Tuynhiên, với mong muốn thiết tha rằng Việt Nam không thuakém các trên thế giới, người viết xin mở ra, khơi gợi sựhấp dẫn và cần thiết của môn đầu tư tài chính đếnnhững nhà đầu tư trên t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LẠI THỊ THU THẢO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2trường chứng khoán trang 01.
1.1 Đầu tư – Đầu tư tài chính
1.3.1 Danh mục đầu tư
1.4.1 Thị trường hiệu quả
trang 26.
1.4.2 Tác động của thị trường lên tỉ lệ thu nhập dự
tính và rủi ro của danh mục đầu tư
2
Trang 3trang 28.
CHƯƠNG II: Phương thức quản lý một danh mục đầu tư hiệu quả thực tế trên thị trường chứng khoán
Trang 42.1.5 Phương thức quản lý trang 37.
2.1.6 Các biến động của thị trường ảnh hưởng đến giá chứng khoán trang 42.
2.2 Quản lý danh mục đầu tư thực tế
trang 49
2.2.1 Lựa chọn thị trường và danh mục khảo sát trang 49 2.2.2 Xây dựng danh mục đầu tư vừa chọn trang 53 2.2.3.
trang 59 2.2.4.
trang 59.
CHƯƠNG III: Quản lý danh mục an toàn trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
trang 69.
3.1 Tiếp cận và phân tích thị trường chứng khoán Việt Namhiện nay trang 71
3.2.4.Khảo sát và phân tích biến động giá chứng khoán khi điều kiện môi trường thay đổi
trang 77.
Trang 53.2.5.Các vấn đề rút ra trong ứng dụng các phương pháp quản lý danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam trang 83.
3.3 Kiến nghị đối với hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trang 84 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
Nhiều người cho rằng thị trường chứng khoán như một
“sòng bạc” lớn Các trợ thủ đắc lực như những chiếc máy tính điện tử siêu cấp và các công thức tính toán phân tích kỹ lưỡng đôi khi vẫn đem đến những thất bại ê chề Do có quá nhiều yếu tố tác động nằm ngoài dự kiến của con người, thị trường chứng khoán vẫn còn bí hiểm, vẫn còn đầy hấp dẫn và lôi cuốn nhiều người lao vào
Tuy nhiên, hành động của những con “thiêu thân” cứbay đến nơi có ánh sáng mà không biết ánh sáng đólà gì sẽ có một tỷ lệ thất bại cao hơn Một nhà đầu tưthật sự phải biết mục tiêu đầu tư của mình là gì? mứcđộ chấp nhận rủi ro là bao nhiêu để có thể dự đoánđược kết quả đầu tư và có kế hoạch cho các hànhđộng của mình
Là một đề tài khá mới mẽ trong ngành giáo dục ViệtNam, người viết xin mạo muội đề xuất những ý kiến cóthể chưa được chính xác lắm và còn nhiều tranh cãi Tuynhiên, với mong muốn thiết tha rằng Việt Nam không thuakém các trên thế giới, người viết xin mở ra, khơi gợi sựhấp dẫn và cần thiết của môn đầu tư tài chính đếnnhững nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Với một kiến thức hạn chế của một người mới đi vàonghiên cứu lĩnh vực quản lý danh mục đầu tư tài chính,người viết hy vọng sẽ nhận được sự khích lệ cũng nhưnhững ý kiến đóng góp của người đọc cho đề tài
Trang 7CHƯƠNG I : MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÔNG THỨC TÍNH TOÁN CHO MỘT DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
Một định nghĩa khác chi tiết hơn về đầu tư được nêu ra
ở đây nhằm giảm bớt sự trừu tượng tại định nghĩa thứnhất, giúp người đọc có một cảm nhận dễ hiểu và gầngủi hơn cái danh từ “đầu tư” mà chúng ta gặp hàng ngày:
Đầu tư là bỏ ra một số tiền hiện tại nào đó, trong một khoản thời gian nhất định nhằm nhận được một khoản hoàn lại trong tương lai, cái mà:
- Có thể đền bù lại thời gian bỏ ra của Quỹ tiền tệ đó.
- Cộng với một tỉ lệ lạm phát ước tính.
- Và cộng với một khoản tiền nào đó (có thể có hoặc không) ở tương lai.
