NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN, NHẰM ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP - MỘT YÊU CẦU CẤP BÁCH LÀM NỀN TẢNG CHO CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TẠI NG
Trang 2- 1 -
1
MỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NỘI DUNG QUẢN TRỊ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
hàng thương mại (Commercial Bank) 1
1.1.2 Bản chất, chức năng vai trò của Ngân
hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
6
1.2 NGHIỆP VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
1.2.1 Các nghiệp vụ trong
bảng cân đối 12 1.2.2 Các nghiệp vụ ngoài
bảng cân đối 14
1.3 NHỮNG DẠNG RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
14
1.3.1 Những dạng rủi ro của Ngân
hàng thương mại 14 1.3.2 Những nội dung cơ bản về quản trị
Ngân hàng thương mại.18
1.4 HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN
Trang 3- 2 -
PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
53
Trang 41.4.2 Tính tất yếu khách quan phải nâng cao
hiệu quả quản trị Ngân hàng thương mại
53 1.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động
quản trị của ngân hàngthươnại………
…….
55
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 59
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC TA ĐÒI HỎI PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ 60
2.1 KHÁI LƯỢC VỀ SỰ RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG VIỆT NAM
60
2.1.1 Hoạt động Ngân hàng trước cách
mạng tháng 8/1945 60 2.1.2 Hoạt động Ngân hàng sau cách mạng
tháng 8/1945 đến khi thống nhất đất nước
62
2.1.3 Hoạt động Ngân hàng trong thời kỳ từ
năm 1976 – 1985 67 2.1.4 Hoạt động Ngân hàng từ 1986 đến
10/1998 những kết quả bước đầu của quá trình đổi mới hoạt động Ngân hàng 71
Trang 52.2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI TRONG
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐÒI
HỎI PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN
TRỊ
85
2.2.1 Bối cảnh ra đời của Luật các tổ chức tín
dụng 85 2.2.2 Thực trạng của các hệ thống Ngân hàng
thương mại.86 2.2.3 Những thành quả bước đầu và những
tồn tại chủ yếu của hoạt động Ngân hàng Thương mại trong 2 năm thực thi Luật các tổ chức tín dụng (1999-2000) 90
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI CHỦ
YẾU VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG HAI NĂM THỰC THI LUẬT CÁC
116
2.3.1 Tính tập trung quan liêu và bao cấp còn
mang nặng dấu ấn trong việc chỉ đạo, điều hành và thực thi các hoạt động Ngân hàng
117 2.3.2 Trình độ năng lực quản lý, điều hành
và tác nghiệp cụ thể còn non yếu 119
2.3.3 Ý thức chấp hành luật pháp, các quy
chế hoạt động chưa nghiêm túc
120
2.3.4 Sự không đồng bộ trong hoạt động kinh
tế của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế 121
Trang 62.3.5 Luật pháp vừa thiếu, không đồng bộ,
chồng chéo và kém hiệu lực
122
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 123
CHƯƠNG III : NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆUQUẢ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 124
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN TRỊ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NAM 126
3.1.1 Hiệu quả quản trị cần phải được đặt
trong môi trường quốc tế hóa hoạt động Ngân hàng, thích ứng với quá trình hòa nhập vào hoạt động Ngân hàng quốc tế và khu vực 126
3.1.2 Đa dạng hóa các hoạt động Ngân hàng
thương mại.128 3.1.3 Các Ngân hàng thương mại phải được
độc lập trong kinh doanh và phải tự chịu trách nhiệm 129 3.1.4 Xác định đầy đủ tính cách của NHTM
là một định chế tài chính trung gian.
130
3.1.5 Xác định tính hệ thống trong hoạt động
Ngân hàng.130
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG
Trang 7NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.
130
Trang 83.2.1 Giải pháp 1: Sắp xếp lại tổ chức và
hoạt động của các Ngân hàng thương
mại.
3.2.2 Giải pháp 2: Nâng cao năng lực quản trị
và điều hành.
133 3.2.3 Giải pháp 3: Nâng cao năng lực ra quyết
định, hoạch định chính sách và tuân thủ các chính sách quyết định trong Ngân
hàng thương mại.
135
3.2.4 Giải pháp 4 - Tăng cường vai trò và
hiệu lực của kiểm tra và kiểm toán nội bộ.
137
3.2.5 Giải pháp 5 - Nâng cao năng lực trong
việc quản trị tài sản có và tài sản nợ.
139 3.2.6 Giải pháp 6 - Hình thành một mô hình tổ
chức Ngân hàng Thương mại phù hợp
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 140 3.2.7 Giải pháp 7 - Đào tạo một đội ngũ cán
bộ nhân viên có năng lực, đáp ứng
yêu cầu tăng cường công tác quản
trị.146
3.2.8 Giải pháp 8: Thực thi một chính sách thu
nhập phù hợp, gắn chặt giữa trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm
Trang 93.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN, NHẰM ĐỔI MỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP - MỘT YÊU CẦU CẤP BÁCH LÀM NỀN TẢNG CHO CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
155
Trang 103.3.1 Về chính sách tiền tệ và các công cụ
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
155
3.3.2 Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý
của Ngân hàng Nhà nước.
