MỤC LỤC PHẦN A MỞ ĐẦU Tổng quan nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu PHẦN B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐẠI DỊCH COVID 19 VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT.MỤC LỤC PHẦN A MỞ ĐẦU Tổng quan nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu PHẦN B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐẠI DỊCH COVID 19 VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT.
Trang 1
MỤC LỤC PHẦN A: MỞ ĐẦU
Tổng quan nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu:
PHẦN B: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐẠI DỊCH COVID-19 VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 1
1.1 Sơ lược về Covid-19 và nền kinh tế 1
1.2 Sơ lược ảnh hưởng của Covid-19 đến nền kinh tế toàn cầu 2
1.3 Sơ lược ảnh hưởng của Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 6
2.1 Các công cụ đo lường kinh tế 6
2.2 Một số khái niệm: 6
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM 7
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHỤC HỒI NỀN KINH TẾ 7
4.1 Tăng cường tiêm vắc xin: 30
4.2 Thực hiện tốt các biện pháp y tế: 30
4.3 Chính sách tiền tệ 30
4.4 Chính sách tài khóa 33
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 35
TÀI LIÊU THAM KHẢO 36
Trang 2ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Tóm tắt
COVID-19 không chỉ là đại dịch toàn cầu và khủng hoảng sức khỏe cộng đồng, nó cũng
đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu và thị trường tài chính Thu nhậpgiảm đáng kể, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và gián đoạn các ngành vận tải, dịch vụ và sảnxuất là một trong những hậu quả của các biện pháp giảm thiểu dịch bệnh đã được thựchiện ở nhiều quốc gia Rõ ràng là hầu hết các chính phủ trên thế giới đều đánh giá thấpnguy cơ lây lan nhanh chóng của COVID-19 và hầu hết đã phản ứng trong ứng phókhủng hoảng của họ Do các đợt bùng phát dịch bệnh không có khả năng biến mất trongtương lai gần, nên các hành động quốc tế chủ động được yêu cầu không chỉ để cứu sốngngười dân mà còn bảo vệ sự thịnh vượng kinh tế Để hiểu rõ những hậu quả mà đại dịchcovid-19 gây ra cho nên kinh tế chúng em xin chọn đề tài: “Đánh giá những tác động củadịch covid-19 ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam.”
Để hiểu rõ những hậu quả mà đại dịch covid-19 gây ra cho nên kinh tế chúng em xinchọn đề tài: “Đánh giá những tác động của dịch covid-19 ảnh hưởng đến nền kinh tế ViệtNam”
PHẦN A: MỞ ĐẦU
1 Tổng quan ghiên cứu
- Đối với các nghiên cứu nước ngoài, theo như bài nghiên cứu của Luis Varona và Jorge
R Gonzales (2021) đã tiến hành phân tích các động lực hành vi ngắn hạn của hoạt động kinh tế, cũng như giải thích các mối quan hệ nhân quả trong bối cảnh đại dịch COVID-19dựa trên số lượng lan truyền cơ bản của COVID-19 mỗi ngày[1] Dữ liệu nghiên cứu được thu thập với các biến kinh tế, bao gồm: chỉ số hoạt động kinh tế, chỉ số chi tiêu công, chỉ số lãi suất thực, chỉ số tỷ giá hối đoái, chỉ số giá đồng quốc tế, chỉ số giá cổ phiếu của Sở Giao dịch chứng khoán Lima,…
- Nghiên cứu của Akbulaev và cộng sự (2020) tập trung vào tác động kinh tế của
COVID-19 [2] Trong đó, mô tả tác động kinh tế của COVID-19 đối với các quốc gia, phản ánh tác động đối với xuất khẩu, những quốc gia nào đã ngừng xuất khẩu sản phẩm,
và đối với nhập khẩu Nghiên cứu đánh giá tác động của COVID-19 đối với kinh tế trên nhiều khía cạnh, từ tác động sản xuất, việc làm, xuất nhập khẩu cho đến phân tích những
sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người sản xuất trong chế độ kiểm dịch, nhiều số liệu tổng hợp được sử dụng trong nghiên cứu
- Đối với các nghiên cứu trong nước, đầu tiên, nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn (2020) đã đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 đến kinh tế thế giới nói
Trang 3chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng[3] Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hệ thống tài chính, kim ngạch xuất nhập khẩu, tình hình lao động,… Nghiên cứu cho thấy, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động
thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động