Trước đây, người ta thường sự phân biệt giữa đầu tưvà tiết kiệm Bởi vì trong tiết kiệm, hai giá trị hiện tạivà tương lai gần như là bằng nhau còn trong đầu tư thìkhác, có thể cao hơn hoặc thấp hơn Song xác suất giá trịcao lớn hơn
Ngày nay, để phù hợp với sự đa dạng phức tạp củacác loại hình đầu tư, định nghĩa “đầu tư” được mở rộnghơn bao quát mọi khía cạnh đặc thù thì một khoản tiềngửi tiết kiệm trong Ngân hàng vẫn được xem là một
Trang 8khoản đầu tư Thậm chí, tiền mặt cất ở dưới “gối” vẫncó thể xem như là một khoản đầu tư.
Trang 9Đầu tư tài chính:
Là một dạng của đầu tư – Đầu tư tài chính liên quanđến tiền và các giấy tờ, chứng từ có giá (có chứcnăng hoán đổi ra tiền một cách nhanh chóng) chẳng hạnviệc mua chứng khoán, cầm cố, thế chấp, cho vay, … Sựphân biệt với “đầu tư thực” giúp hiểu rõ hơn thế nào làmột khoản “đầu tư tài chính”
Theo các quan điểm hiện đại thì “đầu tư tài chính” diễn
ra như một sự trao đổi giữa con người với nhau và thườngxuất hiện một khoản công nợ nào đó Trong khi “đầu tưthực” thì liên quan đến thế giới tự nhiên bên ngoài Ví dụnhư một nhà đầu tư mua một mãnh đất, một ít hạt giống,phân, … và anh ta trở thành một nông dân Ở đâykhông liên quan đến công nợ mà chỉ liên quan đến thếgiới tự nhiên và không có một người nào khác thanhtoán cho anh ta lúa, ngô, nho, … Đó là “đầu tư thực”
Trong một nền kinh tế phức tạp như ngày nay, đầu tưtài chính ngày càng đa dạng hơn Nhưng không phải thếmà nó lấn át các khoản đầu tư thực, mà ngược lại nócung cấp các phương tiện rất đa dạng và hỗ trợ cho cáckhoản đầu tư thực rất nhiều Một ví dụ đơn giản và dễhiểu nhất là việc vay tiền để xây dựng một khu nhà ởđể bán
Thị trường chứng khoán ra đời đã cung cấp mộtlượng lớn vốn đầu tư, làm nguồn cho các dự án đầu tưthực phát triển Trong đó, thị trường thứ cấp đóng mộtvai trò rất quan trọng, tuy nó không mang lại lợi nhuậnbằng tiền cho dự án, nhưng không ai có thể phủ nhậnđược: sự tồn tại của thị trường sơ cấp đã làm cho cáckhoản đầu tư thực linh hoạt hơn, thuận tiện hơn rất nhiều.Và thị trường thứ cấp là một công cụ đắc lực, hỗ trợcho sự phát triển thị trường sơ cấp Ngoài ra, nó còn tạođiều kiện cho thị trường sơ cấp trở nên linh hoạt hơn
Lợi nhuận và rủi ro của một khoản đầu tư:
Một khoản đầu tư luôn luôn đi kèm với những hyvọng, ước tính Thực vậy, một nhà đầu tư chỉ bỏ tiền
ra khi anh ta tính ra được rằng tất cả các khoản lợi
Trang 10nhuận thu về trừ đi những thiệt hại, rủi ro có thể xảy raphải lớn hơn khoản tiền đầu tiên anh ta bỏ ra Vì vậy, lợinhuận và rủi ro được xem là hai yếu tố hàng đầu cầnđược xem xét.