161
3.3.3 Đào tạo và quản lý nhân lực 167 3.3.4 Phát triển công nghệ thông tin 169 3.3.5 Chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện luật pháp.
170
3.3.6 Tiếp tục sử dụng các biện pháp nhằm
nâng cao vai trò Ngân hàng thương mại theo xu hướng hội nhập quốc tế về Ngân
hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
Nhà nước và của các thành phần
kinh tế khác.175
3.3.9 Sử dụng nhiều biện pháp để thúc đẩy
sự phát triển khu vực tư nhân.
176
3.3.10 Nâng cao vai trò và hiệu lực của
các số liệu thống kê và tính minh bạch của những chính sách kinh tế có liên
quan 176
Trang 113.3.11 Kết
hợp các biện pháp làm trong sạch bảng cân đối của các Ngân hàng thương mại quốc doanh với việc giảm bớt nợ cho các Doanh nghiệp Nhà nước 177
Trang 12NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA
TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Ngân hàng thương mại là một sản phẩm được hìnhthành và phát triển cùng với quá trình phát triển xãhội loài người, nhưng không giống với nhiều sản phẩmkhác, xét về mặt bản chất và các hành vi mà nó ứngxử, người ta coi Ngân hàng thương mại như là một sảnphẩm xã hội (social product) - một ngành công nghiệpdịch vụ, với tính cộng đồng và tính nhân văn rất cao,chằng chịt vô số các mối liên hệ với đông đảo côngchúng, không chỉ trải rộng trong phạm vi một quốc giamà còn lan tỏa ra phạm vi quốc tế Cũng không giốngnhư các tổ chức tài chính khác, Ngân hàng thương mại -một định chế tài chính trung gian - luôn phải kinh doanhbằng tiền của người khác: vay của công chúng trongmột cộng đồng, trong nhiều cộng đồng, của các Ngânhàng thương mại bạn, của Ngân hàng trung ương và chính
vì điều ấy, bất kỳ một sự sụp đổ nào của bất kỳmột Ngân hàng thương mại nào, thông thường, nếukhông có những biện pháp xử lý thông minh và khéoléo đều có thể lây lan, mà hậu quả của nó là sự sụp
Trang 13đổ của hàng loạt Ngân hàng, gây biết bao tổn thất vàlàm mất lòng tin của khách hàng hiện tại và kháchhàng tiềm năng của chính họ trong tương lai Lịch sửphát triển Ngân hàng thương mại, nếu tính từ năm 1401
- mốc đánh dấu sự ra đời của một
Trang 14Ngân hàng thương mại đầu tiên trên thế giới - Ngânhàng Barcelona (Tây Ban Nha) đến nay, có biết bao nhiêulần nhân loại đã phải chứng kiến những cảnh sụp đổđến mức hoang tàn và nhiều khi người ta coi đấy lànguyên nhân của những cuộc khủng hoảng kinh tế, vànếu không phải như vậy, thì ít ra là dấu hiệu đầu tiêncủa các cuộc khủng hoảng ấy
Ở nước ta, gói gọn trong thập niên mà chúng tađang sống, sự sụp đổ và ra đi của hàng loạt hợp tác xãtín dụng dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống hợptác xã tín dụng lúc đó, sự ra đi của một số Ngânhàng thương mại cổ phần và ngay cả một số Ngânhàng thương mại quốc doanh, nếu không có "rào chắn"từ nhà nước thì cũng không chắc gì lại không có nhữngcuộc ra đi đầy thê thảm như thế Nhưng rõ ràng, dù chocó bất cứ sự bảo vệ nào, dù cho có bất cứ "ràochắn" kiên cố như thế nào, quá lắm nó chỉ có thểhạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại chứ khôngphải là không có thiệt hại Những vụ án kinh tế trongnhững năm gần đây và hiện tại ở nước ta mà âmvang của nó đã và đang phát ra từ các tòa án, cùngnhững bài học đau đớn có được từ các nước trong cáccuộc sụp đổ Ngân hàng không lẽ không đủ sức layđộng chúng ta phải hết sức quan tâm để hình thànhvà phát triển một hệ thống Ngân hàng thương mạihoạt động trong điều kiện ổn định, an toàn và có hiệuquả hay sao?
Để có được một hệ thống Ngân hàng thương mạihoạt động trong điều kiện như thế, điều quan trọng bậcnhất là phải xác lập trong thực tế sự kiểm soát từ bênngoài và sự quản trị từ bên trong của hệ thống đó
Xuất phát từ đó, chúng tôi chọn nội dung: Nhữnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị Ngân hàng
Trang 15thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiệnnay làm đề tài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Kinh tế củamình.
II MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI
NGHIÊN CỨU.
Luận án chủ yếu nêu ra một số biện phápnhằm cải tiến, đổi mới hoàn thiện và nâng cao hiệuquả quản trị đối với hẹä thống NHTM Việt Nam, bao gồmhệ thống NHTM quốc doanh và NHTM cổ phần trong cơ chếthị trường hiện nay
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trang 16Ngoài ra luận án còn sử dụng các tài liệu, công trình nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
IV NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN.