- Trong nghiên cứu của TS Bạch Hồng Việt, thông qua những tư liệu và số liệu thống kê tổng hợp, nghiên cứu đã phân tích tác động của đại dịch COVID-19 đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam[4] Nghiên cứu cho thấy hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất, kinh doanh trên thế giới bị đình trệ Trước tình hình đó, cácquốc gia đều phải tung ra các gói hỗ trợ kinh tế trong nước Ngoài ra, một trong những nhân tố tạo động lực cho sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế là việc đẩy mạnh đầu tư công
- Một nghiên cứu khác của Lê Hải Đường (2020) cho thấy phương châm của lãnh đạo nước ta trong việc vừa chống dịch hiệu quả, vừa tập trung phục hồi phát triển kinh tế - xã hội [5] Nghiên cứu đánh giá trên nhiều khía cạnh của nền kinh tế, bao gồm: tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ thất nghiệpcủa lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị và tỷ lệ lao động qua đào tạo không đạt kếhoạch,… Qua đó, phân tích và nhận diện những khó khăn, thách thức cũng như những cơhội trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Vấn đề nghiên cứu nhằm đưa ra thực trạng của dịch covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam.Bên cạnh đó tìm hiểu, đánh giá và phân tích những hậu quả của đại dịch Covid-19 để lại nền kinh tế Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu:
Nền kinh tế Việt Nam trong đại dịch COVID-19
4 Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu trong phạm vi cả nước Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tài liệu và thu thập dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu định tính
Trang 4PHẦN B: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐẠI DỊCH COVID-19 VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.1 Sơ lược về Covid-19 và nền kinh tế
Đại dịch COVID-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus
SARS-CoV-2, đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân Giới chức y tế địa phương xác nhận rằng trước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam Các nhà khoa học Trung Quốc
đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng coronavirus mới, được Tổ chức Y
tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV, có trình tự gen giống với SARS-CoV trướcđây với mức tương đồng lên tới 79,5%
Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019 Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm
2020 Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoài Trung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020 Ngày 23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất - nhập khẩu đều bị tạm ngưng
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi "COVID-19"
là "Đại dịch toàn cầu”
Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã tiến hành phản ứng đáp trả nhằm bảo vệ sức khỏengười dân cũng như các nhóm cộng đồng trên toàn cầu, bao gồm: hạn chế đi lại, phong tỏa kiểm dịch, ban bố tình trạng khẩn cấp, sử dụng lệnh giới nghiêm, tiến hành cách ly xãhội, hủy bỏ các sự kiện đông người, đóng cửa trường học và những cơ sở dịch vụ, kinh doanh ít quan trọng, khuyến khích người dân tự nâng cao ý thức phòng bệnh, đeo khẩu trang, hạn chế ra ngoài khi không cần thiết, đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động kinhdoanh, học tập, làm việc từ truyền thống sang trực tuyến Một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến như: phong tỏa để kiểm dịch toàn bộ tại Ý và tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc; các biện pháp giới nghiêm khác nhau ở Trung Quốc và Hàn Quốc; phương pháp sàng lọc tại các sân bay và nhà ga; hạn chế hoặc hủy bỏ các hoạt động du lịch tới những khu vực, vùng,quốc gia có nguy cơ nhiễm dịch bệnh ở mức cao Ngoài ra, các trường học cũng đã phải đóng cửa trên toàn quốc hoặc ở một số vùng tại hơn 160 quốc gia, ảnh hưởng đến 87% học sinh, sinh viên trên toàn thế giới, tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2020
Trang 5Những ảnh hưởng trên toàn thế giới của đại dịch COVID-19 hiện nay bao gồm: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội, tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á, việc truyền bá thông tin sai lệch trực tuyến và thuyết âm mưu về virus.