Trang 11* Lợi nhuận quá khứ của một khoản đầu tư
Gọi HPR: là tỉ suất thu nhập trong kỳ của một khoản đầu tư
HPY: là tỉ suất sinh lợi của một khoản đầu tư
Ta có:
HPR = Giá trị cuối kỳ / Giá
trị đầu kỳ HPY = HPR – 1
Nếu kỳ khảo sát bao gồm nhiều năm (n năm): thì tỉsuất thu nhập và tỉ suất sinh lợi hàng năm được tính theocông thức sau:
HPR hàng năm = HPR1/n
HPY hàng năm = HPR hàng năm – 1
Nếu tính HPR và HPY theo từng năm, ta sẽ có mộtchuỗi tỉ suất thu nhập và tỉ suất sinh lợi của mộtkhoản đầu tư Lúc này, để xác định tỉ suất lợi nhuậncủa một khoản đầu tư người ta dùng 2 phương pháp:
* Phương pháp số học:
* Lợi nhuận ước tính của một khoản đầu tư
Một khoản đầu tư dài hạn luôn luôn phải trãi quanhiều biến động mang tính chu kỳ Tại các thời điểmbiến động đó, chúng tất nhiên mang lại các mức lợi
Trang 12nhuận khác nhau Xác định một tỉ suất lợi nhuận ướctính của một khoản đầu tư,
Trang 13∑i
= 1
(P ) (R)
* Đo lường rủi ro của tỉ suất lợi nhuận đầu tư ước tính :Ứng dụng các công thức toán cao cấp, người ta xác định rủi ro của tỉ suất lợi
Đ(oδä bie) á=n th∑iênP(δ[R2
)-=E(∑R )(]Xác suất xảy ra) (R tương ứng - R
ước tính)2
i = 1 i i
nhuận đầu tư thông qua độ biến thiên của nó:
Độ biến thiên bằng không (0) có nghĩa là khoản đầu
tư không có rủi ro Tuy nhiên, trên thực tế, điều này chỉ xảy ra tương đối
Độ lệch chuẩn (δ) là căn bậc 2 của độ biến thiên cũng là một đại lượng thể hiện rủi ro
= 1
HPYii
[
Trang 14- E(HPY)]2 /n
δ : Độ biến thiên (thể hiện rủi ro của khoản đầu tư)
Trang 15HPYi : Tỉ suất sinh lợi trong kỳ thứ i.
E(HPY) : Tỉ suất sinh lợi ước tính (thường được tínhbằng phương pháp số học)
n : Số kỳ khảo sát
1.2 Chứng khoán – Thị trường chứng khoán
1.2.1 Định nghĩa:
Chứng khoán:
Là một sản phẩm tài chính mà đối với người sở hữunó là tài sản, còn đối với người phát hành nó lànguồn vốn Là một tài sản có giá trị và có thể quyđổi ra tiền một cách dễ dàng thông qua hoạt động trênmột loại thị trường riêng của nó
Là thành phần thứ hai của hệ thống tài chính, đôi khiđược gọi là các “thành phẩm đầu tư” Bởi bất cứ giaodịch tài chính nào cũng tạo ra một chứng khoán Tuy cácgiao dịch tài chính ngày nay có thể tạo nên các chứngkhoán kỳ quái và lạ dạng, nhưng toàn bộ hệ thống tàichính đang và sẽ luôn luôn biến chuyển thích ứng vớinền kinh tế hiện thực
Thị trường chứng khoán:
+ Thị trường tài chính: Một thị trường tài chính có tổ
chức là địa điểm mà tại đó hệ thống chứng khoán hìnhthành (tức các chứng khoán được tạo ra và được chuyểnnhượng)
+ Thị trường chứng khoán: Là một dạng của thị
trường tài chính, là nơi giao dịch mua bán chứng khoán
Ở đây, các chứng khoán được lưu chuyển thông qua mộthệ thống “chào bán – chào mua” rất chuyên nghiệp Vìvậy, ở đây các chứng khoán mới bộc lộ được tính thanhkhoản cao, với chi phí chuyển đổi thành tiền được xem làthấp nhất
Thị trường chứng khoán có thể là một thị trườngcó tổ chức hoặc không tổ chức; tập trung hoặc khôngtập trung; chính thức (có đăng ký) hoặc phi chính thức; cóthể là thị trường thô sơ hoặc vi tính hóa; nhưng tựu trunglại, chúng có chung một đặc điểm là một thị trường tự
do, không có sự độc đoán, can thiệp, cưỡng ép về giá
Trang 16cả Giá mua bán chứng khoán trên thị trường chứngkhoán hoàn toàn do cung cầu quyết định.
Trang 171.2.2 Phân loại chứng khoán:
Các chứng khoán có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau, chẵng hạn như chúng có thể được phân theo:+ Người ký phát chúng
+ Loại đơn vị tiền tệ được chỉ định
+ Quyền sở hữu và các quyền được dự phần của
chúng
+ Tài sản thế chấp đem cầm cố dựa trên chúng
+ Thời gian đáo hạn của chúng
+ Các hình thức thanh toán lợi nhuận của chúng
…
Theo một cách phân loại khác, người ta chia chứng khoán
ra các loại như sau:
* Các loại chứng khoán của thị trường tiền t ệ: (thích hợp cho các nhu cầu vốn ngắn hạn) Bao gồm:
+ Các chứng khoán được định giá trên cơ sở lãi suất: chẵng hạn các khoản tiền gửi và các chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng
+ Các chứng khoán được định giá theo quy tắc chiếtkhấu: Bao gồm các ngân phiếu, hối phiếu, thương phiếu,các chứng từ thuận nhận bởi ngân hàng, … Chúng đượcbán đi dựa trên cơ sở chiết khấu giá bình quân
* Chứng khoán của thị trường vốn : (phục vụ cho nhu cầu vốn dài hạn)
+ Trái phiếu: Thường có thời gian đáo hạn trên một năm và thường là các chứng chỉ “vô danh” để có thể buôn bán được trên thị trường một cách thuận tiện
Người ta phân biệt các trái phiếu chủ yếu dựa vào người phát hành chúng:
- Trái phiếu Chính phủ: bao gồm:
Trái phiếu Kho bạc (Treasury bonds): kỳ hạn 5 đến 30 năm
Trang 18Tín phiến Kho bạc (Treasury notes): kỳ hạn 3, 6 tháng hay 1 năm Kỳ phiếu Kho bạc (Treasury bills): kỳ hạn 1 năm.