Luận án, ngoài phần mở đầu kết luận, 2 sơ đồ, 2 bảng, 3 mô hình và 22 phụ lục, luận án có khối lượng
186 trang được trình bày thành 3 chương :
* CHƯƠNG III.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỘI DUNG QUẢN TRỊ TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1.Ngân hàng thương mại (Commercial Bank)
1.1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Ngân hàng
Trước Tây lịch 3.500 năm, có bằng chứng là Nhàthờ đã có hoạt động giống như hoạt động của mộtNgân hàng ký thác (bank of deposit) với 3 lý do:
- Nhà thờ là chốn tôn nghiêm, được dân chúng kínhnể và do vậy, ít có kẻ nào dám xâm phạm
- Nhà thờ thường có những hầm hố kiên cố, được bảo vệ cẩn mật
- Nhà thờ thường tọa lạc tại những đô thị sầm uất,có hải cảng biển thông ra thế giới bên ngoài
Thời kỳ văn minh Hy Lạp, vào thế kỷ thứ 6 trướcTây lịch, hoạt động Ngân hàng gồm 3 khu vực: khu vựcNhà thờ, khu vực tư và khu vực công Thời kỳ này, hoạtđộng Ngân hàng, ngoài việc nhận ký thác và cho vaynhư trước đây, còn có nghiệp vụ hối đoái và nghiệpvụ đổi tiền, cho vay có kỳ hạn dài hơn
Dưới thời đế quốc La Mã (thế kỷ thứ 5 trước Tâylịch đến thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch) hoạt động Ngân
Trang 18hàng có những bước phát triển: Các Ngân hàng ápdụng phương thức thanh toán bù trừ (compensation) ápdụng cho những chủ nợ cùng một loại và thanh toán nợđáo hạn, với kết số dư là nợ thu hồi Ngân hàng
Trang 19- 10 -áp dụng việc ghi chép sổ sách và tài khoản, như sổ quỹ ghi chép thu, chi Sổ sách được thông tư cho Tòa án để làm bằng chứng cho các cuộc tranh tụng.
Có thể thấy, nghề kinh doanh tiền tệ ra đời gắnvới quan hệ thương mại và do vậy, thương mại càng pháttriển thì nghề kinh doanh tiền xuất hiện và phát triểntheo nhằm làm dễ dàng cho các hoạt động thương mạiấy
Các Mác viết: "Như vậy là việc buôn bán tiềntrước hết là do các quan hệ kinh tế quốc tế mà có.Một khi đã có các thứ tiền riêng của các quốc giakhác nhau thì các thương nhân mua hàng của nướcngoài đều buộc phải đổi tiền của nước mình lấy tiềnđịa phương và ngược lại, hoặc nữa là buộc họ phải đổinhững loại tiền khác nhau lấy những nén bạc hoặcvàng nguyên chất dùng làm tiền quốc tế Do đó màcó nghề đổi tiền và người ta coi là một trong nhữngnền tảng phát sinh một cách tự nhiên của nghề buônhiện thời" [6,562]
Đến thời kỳ trung cổ, từ thế kỷ thứ 5 đến thếkỷ thứ 10 là thời kỳ suy thoái trong các hoạt độngNgân hàng và hoạt động kinh tế - xã hội : Nền kinh tếđóng khung ở nông thôn, thuần túy là kinh tế nôngnghiệp, tự cung tự cấp Đến thế kỷ thứ 10, đời sốngđô thị bắt đầu khởi sắc, thương mại hồi phục, hoạtđộng Ngân hàng bắt đầu sống lại, nhưng vẫn chưa pháttriển được vì một trở ngại lớn là Nhà thờ cấm cho vaylấy lời Ảnh hưởng của Nhà thờ quá lớn đã gây trởngại cho hoạt động cấp tín dụng Từ thế kỷ thứ 11 đếnthế kỷ thứ 14, hoạt động Ngân hàng khá sầm uất ởItalia, có sự góp phần của các hội chợ quốc tế địnhkỳ, với việc phát hành đồng tiền riêng của hội chợ,thực hiện các hoạt động hối đoái trao tay, chuyển ngân,thanh toán bù trừ
Thời kỳ phục hưng từ thế kỷ thứ 15 - 17, hoạtđộng kinh tế phát triển so với thời kỳ trung cổ, việccấm đoán cho vay lấy lời đã chấm dứt, bên cạnh việc
Trang 20- 10 -
10
mặt trong thương mại quốc tế Trong bối cảnh đó, đãxuất hiện những Ngân hàng công lập, dưới hình thứclúc đầu là các tiệm cầm đồ, được Nhà nước và Nhàthờ ủng hộ Thuộc giai đoạn này, hoạt động Ngân hàngcó hai đặc trưng, trước hết, là các Ngân hàng hoạtđộng độc lập, chưa tạo thành một hệ thống, khôngchịu ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau và hai là, mỗiNgân hàng đều có những chức năng hoạt động nhưnhau, bao gồm việc nhận ký thác, chiết khấu và chovay, phát hành giấy bạc, thực hiện các dịch vụ tiền tệnhư đổi tiền, chuyển tiền
Trang 21- 11 -Đến đầu thế kỷ thứ 18, lưu thông hàng hóa đượcmở rộng, cả về quy mô và cả về phạm vi hoạt động,tạo điều kiện cho nhiều Ngân hàng phát hành nhiềuloại giấy bạc khác nhau Điều này đã gây trở ngại choquá trình lưu thông hàng hóa, buộc Nhà nước phải canthiệp vào hoạt động Ngân hàng, bằng cách ban hànhcác quy định hạn chế số lượng các Ngân hàng pháthành tiền.
