 teus, nhưngtrong đó lượng container xếp dỡ chuyển tải đi ICD Phướclong chiếm tỉ lệ đáng kể Năm 1999, 2000 và đến đầunăm 2001 sản lượng qua cảng Bến nghé có biến chuyểnnhưng không đáng kể và sản lượng container vẫn chiếm
tỉ trọng thấp nhất trong các cảng container khu vực TP.Hồ Chí Minh (hơn 6%)
Hàng tuần, cảng Bến nghé tiếp nhận 3 chuyến tàucontainer, nhưng chỉ có một chuyến tàu của hãng NYK doVitamas làm đại lý là xếp dỡ container qua cảng, còn lại
2 chuyến tàu của Gemadept thì chuyển tải toàn bộ bằngxà lan tại phao chuyển tới ICD Phước long
2.2.1.5. Cảng Lotus (Bông sen) :
Đây là một cảng liên doanh giữa Vietrans (Việt nam),Blasco (Nga) và SSA (Mỹ), cơ sở vật chất của cảng gồmcó :
- Cầu cảng được thiết kế cho việc khai thác tàucontainer trong tương lai dài 150m, cho phép lắp đặt cầntrục bờ Hiện tại có kế hoạch nối dài thêm một cầucảng nữa
- Bãi chứa container có diện tích khoảng trên 30.000 m2
(còn có khả năng mở rộng khi cần thiết) và 2 khochứa hàng rời
- Thiết bị : Mới trang bị một cẩu bờ chạy bằng bánh hơikiểu P&H của Mỹ, tầm với 40m, sức nâng thực tế đạt
80 tấn; 3 xe nâng container hàng loại 40’ và một xe nângcontainer rỗng cùng một số xe xúc nhỏ làm hàng trongkho
Hiện nay cảng đang khai thác các tàu hàng khô đạthiệu quả, trong đó chủ yếu là tàu chở các loại hàng
Trang 38như thiết bị, sắt thép… Những tàu chở hàng xá đã cóhệ thống đóng bao tại cầu cảng trước khi giao cho kháchhàng hay đưa vào kho.
Hiện tại cảng khó có khả năng triển khai làm hàngcontainer trong thời gian tới do vị trí của cảng nằm tươngđối độc lập so với cụm cảng VICT, Bến nghé, Tân thuậnvà khả năng của cảng chỉ có thể tiếp nhận được mộthãng tàu với sản lượng thông qua chùng vài chục ngànteu/năm
Trước mắt, các cảng Bến nghé, Tân thuận đang gặpkhó khăn trong việc thu hút tàu container và khách hàngnên cảng Lotus cũng chưa thể có triển vọng khai
Trang 39thác container Chỉ khi nào các cảng trên hoạt động tương đối ổn định thì cảng Lotus mới có khả năng khai thác được.
2.2.2 - Tình hình container thông qua các cảng :
Thống kê sản lượng container thông qua các cảng trongkhu vực cho thấy rằng tổng sản lượng tăng trung bìnhhàng năm là 16,5% tuy nhiên mức độ tăng sản lượngcủa từng cảng thì có khác nhau
Từ năm 1997 đến năm 2000, sản lượng thông qua Tâncảng vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất, tuy nhiên tỉ lệ nàycó xu hướng giảm dần theo các năm Nếu lượngcontainer thông qua Tân cảng năm 97 chiếm 66,4% tổng sốcontainer của toàn khu vực thì đến năm 2000 tỉ trọng củaTân cảng chỉ còn 42,2% Từ năm 1998 trở đi sản lượngthông qua Tân cảng chỉ ở mức trên 400.000 teu/năm vàmức độ tăng không đáng kể, đặc biệt năm 2000 sảnlượng đạt thấp hơn năm 1999 Đây là dấu hiệu sụt giảmsản lượng đáng báo động Mặc dù mật độ tàu vào Tâncảng vẫn ở mức cao, khoảng 52 chuyến/tháng nhưng sảnlượng của mỗi chuyến không cao như thời gian trước, cáctàu vào Tân cảng xếp dỡ xong đều ghé qua cảng VICTđể nhận thêm hàng hóa vì một phần container đã bị thuhút về VICT
Cảng Phước long của Gemadept đã khai thác tối đakhả năng thông qua, chỉ trong vòng 4 năm, sản lượngthông qua ICD Phước long đã đạt đến gần 250.000 teu vànăm 2000 Với sản lượng này, ICD Phước long đã trở nênquá tải và việc giao nhận hàng hóa ở đây tương đốichậm vì bãi chứa chật chội, phải đảo chuyển nhiều trongquá trình giao nhận container Để khắc phục tình trạng này,Gemadept đã chủ động đưa một số chuyến tàu khai tháctrên tuyến nội địa vào xếp dỡ tại Tân cảng, đồng thờithúc ép các các hãng khai thác container mà Gemadeptlàm đại lý thu xếp chuyên chở container rỗng bằng tàucủa hãng khác gửi qua Tân cảng là chỗ chứa trung giansau đó cấp cho khách hàng đóng hàng xuất tại ICDPhước long
Từ khi bắt đầu khi thác, cảng VICT đã chủ trương tìmmọi biện pháp để quảng cáo cho dịch vụ của mình nhằmthực hiện nhanh giai đoạn tìm kiếm thị trường Đầu tiêncảng VICT tác động vào các hãng tàu nước ngoài cótàu khai thác tại Việt nam để họ đưa tàu vào khai tháctại VICT Hiện nay cảng VICT tiếp nhận hàng tháng khoản
48 chuyến tàu, tuy sản lượng mỗi chuyến không nhiềubằng Tân cảng nhưng điều đó cho thấy sự cạnh tranh củaVICT là có hiệu quả Sản lượng năm 2000 so với năm
1999 của cảng VICT tăng gần 70%, đạt 124.102 teu, bằng
Trang 40gần 1/3 sản lượng thông qua Tân cảng và trở thành mộttrong số các cảng có sức hút mạnh nhất Tuy nhiên đểlàm được việc này cảng VICT đã triển khai một loạt cácchính sách thu hút chủ hàng và hãng tàu thông quacác hình thức hoa hồng, khuyến mãi, giảm giá, miễn thumột số khoản phí … và chấp nhận chịu bù lỗ cho nhữngnăm đầu, trung bình từ 3.5 – 4 triệu USD/năm.
Cảng Sài gòn và Bến nghé trong vài năm gần đâysản lượng có tăng nhưng không nhiều và ít có khả năngcạnh tranh nổi với Phước long, Tân cảng và VICT do vị tríđịa lý không thuận lợi Mặc dù các cảng này cũng tiếnhành nhiều biện pháp đầu tư nâng cấp để nâng caochất lượng dịch vụ nhưng trên thực tế cũng chỉ