- Trái phiếu doanh nghiệp
Trang 19- Trái phiếu đô thị.
+ Cổ phiếu: là một chứng chỉ không có khả năngthu lại tiền vốn ban đầu, nhưng nó thể hiện 2 đặcquyền của người cầm giữ: quyền được hưởng cổ tứcvà đặc quyền được tham gia vào các quyết định kinhdoanh của công ty (thông thường) Đôi khi nó còn baogồm cả quyền đặt mua trong trường hợp công ty pháthành cổ phiếu mới Cổ phiếu nói chung chỉ có 02dạng: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường: còn gọi là cổ phiếu vốn Loại cổphiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và đượctăng giá khi công ty kinh doanh có lãi và phát triển tốt.Cổ phiếu ưu đãi: bao gồm nhiều loại, tùy thuộc vào ýmuốn của công ty phát hành ra nó
Hàng hóa của thị trường chứng khoán ngày một đadạng hơn Ngoài các trái phiếu, cổ phiếu còn có cácchứng khoán dẫn xuất, hợp đồng quyền lựa chọn, giấychứng nhận quyền mua, các loại hợp đồng ký trước vàhợp đồng giao sau,… Một số trong chúng không đại diệncho một giá trị tiền tệ nào mà chỉ thể hiện một sốthỏa thuận về một đặc quyền làm một việc gì đó liênquan đến chứng khoán Vì thế chúng vẫn được xem nhưcác chứng khoán có giá và vấn đề định giá cácchứng khoán này thường gặp nhiều khó khăn hơn cácchứng khoán thông thường
1.2.3 Xác định các yếu tố cấu thành giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán:
Giá chứng khoán giao dịch trên thị trường gọi là “thịgiá” của chứng khoán Tùy vào từng loại chứng khoánmà người ta có các cách để xác định thị giá của nó khigiao dịch Thị giá của chứng khoán luôn là hệ quả củalợi nhuận và rủi ro ước tính của chúng Lợi nhuận xéttrên một giác độ tổng quát có bao hàm tất cả cácyếu tố tác động và chứa đựng cả việc tính toán loại trừcác chi phí thuộc về rủi ro Vì thế, giá của một chứngkhoán trên thị trường được xác định dựa trên sự đánhgiá các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hay người tathường gọi là tỉ suất chiết khấu của chứng khoán đótrên thị trường Các yếu tố này bao gồm:
10
Trang 20• Thời gian và sự rủi ro .
• Lãi suất đầu tư thực dự tính :
Là lãi suất thực tế nếu loại trừ ảnh hưởng của yếutố lạm phát Lãi suất đầu tư thực dự tính là khoản đềnbù thực sự những gì mà nhà đầu tư đã hy sinh và thường
10
Trang 21được tính toán dựa trên lãi suất đầu tư ước tính nhận đượcloại trừ đi lãi suất ảo do lạm phát mang lại.