Đến đây, hệ thống Ngân hàng chia làm hai loại :các Ngân hàng không được phát hành tiền, được gọi làNgân hàng trung gian và các Ngân hàng được phépphát hành tiền, được gọi là Ngân hàng phát hành
Trong thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, các nước côngnghiệp Châu Âu việc phát hành tiền giao cho một sốNgân hàng lớn, nhưng đến cuối thế kỷ thứ 19, Nhànước đã ban hành các đạo luật chỉ cho phép một Ngânhàng duy nhất được phép phát hành tiền và các Ngânhàng còn lại không được phép phát hành tiền Ngânhàng được phép phát hành, về sau thực hiện thêmmột số chức năng trở thành ngân hàng trung ương(NHTW) và các Ngân hàng không được phép phát hànhtiền trở thành ngân hàng thương mại (NHTM) Lịch sửđó, đánh dấu một bước đột phá quan trọng trong việctách bạch NHTW và NHTM và việc hình thành hệ thốngNHTM được tính từ thời điểm này
1.1.1.2 Quan điểm của Các Mác và V.I
Lênin về Ngân hàng :
Quan điểm của Các Mác :
Cùng với quá trình phân tích để tìm ra các chứcnăng của tiền, Mác cũng đã luận giải một cách khoahọc nguồn gốc ra đời và sự vận động của phạm trù tíndụng thương mại, gắn liền với việc thực hiện chứcnăng phương tiện thanh toán của tiền thông qua hành
vi mua bán chịu hàng hóa giữa các thương gia Mác chorằng, tín dụng thương mại là cho vay bằng hàng hóathương gia Mác cho rằng, tín dụng thương mại là cho vaybằng hàng hóa, do vậy số tiền phải hoàn trả bao
Trang 22- 12 -
11
gồm cả khoản chi trả do việc sử dụng tư bản và sự rủi
ro có thể xảy ra trước khi đến hạn Như vậy, gắn vớiphạm trù mua bán chịu, tín dụng thương mại ra đời vàphát triển, từ lưu thông hàng hóa giản đơn Nhưng chỉđến thời kỳ của tự do cạnh tranh dưới chủ nghĩa tư bảnthì các “cơ sở tự nhiên đó” mới được nhân rộng và trởnên phổ biến Để làm dễ dàng cho hoạt động tín dụngthương mại, xuất hiện một công cụ lưu thông tín dụngđặc biệt, đó là kỳ phiếu thương mại và cũng từ đó,phát sinh nghiệp vụ chiết khấu kỳ phiếu thương mại.Thông
Trang 23qua nghiệp vụ này, Ngân hàng có được lợi ích bằngcách khấu trừ một phần số tiền theo mệnh giá củakỳ phiếu Ngoài khả năng có thể thực hiện việc chiếtkhấu hay cầm cố, kỳ phiếu thương mại có thể dùnglàm phương tiện thanh toán, khi chưa đến hạn, tức làthực hiện một số chức năng như tiền và trở thànhtiền thương mại thật sự, hay nói cách khác là tiền tíndụng trong hoạt động thương mại.