1.2 Sơ lược ảnh hưởng của Covid-19 đến nền kinh tế toàn cầu
Mặc dù không có cách nào để nói chính xác thiệt hại kinh tế từ đại dịch coronavirus COVID-19 toàn cầu sẽ như thế nào, nhưng có sự đồng tình rộng rãi giữa các nhà kinh tế rằng nó sẽ có những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu Các ước tính ban đầu dự đoán rằng, nếu vi rút trở thành đại dịch toàn cầu, hầu hết các nền kinh tế lớn sẽ mất ít nhất 2,9% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của họ vào năm 2020 Dự báo này
đã được điều chỉnh lại thành tổn thất GDP là 4,5% Để đưa con số này vào viễn cảnh, GDP toàn cầu được ước tính vào khoảng 87,55 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2019 – có nghĩa là mức tăng trưởng kinh tế giảm 4,5% dẫn đến sản lượng kinh tế bị mất gần 3,94 nghìn tỷ đô la Mỹ
Thị trường chứng khoán toàn cầu cũng đã bị sụt giảm nghiêm trọng do sự bùng phát của coronavirus, mặc dù chúng đã có thể phục hồi sau những tổn thất khá nhanh chóng Chỉ
số Dow Jones đã báo cáo mức giảm trong một ngày lớn nhất từ trước đến nay là gần 3.000 điểm vào ngày 16 tháng 3 năm 2020 – đánh bại kỷ lục trước đó là 2.300 điểm đượcthiết lập chỉ bốn ngày trước đó
Thiệt hại kinh tế do đại dịch COVID-19 gây ra phần lớn là do nhu cầu giảm, có nghĩa là
có ít người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng hóa và dịch vụ có sẵn trong nền kinh tế toàn cầu
Có thể thấy rõ sự năng động này trong các ngành bị ảnh hưởng nặng nề như du lịch và lữ hành Để làm chậm sự lây lan của virus, các quốc gia đã đặt ra các hạn chế về việc đi lại
và nhiều người không thể mua các chuyến bay cho các kỳ nghỉ hoặc các chuyến công tác
Sự sụt giảm nhu cầu của người tiêu dùng là nguyên nhân khiến các hãng hàng không mất doanh thu theo kế hoạch và do đó họ phải cắt giảm chi phí bằng cách giảm số lượng chuyến bay mà họ khai thác Nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ, các hãng hàng khôngcuối cùng cũng sẽ cần phải cắt giảm nhiều thứ để cắt giảm chi phí hơn Động lực tương
tự cũng áp dụng cho các ngành công nghiệp khác, chẳng hạn với nhu cầu giảm đối với dầu và ô tô mới do việc đi lại hàng ngày, các sự kiện xã hội và ngày lễ không còn khả thi.Khi các công ty bắt đầu giảm việc làm để bù đắp cho doanh thu bị mất, điều đáng lo ngại
là điều này sẽ tạo ra một vòng xoáy kinh tế đi xuống khi những công nhân mới thất nghiệp này không còn đủ khả năng mua nhiều hàng hóa và dịch vụ như trước Động lực này khiến các nhà kinh tế suy nghĩ xem liệu đại dịch COVID-19 có thể dẫn đến suy thoái toàn cầu trên quy mô của cuộc Đại suy thoái hay không
Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang gặp nguy hiểm rõ ràng, nhưng cũng có những lý do để
hy vọng rằng có thể tránh được trường hợp xấu nhất này Các chính phủ đã học được từ
Trang 6các cuộc khủng hoảng trước đó rằng tác động của suy thoái do nhu cầu thúc đẩy có thể được đối phó với chi tiêu của chính phủ Do đó, nhiều chính phủ đang tăng cường cung cấp phúc lợi tiền tệ cho người dân và đảm bảo các doanh nghiệp có quyền truy cập vào các quỹ cần thiết để duy trì việc làm cho nhân viên của họ trong suốt đại dịch Ngoài ra, bản chất cụ thể của cuộc khủng hoảng này có nghĩa là một số ngành có thể được hưởng lợi từ nó Thương mại điện tử, bán lẻ thực phẩm và ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe mang lại ít nhất một số tăng trưởng kinh tế để bù đắp thiệt hại Ngoài ra, có thể quansát thấy sự dịch chuyển gây ra khủng hoảng đối với các hoạt động trực tuyến (làm việc tạinhà, mua hàng trực tuyến, liên hệ với gia đình, v.v.) Nó tạo cơ hội cho các nhà cung cấp giải pháp CNTT tăng thị phần của họ.