• Tỉ lệ lạm phát dự tính :
Biểu thị sự gia tăng của giá cả hàng hóa hay sự
mất giá của đồng tiền Theo Fisher, tỉ lệ lạm
phát dự tính: (l) được xác định theo công thức:
l = r – p (lãi suất danh nghĩa – lãi suất thực) ⇒ r = p + l
• Chi phí chuyển sang tiền mặt dự tính :
Chi phí chuyển sang tiền mặt thường gia tăng cùng với kỳ hạn thanh toán nợ nhưng sẽ theo một tỉ lệ giảm dần.Mối quan hệ giữa lãi suất với thời gian của một
khoản vay được gọi là “Đường hiệu suất”
Hình 1.1 Đường hiệu suất của một khoản tiền vay
Chi phí chuyển sang tiền mặt luôn mang dấu dương vàgia tăng ngay cả khi chứng khoán có khả năng tiêu thụhoàn hảo Nếu chi phí chuyển sang tiền mặt được ký
hiệu là e, thì lãi suất danh nghĩa lúc này là: r = p + l + e
• Chi phí rủi ro đã dự tính :
Các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với 2 rủi ro chủyếu: rủi ro đặc trưng và rủi ro thị trường
11
Trang 22Nếu đặt rủi ro thị trường là δ, thì Lãi suất danh nghĩa
lúc này là: r = p + l + e +
1.2.4 Lợi nhuận, rủi ro và cách định giá của một chứng khoán:
Lợi nhuận và rủi ro là hai thuộc tính không thể táchrời của bất kỳ một chứng khoán nào Nó cấu thànhnên các công thức xác định giá cả của một chứngkhoán Các chứng khoán nhìn chung được đem ra buônbán dựa trên giá cả của chúng Nhưng do cấu trúcphức tạp của lượng tiền vốn phụ thuộc vào từng thểloại nên chúng không thể đem ra so sánh với nhau về
22
Trang 23mặt giá cả Thay vào đó, chúng thường được so sánhvới nhau về tỉ suất lợi nhuận và mức độ rủi ro.
Cũng dễ dàng nhận thấy rằng, khi cầm giữ mộtchứng khoán, một nhà đầu tư thiên về ngắn hạn (tứcmua bán để hưởng chênh lệch giá) thường để ý đếngiá cả hơn Trong khi đó, những nhà đầu tư dài hạn lạichủ yếu quan tâm đến lợi nhuận
23
Trang 24và rủi ro của chứng khoán Song, dù sao đi nữa, giá cảcủa một chứng khoán tại một thời điểm nào đó vẫnđược tính toán dựa trên lợi nhuận và rủi ro Đối với cáckhoản lợi nhuận và rủi ro ước tính thì thông thường cáckhoản lợi nhuận mong đợi càng lớn thì rủi ro dự tính cũngtăng theo.
Lợi nhuận và rủi ro của một khoản đầu tư nêu ởphần trên đã hàm chứa cả lợi nhuận và rủi ro củamột chứng khoán Các chứng khoán khác nhau hẳnnhiên có các vấn đề về giá cả khác nhau Trong giớihạn của phần trình bày cơ sở lý luận của các dẫnnhập, chúng tôi chỉ nêu ra các công thức tính toán màkhông chứng minh chúng và cũng chính vì lý do đó, chúngtôi cũng chỉ phân tích giới hạn ở một số các loại chứngkhoán thông thường
Giá của một chứng khoán nói chung được giao dịchtrên thị trường phụ thuộc vào quan hệ cung cầu củanó, lãi suất thị trường hiện tại và kết quả hoạt động(kinh doanh) của nơi phát hành Tuy nhiên, không thể vuợt
xa quá giá trị thực của nó Giá trị này được xác địnhbằng hiện giá tất cả các khoản thu nhập từ chứngkhoán đó trong tương lai
• Trái phiếu :
+ Theo nguyên tắc chiết khấu:
Sử dụng đối với các trái phiếu có mệnh giá bằnggiá trị đáo hạn và không trả lãi định kỳ
PV = F
(1+ r)nVới: F : Mệnh giá (bằng giá trị chi trả
lúc đáo hạn) r : Lãi suất thị
24
Trang 25PV = Hiện giá của chuỗi chi trả lãi + Hiện giá của vốn gốc
Trang 26Với, C : Lãi phải trả hàng năm (lãi suất x mệnh giá(F)).Cũng có cách tính đối với trường hợp trả lãi nhiều lần trong một kỳ Ví dụ trả lãi 6 tháng một lần:
r = r6t / 2 và t = 2 * t6t
Đối với các trái phiếu hưởng lãi suất vĩnh viễn,
không đáo hạn hay còn gọi là trái phiếu vô thời hạn
PV = C
rĐối với các trái phiếu có dòng tiền tệ (tiền lãi) hỗn hợp (theo lợi nhuận của công ty phát hành)
t = 1 (1 + r) (1 + r)Với giá thị trường trái phiếu có sẵn Thông thường,để quyết định mua hoặc bán 01 trái phiếu, người tathường tính tỉ suất hoàn vốn trung bình (là mức lãi suấtmà tại đó giá trị hiện tại các khoản thu từ trái phiếubằng với giá của nó)
Tỉ suất hoàn vốn trung bình hay còn gọi là tỉ suất sinh lợi đến khi đáo hạn:
+
+
C
(1+ y) n
=
n
F + 2P3YTM tính được sẽ nằm vào 1 trong 3 trường hợp như sau:
* YTM = r (lãi suất thị trường): Lúc này hiện giá của trái phiếu bằng với giá bán của nó trên thị trường
Trang 27* YTM > r : lãi suất thực tế của thị trường nhỏ hơn làm cho hiện giá của trái phiếu lớn hơn so với giá thị trường củanó Nhà đầu tư nên mua.