Có lẽ vì Ngân hàng thương mại là một "tạo phẩmtuyệt tác nhất và hoàn thiện nhất" [6,181] trong số cáctạo phẩm của kinh tế thị trường nên Các Mác đã dànhcho "vấn đề Ngân hàng" một vị trí xứng đáng trong họcthuyết kinh tế của mình
Khởi đầu bằng phạm trù "buôn bán tiền" gắn vớimôi trường "buôn bán hàng hóa", Mác đã đi sâu phântích tư bản sinh lợi tức, "một chức năng đặc biệt củanhững người buôn tiền" [6,490] Để chỉ rõ cái tất yếucủa sự ra đời hệ thống Ngân hàng trên cơ sở của nghềbuôn tiền, Mác đã cho rằng, sự mở rộng giao lưu kinh tế,giao lưu hàng hóa xuyên quốc gia đã tạo ra hàng loạtmâu thuẫn trong lĩnh vực thanh toán (phương thức thựchiện và dự trữ an toàn tiền) trong việc tập trung vốnđể mở rộng sản xuất của các chủ doanh nghiệp - vàđể giải quyết những mâu thuẫn đó, đòi hỏi mộtcách khách quan, sự ra đời loại hình Ngân hàng đầutiên - thợ vàng, thợ bạc [6,339]
Các Ngân hàng - thợ vàng, thợ bạc - từ buổinguyên khai đã tồn tại nhờ biết khai thác nghiệp vụ
giữ hộ tiền để thu phí dịch vụ Tính chính thống, tính
hành văn giữa người giữ hộ tiền và người gửi tiềnđược thiết lập thông qua sợi dây kinh tế - các chứngthư Các chứng thư này, qua thời gian, càng chứng tỏđược lợi thế trong lĩnh vực thanh toán so với cách dùngtiền đúc, tiền nén Và rồi sự tín dụng tự nguyện đãtôn nó lên vị trí hàng đầu trong số các công cụ thanhtoán đương thời Đó chính là lai lịch của tờ ngân phiếu
đầu tiên Từ đây, Mác tiếp tục phân tích cách tạo ra
Trang 24cách xử lý mâu thuẫn giữa dấu hiệu giá trị mà tờngân phiếu đang mang tải với sự tồn tại "thừa ra" mộtlượng tiền đúc, tiền nén với giá trị tương đương đang
nằm trong kho của chủ Ngân hàng Hơn thế, các chủ
Ngân hàng dưới sự thôi thúc của động cơ lợi nhuận,đã mở rộng tín dụng không chỉ với số tiền hiện cótrong kho mà đã từng bước mở rộng ra bằng cách vayđể cho vay
Trang 25Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,số lượng và quy mô của các NHTM không ngừng tănglên Để có thể tồn tại, các NHTM buộc phải tìm nhữngbiện pháp nâng cao chất lượng và uy tín trên thươngtrường nhằm giảm chi phí dịch vụ, trả lãi suất cao hơncho người gởi tiền, giảm lãi suất cho vay tới thực thihàng loạt các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinhdoanh Nhờ những phản ứng tự hoàn thiện này, nhiềuNHTM đã phát triển thành những NHTM lớn, là “nơi tậptrung tự bản tiền tệ của những người có tiền cho vay”[6,490] Đồng thời, Mác cũng chỉ rõ “các công cụ tíndụng mà các NHTM thực hiện như kỳ phiếu, séc ngânhàng, mở thư tín dụng (L/C) trực tiếp, giấy bạc Ngânhàng (Bank notes)” [6,491].
Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế và giao lưuhàng hóa đã tạo ra môi trường để hoàn thiện các loạihình NHTM và trên cơ sở của sự hoàn thiện đó, lại tạo
ra những điều kiện mới thúc đẩy hơn nữa sự pháttriển kinh tế, làm sầm uất thêm các tụ điểm thịtrường “mảnh đất” đã sinh ra và nuôi dưỡng Ngân hàng
- và đến lượt mình, Ngân hàng đã tạo ra góp phần làmcho nó thêm “màu mỡ”
Quan điểm của V.I Lênin về Ngân hàng.
Ngay sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công,V.I Lênin đã chỉ ra nhiều biện pháp nhằm chấn chỉnhcông tác tài chính - tiền tệ Khi thực hiện “chính sáchkinh tế mới” Lênin đã chỉ ra các nguyên tắc tài chính
- tín dụng quan trọng như tách tài chính của các Tơrớt,các Xí nghiệp ra khỏi tài chính Nhà nước; cân đối ngânsách phụ thuộc vào việc giải quyết thành côngnhiệm vụ thương nghiệp và tính ổn định của tiền tệ;công tác tài chính phải gắn với công tác Ngân hàngvà thương nghiệp; nguyên tắc về sự kiểm tra của Ngânhàng Nhà nước đối với hoạt động tài chính của Xínghiệp
V.I Lênin, trên cơ sở thực nghiệm về cách mạng vôsản thế giới và từ sự phân tích khoa học vai trò mới
Trang 26của Ngân hàng trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc,rút ra sự cần thiết phải quốc hữu hóa các Ngânhàng Liên quan đến vấn đề này, Lênin chỉ ra rằng:
“Chỉ có những Ngân hàng lớn mới có thể xác lậpmột công cụ có hiệu quả trong tay Nhà nước để thựchiện XHCN” [32] Và rằng, "sau khi tước đoạt từ tay củagiai cấp tư sản các Ngân hàng, nhiệm vụ của chúng talà phải cắt bỏ và xóa đi các yếu tố tư bản chủnghĩa, làm cho bộ máy đó lớn
Trang 27mạnh hơn, dân chủ hơn và mang tính quần chúng hơn"[56, 86] , và "Một hệ thống Ngân hàng thống nhất,tập trung, với một màng lưới trải rộng đến các làng,xóm, quận, huyện, tạo ra khả năng thực thi một sự hạchtoán chung và một sự kiểm tra một cách có hệ thống,mang tính xã hội, đối với các hoạt động của tất cảcác Xí nghiệp và các tổ chức kinh tế" [32, 89] Ngườinhấn mạnh rằng, “không có các Ngân hàng lớn, khôngthể thực hiện được chủ nghĩa xã hội” [32, 89].