Trang 28* YTM < r : trường hợp ngược lại Nhà đầu tư nên bán.Một môi trường không có rủi ro khiến người ta có thểdự tính được lãi suất trên thị trường ở các thời điểmtrong tương lai Nhưng thực tế, lãi suất trên thị trường làmột yếu tố biến động và rất nhạy cảm Nó khôngnhững chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi trên thị trườngtài chính mà còn mang yếu tố chủ quan từ các chínhsách của Chính phủ Những thay đổi này đem lại rủi ro chotrái chủ Và những rủi ro đó người ta gọi là rủi ro lãisuất.
• Cổ phiếu :
Giá cổ phiếu được cấu thành từ 2 luồng tiền tệ:
- Tiền lời định kỳ (ký hiệu D)
- Giá cổ phiếu chuyển nhượng trong tương lai (P)
Giả sử, sau t năm, cổ phiếu sẽ được chuyển nhượngvới giá Pt Như vậy, nếu người ta không chuyển nhượngnữa thì Pt chính là hiện giá tại thời điểm t của cáckhoản tiền lời từ năm t cho đến vĩnh viễn
* Lợi tức cố định :
Nếu mức cổ tức được xác định cố định từ đầu:
P = Do
r
Với: r là lãi suất của cổ phiếu
* Tiền lời tăng đều :
Theo gia tốc tăng trưởng của công ty Gọi gia tốc này là
g, ta có:
D n
D t
28
Trang 30Với r > g
Po = D0
r − g
* Tiền lời không tăng đều :
Với m: số năm kể từ đó, gia tốc tăng đều vĩnh viễn (gm)
Từ năm thứ 1 đến m: tiền lời
tăng không đều Từ năm thứ
m+1 trở đi: tiền lời tăng đều.
P/E =Giátại cổ phiếu hiện
Thu nhập của từngcổ phiếu
P/E
= EPP
SNgười ta thường nhìn P/E như một chỉ số thể hiện niềmtin của thị trường vào sự phát triển của công ty trongtương lai Tuy nhiên, nếu đem nghịch đảo ta sẽ có tỉ suấtlợi nhuận thực Vì vậy, thực sự rất khó đánh giá chỉ sốP/E như thế nào là vừa phải
Nếu cổ phiếu thường có tốc độ tăng trưởng đều.Người ta còn có một chỉ số gọi là tỉ suất lãi mong đợiđể đánh giá một cổ phiếu
Trang 32Với: Po : Giá trị hiện tại của cổ phiếu.
D1 : Tiền chia lời trên cổ phiếu năm thứ 1 (cổ tứctheo những năm trước)
P1 : Giá ước đoán cổ phiếu năm thứ 1
g : Mức độ tăng trưởng (dựa vào tài liệu thống kê)
So với trái phiếu, rủi ro của cổ phiếu có chiều đadạng, phức tạp và khó lường hơn Chúng có nhiều dạngvà sẵn sàng ập đến với nhà đầu tư bất cứ lúc nào.Những dạng chính có thể kể đến là rủi ro lãi suất, rủi rosức mua, sự bất ổn của thị trường, quản lý tồi, mấtvốn, thiếu khả năng thanh toán, hoàn trái, chuyển đổi,
… Để tiện việc nghiên cứu, người ta phân chúng ra làm 2loại chính:
- Rủi ro có hệ thống: có tầm ảnh hưởng lớn đến toàn bộ các hình thức đầu tư như thay đổi chính sách kinh tế, chính trị, môi trường, xã hội, …
- Rủi ro không hệ thống: bãi công, quảng cáo, kiện tụng, thay đổi khuynh hướng tiêu dùng, …
1.3 Danh mục đầu tư – Phân tích danh mục đầu tư trên
thị trường chứng khoán.
1.3.1 Danh mục đầu tư:
Phần trên chúng ta đã phân tích lợi nhuận, rủi ro củaviệc đầu tư một chứng khoán cùng với biện pháp hạnchế rủi ro là đa dạng hóa đầu tư Thực tế chứng minhrằng một nhà đầu tư hiếm khi chỉ bỏ tiền ra để đầu tưchỉ một loại chứng khoán mà thường có xu hướngphân chia vốn của mình ra để đầu tư nhiều loại cùngmột lúc nhằm tạo ra cân bằng triệt tiêu rủi ro, an toàntrong đầu tư và tất nhiên đôi khi cân bằng này cũngkhiến lợi nhuận từ việc đa dạng hóa cũng triệt tiêutương ứng Một kết hợp hiệu quả các chứng khoán làmsao để lợi nhuận tối đa trong điều kiện rủi ro tối thiểu làbài toán mà các nhà đầu tư luôn phải tìm kiếm chomình Chính vì vậy mà các lý thuyết đầu tư ngày naykhông chỉ dừng lại ở việc giúp các nhà đầu tư địnhgiá, so sánh lãi lỗ của từng chứng khoán mà cònnghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp giúp các nhà
32
Trang 33đầu tư lựa chọn, kết hợp các hành vi đầu tư đơn lẻ thànhmột danh mục hiệu quả nhất trong giới hạn vốn chophép Ngày nay, vốn đầu tư không chỉ giới hạn ở vốnthực có của nhà đầu tư mà
33
Trang 34bao hàm cả vốn huy động trên thị trường và các lý
thuyết hiện đại cũng cho phép việc tính đến các hành vi mua bán khống trong danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư tóm lại là sự kết hợp các hoạt độngđầu tư riêng lẻ của một nhà đầu tư bao gồm tất cảcác loại đầu tư : đầu tư thực (xây dựng biện viện, trườnghọc, một dự án trồng cà phê,…) và đầu tư tài chính(mua bán, cầm giữ các chứng khoán, các loại giấy tờcó giá,…) Tuy nhiên, nhằm có được những phân tích sâuvào các chuyên mục, đề tài giới hạn tại các danh mụcđầu tư chỉ bao gồm các chứng khoán
1.3.2 Quyền số của danh mục đầu tư:
Với một số vốn nhất định, nhà đầu tư trước hếtphải chọn được một tỉ trọng phân bổ vốn mà người tacòn gọi là quyền số danh mục Theo phương diện toánhọc, điều này bao hàm cả việc xác định, chọn lọc danhsách chứng khoán đầu tư Bởi một chứng khoán khôngđược chọn sẽ có quyền số bằng 0% Quyền số chính là
tỉ trọng giá trị của một chứng khoán so với tổng giá trịdanh mục (hay tổng vốn đầu tư)
Gọi xi là quyền số của chứng khoán thứ i trong
danh mục đầu tư, ta có: xi = vi / Σv
Với: vi : Giá trị của chứng khoán thứ i
Σv : Tổng giá trị của danh mục đầu tư
Quyền số một chứng khoán trong danh mục đầu tư cóthể dương hay âm Trong trường hợp quyền số âm, người tagọi là bán khống
1.3.3 Lợi nhuận – Lợi nhuận ước tính của danh mục đầu tư:
Lợi nhuận của một chứng khoán chỉ có thể xácđịnh một cách chính xác khi hoạt động đầu tư chấm dứt,tức là người ta đã bán nó đi Vì thế mà lợi nhuận củamột danh mục đầu tư trong thời gian nhà đầu tư đang cầmgiữ nó trong tay chỉ xác định được một cách tương đối
Vì vậy, để tìm kiếm một danh mục đầu tư hiệu quảngười ta buộc phải dùng lợi nhuận ước tính để tính toán.Sự ước tính thể hiện kỳ vọng và dự đoán của nhà đầu
Trang 35tư cho một mức lợi nhuận trong tương lai Đi từ lợi nhuậnước tính của từng chứng
Trang 36khoán, người ta xây dựng lợi nhuận danh mục đầu tư theo phương thức trung bình cộng.