Những quan điểm của V.I Lênin có ý nghĩa quantrọng trong việc thực thi chính sách kinh tế mới và trongtiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội về sau
Tóm lại, những tư tưởng của các học thuyết vềtiền tệ - tín dụng và Ngân hàng Mác - Lênin là một bộphận quan trọng trong hệ thống các học thuyết về kinhtế tiền tệ của nhân loại
1.1.2.Bản chất, chức năng, vai trò của Ngân
hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2.1 Bản chất của Ngân hàng thương
mại
Trong quá trình phát triển kinh tế thế giới, hệthống NHTM đã trở thành một định chế tài chính trunggian lớn nhất và quan trọng nhất (trong việc đi vay để chovay) Có rất nhiều định nghĩa để từ đó phản ánh bảnchất của NHTM:
- "Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoảnký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư"
Trang 28- "Ngân hàng thương mại là loại Ngân hàng trực tiếpgiao dịch với khách hàng, thường xuyên nhận tiền gởivới trách nhiệm có hoàn trả và sử dụng số tiền đóđể đáp ứng cho những nhu cầu về vốn trong nền kinhtế"
- Theo điều I của pháp lệnh "Ngân hàng, HTX tíndụng và công ty tài chánh" ở nước ta, được công bốngày 24/5/1990 có ghi định nghĩa như sau: "Ngân hàngthương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt độngchủ yếu và
Trang 29thường xuyên là nhận tiền gởi của khách hàng vớitrách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để chovay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiệnthanh toán".
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng được banhành năm 1998 ở nước ta thì được hiểu như sau: "Ngânhàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toànbộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanhkhác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạtđộng, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng thươngmại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngânhàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hìnhNgân hàng khác" [30]
Tóm lại, bản chất NHTM được hiểu thông qua địnhnghĩa của nó và có thể được phát biểu như sau: Đólà một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vựctiền tệ tín dụng, là doanh nghiệp có tiến hành thườngxuyên các nghiệp vụ huy động vốn làm công tác tíndụng, cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiện nghiệpvụ chiết khấu và cung cấp các nghiệp vụ tài chính khác
1.1.2.2 Chức năng và vai trò của Ngân
hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Chức năng của Ngân hàng thương mại.
NHTM là một định chế tài chính trung gian với những chức năng cơ bản:
- Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian
tín dụng
Như ta đã biết quan hệ tài chính trực tiếp giữanhững chủ thể kinh tế tạm thời có tiền chưa sử dụngđến với những chủ thể kinh tế tạm thời thiếu hụt gặpnhiều khó khăn Vì với tài chính trực tiếp, người tạmthời thiếu tiền và người tạm thời thừa tiền khó màgặp nhau và nếu gặp nhau thì không phải trong trườnghợp nào cũng có thể thỏa mãn được nhu cầu xin vay
Trang 30Chính trong bối cảnh đó, hoạt động của NHTM đã khắcphục được hạn chế bằng cách đứng ra tập trung tiền tệcủa mình từ mọi chủ thể trong nền kinh tế, bao gồm cácdoanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan nhà nước vàtrên cơ sở đó cung ứng cho các chủ thể kinh tế có nhucầu vốn tạm thời Do vậy, ta có thể nói rằng, Ngânhàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay, hay nóikhác hơn, hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là đi vayđể cho vay
Trang 31- Ngân hàng thương mại là thủ quỹ của các
doanh nghiệp.
Nếu như mọi khoản thanh toán đều được thực hiệnbên ngoài Ngân hàng thì chi phí để thực hiện các khoảnthanh toán là rất lớn, bao gồm những chi phí cho lưuthông tiền mặt của Ngân hàng như in, đúc, bảo quản,vận chuyển; những chi phí liên quan đến người trả tiềnvà người nhận tiền như đếm tiền, bảo quản và vậnchuyển Với sự ra đời và phát triển màng lưới NHTM,phần lớn các khoản thanh toán được chuyển giao choNgân hàng tiến hành Điều này có ý nghĩa hết sức
to lớn trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa,tiết kiệm được chi phí lưu thông, đồng thời tạo cơ sở choNgân hàng thực hiện nghiệp vụ cung ứng vốn tín dụng.C.Mác đã từng cho rằng: "Công việc của người thủquỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán Khi Ngânhàng xuất hiện thì chức năng này được chuyển giaosang Ngân hàng Tuy nhiên, khác với nghề kinh doanhtiền tệ dưới hình thức ban đầu giản đơn và thuần túycủa nó nghĩa là tách khỏi chế độ tín dụng trong Ngânhàng, thì chức năng trung gian thanh toán gắn bó mộtcách chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung gian tíndụng Ngân hàng dùng số tiền gởi của nhà tư bản nàycho nhà tư bản khác vay" [6, 462]
_Chức năng tạo ra "bút tệ" theo cấp số
ra tiền "bút têä" là sáng kiến quan trọng trong lịch sửhoạt động Ngân hàng
Trang 32Điều này liên quan đến mục đích của các NHTM làtìm kiếm lợi nhuận, thông qua các hoạt động kinh doanhcụ thể Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, các NHTMkhông thể không quan tâm, như là một yêu cầu chochính ngay sự tồn tại và phát triển của mình, là TẠOTIỀN Chức năng này được thực hiện thông qua cáchoạt động tín dụng và đầu tư, trong mối liên hệ chặtchẽ với Ngân hàng trung ương của mỗi nước
Trang 33Nhờ nhận ký thác của khách hàng, NHTM có khảnăng tạo thêm vốn để cho vay Nhưng khi cho vay Ngânhàng lại tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là tiền "búttệ" - tiền chuyển khoản - NHTM trở thành người cungứng tiền tệ quan trọng trong nền kinh tế.
Vai trò của Ngân hàng thương mại.
ma
ët:
Với các chức năng truyền thống, NHTM thể hiện vaitrò của mình ở hai
- Vai trò thực thi chính sách tiền tệ do
Ngân hàng trung ương đã hoạch định (tham gia điều tiết vĩ mô).
Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các tổ chức kinhtế Trong quá trình hoạt động đó NHTM thực hiện vai tròtham gia điều tiết kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế,thông qua các chức năng truyền thống của mình
Bằng chính sách và những biện pháp tín dụng,NHTM đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sảnxuất, lưu thông và dịch vụ
Đây là cơ sở quan trọng để giữ vững mối quanhệ tín dụng giữa doanh nghiệp và Ngân hàng Bằngchính sách tín dụng Ngân hàng có thể gia tăng hoặc thuhẹp khối lượng tín dụng trong từng doanh nghiệp, hoặccó thể không thực hiện quan hệ tín dụng đối với doanh
nghiệp trong trường hợp cần thiết Tất cả những vấn
đề đó đều liên quan, ảnh hưởng đến kết quả kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế Như vậy,
việc sử dụng vốn vay Ngân hàng vừa giúp doanh nghiệpđáp ứng nhu cầu vốn bị thiếu hụt trong kinh doanh, vừatạo cho doanh nghiệp về trách nhiệm của mình trong quá
trình sử dụng vốn Từ đó giúp cho doanh nghiệp có
những lựa chọn, những quyết định của mình trong việc sửdụng hay không sử dụng nguồn vốn vay Ngân hàng đểmở rộng hoặc thu hẹp quy mô kinh doanh hiện có
Trang 34Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của NHTM được thểhiện qua việc tiếp nhận, thu hút khối lượng tiền mặttừ trong nền kinh tế vào NHTM, qua các nghiệp vụ: Thunhận tiền bán hàng do các doanh nghiệp nộp vào tàikhoản, thu nhận tiền tiết kiệm của các tầng lớp dâncư đồng thời Ngân hàng cũng cung
Trang 35ứng một khối lượng tiền mặt, nhằm thỏa mãn các nhucầu sử dụng tiền mặt cho các doanh nghiệp, các tầnglớp dân cư dưới các hình thức: Doanh nghiệp nhận tiền
mặt từ tài khoản của mình để trả lương cho côngnhân viên chức, trả tiền mua nguyên vật liệu, thu muahàng hóa, còn đối với dân cư, nhận tiền gởi tiếtkiệm để chi dùng cho những nhu cầu cần thiết như: Mua
sắm tài sản, trả nợ.v.v Quá trình thu nhận và cung ứng khối lượng tiềnmặt trong nền kinh tế đã tạo ra mối quan hệ giữa lưuthông hàng hóa và lưu thông tiền tệ trong từng khuvực Khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế đi qua quỹnghiệp vụ NHTM là những công cụ tác động trực tiếpvào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trongnền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế
của các tầng lớp dân cư Bằng chính sách thu hút,
động viên, Ngân hàng sẽ tiếp nhận một khối lượng
tiền mặt nhàn rỗi từ lưu thông về Ngân hàng Khối
lượng tiền mặt này sẽ đáp ứng nhu cầu tiền mặt chocác doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư Đảm bảo chonền kinh tế luôn luôn có một khối lượng tiền mặt cầnthiết và hợp lý phục vụ cho hoạt động kinh doanh và cáchoạt động khác trong phạm vi từng doanh nghiệp, từngkhu vực cũng như trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
Trong lĩnh vực thanh toán, khi trở thành trung tâmthanh toán không dùng tiền mặt giữa các doanh nghiệp,các tầng lớp dân cư, dịch vụ công tác thanh toán củaNgân hàng giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chiphí trong mua bán hàng hóa, cung ứng và tiếp nhận
các dịch vụ Đồng thời giúp doanh nghiệp thu hồi được
tiền bán hàng nhanh để tiếp tục cho một quá trình luânchuyển vốn tiếp theo, tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của doanh nghiệp
Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh chính trong lĩnhvực tiền tệ tín dụng, hoạt động của NHTM còn thực hiệncác dịch vụ Ngân hàng trong nền kinh tế, đây là nhữngnghiệp vụ trung gian, tạo ra cho Ngân hàng những nguồn
Trang 36cho Ngân hàng Về phía nền kinh tế được tiếp nhận cácdịch vụ Ngân hàng, cũng tạo ra những điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển toàn diện và thỏa mãn các yêucầu trong hoạt động kinh doanh
- Góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thông qua chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại.