N
Ep = ∑ x i E i
i= 1Với:Ep : Lợi nhuận ước tính của danh
mục đầu tư Ei : Lợi nhuận ước
Mặt khác, cũng cần phải lưu ý rằng, lợi nhuận ướctính của một danh mục đầu tư là một số động Nó biếnthiên liên tục theo thời gian và tùy thuộc vào sự biếnthiên của các yếu tố cấu thành nên nó Độ biến thiêntồn tại phản ánh mức rủi ro mà nhà đầu tư có thểgặp trong ước tính thu nhập của danh mục Trong công thứctrên, Ei đã bao hàm cả mức độ rủi ro và chúng ta sẽthấy được điều này khi phân tích các mô hình định giátài sản
1.3.4 Rủi ro – rủi ro ước tính của danh mục đầu tư:
Phân tích sự kết hợp từ nhiều rủi ro đơn lẻ để tạothành rủi ro của danh mục đầu tư, người ta nhận thấyrằng: sự tương quan giữa các chứng khoán cũng là mộtyếu tố cần được xét đến Công thức tổng quát tính độbiến thiên của một danh mục đầu tư được thiết lập nhưsau:
Trang 37δi : Độ biến thiên tỉ lệ thu nhập của chứng khoán thứ i.
37
9
δ2
Trang 38δij : Độ chênh lệch tỉ lệ thu nhập giữa chứng khoán thứ i và thứ j.
ρij = δij / δiδj : Hệ số tương quan tỉ lệ thu nhập giữ chứng khoán thứ i và chứng khoán thứ j
Tính không thích rủi ro của các nhà đầu tư đã đượcchứng minh bằng cách thiết lập hàm hữu dụng của cảidự tính từ việc đầu tư rủi ro Và chúng ta cũng biết rằnggiải pháp hạn chế rủi ro là việc đa dạng hóa Thật vậy,sự đa dạng hóa tạo ra một kết hợp mà trong đó các rủi
ro đơn lẻ có thể triệt tiêu lẫn nhau và tổng các rủi rolà nhỏ nhất Để phân tích một cách có hệ thống vềtác động làm giảm rủi ro từ việc đa dạng hóa, người tachia ra các trường hợp sau:
* Trường hợp 1 : Các chứng khoán có thu nhập tương quan
dương hoàn hảo
Giả thiết trong danh mục nghiên cứu chỉ có 2
chứng khoán 1 và 2 Gọi: rp : Tỉ lệ thu nhập của
danh mục đầu tư
x1, x2 : quyền số của các chứng khoán 1 và 2 trong danh mục
r1, r2 : tỉ lệ thu nhập của các chứng khoán 1 và 2
Ta có, tỉ lệ thu nhập của danh
mục đầu tư là: rp = x1 r1 + x2
Trang 39Hình 1.3 Tập hợp các cơ hội danh mục đầu tư khi các chứng
khoán có tương quan dương hoàn hảo.
Quan hệ tuyến tính cho thấy không có lợi từ việc đadạng hóa Vì khi một đơn vị tỉ lệ rủi ro tăng lên thì tỉlệ thu nhập của danh mục đầu tư cũng tăng lên mộtlượng tương ứng Hay nói một cách khác là người takhông thể hạn chế rủi ro mà không phải hy sinh mộtkhoản thu nhập nào đó
* Trường hợp 2 : Các chứng khoán có tương
quan âm hoàn hảo: Khi ρ12 = -1, tương tự như giả
thiết trường hợp 1, ta có:
Tỉ lệ thu nhập dự tính rp không thay đổi
Trong khi độ biến thiên:
Trang 40Hình 1.4 Tập hợp các cơ hội danh mục đầu tư các chứng khoán có tương quan âm hoàn hảo
Như vậy, trong các cơ hội của danh mục đầu tư cácchứng khoán có tương quan âm hoàn hảo tồn tạimột kết hợp làm cho rủi ro bằng 0 Một nhà đầu tưkhôn ngoan sẽ luôn chọn kết hợp P mà tại đó rủi rolà không tồn tại Điều này cũng biểu hiện lợi điểmcủa đa dạng hóa khi các chứng khoán có tương quanâm là hiển nhiên
* Trường hợp 3 : Các chứng khoán không tương quan.
Trường hợp trước là một ví dụ đặc biệt về lợi íchcủa đa dạng hóa Nhưng không thể có trong thực tếcác chứng khoán có tương quan am âm hoàn hảo.Mặc dù người ta đã sử dụng các nguyên tắc tự bảohiểm như: hợp đồng giao sau, hợp đồng lựa chọn đểkhai thác tương quan này Tuy nhiên, vẫn có lợi nếutiến hành đa dạng hóa khi các chứng khoán hoàntoàn không có tương quan Tiếp tục giả thiết như cáctrường hợp trên về số lượng các chứng khoán khảosát, ta thấy:
Khi ρ12 = 0 (tức là tỉ lệ thu nhập của 2 chứng khoán làhoàn toàn không tương
quan) Độ biến thiên của
danh mục là: δ 2 = x 2δ 2 + x 2 δ 2