Trang 37Trong nền kinh tế thị trường, vai trò điều tiết kình tế
vĩ mô thuộc về chức năng của Ngân hàng TW Mộttrong những công cụ để điều tiết vĩ mô đó là "Tỷ lệdự trữ tối thiểu bắt buộc" Việc điều chỉnh tỷ lệ dựtrữ tối thiểu bắt buộc của Ngân hàng TW cũng nhưviệc chấp hành tỷ lệ đó của các NHTM, nó có liênquan đến khả năng tạo ra tiền gửi của mỗi NHTM và
cả hệ thống Ngân hàng Định mức dự trữ theo tỷ lệ
của NHTW là bắt buộc, nhằm điều hòa khả năng mở
rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng trong nước Điều đó
sẽ không cho phép các NHTM thông qua hệ thống thanhtoán không dùng tiền mặt mà mở rộng tín dụng quágiới hạn cho phép của NHTW
Định mức dự trữ càng lớn thì khả năng cho vaycàng giảm và ngược lại định mức dự trữ càng nhỏ thìkhả năng cho vay càng tăng Khả năng tạo tiền củamỗi NHTM, và cả hệ thống Ngân hàng trong nền kinh tếlà một hiện thực khách quan được tạo ra trong quá trìnhthanh toán không dùng tiền mặt giữa các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế
Một Ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thìsố vốn đó lại chuyển sang Ngân hàng khác, trở thànhvốn tiền gửi và làm tăng thêm vốn tiền gửi của cácNgân hàng khác
Như vậy chúng ta thấy rằng, NHTM khi thực hiệnhoạt động kinh doanh, đã thể hiện vai trò của mình trongviệc góp phần vào hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô.Bằng nghiệp vụ tạo tiền của NHTM, gắn liền chặt chẽvới công cụ quản lý vĩ mô của Ngân hàng TW thôngqua "Tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc" Nói cách khác,việc thực hiện tốt hay không tốt tỷ lệ dự trữ bắt buộcnày của NHTM có ảnh hưởng đến chính sách quản lý
vĩ mô của NHTW về lĩnh vực tiền tệ tín dụng trong nềnkinh tế
1.2 NGHIỆP VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của NHTM vô cùng
Trang 38tế của mỗi nước, nội dung các hoạt động có khác nhauvề phạm vi và công nghệ, song vẫn có một điểmchung là các NHTM đều thực hiện các nghiệp vụ trongbảng cân đối kế toán (nghiệp vụ Có, nghiệp vụ Nợ) vànghiệp vụ ngoài bảng cân đối kế toán (hoạt động dịchvụ)
1.2.1 Các nghiệp vụ trong bảng cân đối.
Trang 39- 20 -
1.2.1.1 Nghiệp vụ Có (Tài sản Có - Tích
sản của Ngân hàng thương mại).
Nghiệp vụ Có của NHTM là những nghiệp vụ thuộc
sử dụng vốn nhằm mục đích sinh lời Có hai nghiệp vụ
cơ bản tạo ra lợi nhuận chủ yếu của bất kỳ NHTM nào,đó là nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ tín dụng:
Nghiệp vụ đầu tư.
Nghiệp vụ đầu tư mang lại nguồn lợi quan trọng làđầu tư vào chứng khoán Trong nghiệp vụ này, NHTMtham gia vào hai loại chứng khoán: chứng khoán Nhà
nước và chứng khoán công ty Mục tiêu mà NHTM tiến
hành đầu tư chứng khoán là nhằm tạo ra tính đa dạngtrong hoạt động, tăng lợi tức và trợ giúp thanh khoản
NHTM cũng có thể thực hiện nghiệp vụ đầu tư củamình dưới hình thức liên doanh liên kết nhằm tìm kiếm lợinhuận
Nghiệp vụ tín dụng.
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu củabất kỳ NHTM nào, dưới các hình thức tín dụng chủ yếunhư tín dụng ứng trước (có thế chấp và không có thếchấp), tín dụng được hoàn trả bằng các phần bằng nhauhay còn được gọi là tín dụng trả góp, tín dụng bảo lãnhcủa Ngân hàng (bank guarantee), tín dụng dựa trên việcchuyển nhượng trái quyền chiết khấu thương phiếu, tíndụng chấp nhận, tín dụng thấu chi (overdraft), tín dụngthuê mua (hire purchase finance), tín dụng thuê mướn(leasing), bao thanh toán (factoring), tín dụng liên kết và tàitrợ ngoại thương
Thông qua các nghiệp vụ tín dụng, các NHTM thựchiện chức năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xãhội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó, gópphần vào quá trình phát triển nền kinh tế
1.2.1.2 Nghiệp vụ Nợ (Tài sản Nợ - tiêu
sản).
Trang 40- 20 -
20
Nghiệp vụ Nợ của NHTM chủ yếu là nghiệp vụ huyđộng vốn tiền gởi doanh nghiệp và dân cư dưới nhiềuhình thức phong phú và đa dạng, như ký thác không kỳhạn (demand deposits), ký thác có kỳ hạn (time deposit),ký thác tiết