Cuối cùng, có một thực tế là cuộc khủng hoảng có thể có một ngày kết thúc rõ ràng khi tất cả các hạn chế có thể được dỡ bỏ - điều này dường như có thể thực hiện được khi phần lớn dân số toàn cầu được tiêm vắc xin COVID-19 Sau đó, nó có thể cho phép nền kinh tế toàn cầu phục hồi mạnh sau khi đại dịch kết thúc Vẫn còn nhiều biến số có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế như vậy – ví dụ, nguồn cung hàng hóa và dịch vụ giảm để đáp ứng nhu cầu thấp hơn có thể tạo ra sự thiếu hụt trung hạn và tăng giá – nhưng có một số lý do để nghĩ rằng, với sự kết hợp phù hợp phản ứng thích hợp của chính phủ và may mắn, một số dự đoán về ngày tận thế hơn có thể không xảy ra
1.3 Sơ lược ảnh hưởng của Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Qua 35 năm đổi mới (1986 – 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăng trưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao Tuy nhiên, trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020 Khác với 2 cú sốc trước là về tài chính – tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh
COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam
Trang 7Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%) Trong đó,doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019 Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng
cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội
Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng
kỳ năm trước – mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 – 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8% Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong
đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7% Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8%
so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020 Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm
2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020 Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu
Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7% Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9% Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020 Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu
Trang 8cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh
tế nước ta
Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng vớithực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút
Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3% Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020 Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8%vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020” Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn Cũng theo kết quả điều tra của UNDP
và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-
2019 Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mứccủa tháng 12-2019 Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”
COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhà nước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để
Trang 9lây lan trong cộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trở lại trước khi dịch bệnh bùng phát lần nữa vào cuối tháng 7-2020
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Các công cụ đo lường kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là thước đo tiêu chuẩn của giá trị gia tăng được tạo ra thông qua sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Như vậy, nó cũng đo lường thu nhập kiếm được từ hoạt động sản xuất đó, hoặc tổng số tiền chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ cuối cùng (nhập khẩu ít hơn) Trong khi GDP là chỉ
số quan trọng nhất để đánh giá hoạt động kinh tế, nó không cung cấp một thước đo phù hợp về phúc lợi vật chất của người dân mà các chỉ số thay thế có thể phù hợp hơn Chỉ số này dựa trên GDP danh nghĩa (còn được gọi là GDP theo giá hiện hành hoặc GDP theo giá trị) và có sẵn trong các thước đo khác nhau: đô la Mỹ và đô la Mỹ trên đầu người (PPP hiện tại) Tất cả các nước OECD tổng hợp dữ liệu của họ theo Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) năm 2008 Chỉ số này ít phù hợp hơn để so sánh theo thời gian, vì sự phát triển không chỉ do tăng trưởng thực tế gây ra mà còn do những thay đổi về giá cả và PPP
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là ước tính tổng giá trị của tất cả các sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng được tạo ra trong một thời kỳ nhất định theo tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của cư dân của một quốc gia GNP thường được tính bằng cách lấy tổng chi tiêu tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân trong nước, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu ròng và bất kỳ thunhập nào mà người cư trú kiếm được từ các khoản đầu tư ở nước ngoài, trừ đi thu nhập kiếm được trong nền kinh tế trong nước của người cư trú nước ngoài Xuất khẩu ròng thể hiện sự chênh lệch giữa những gì một quốc gia xuất khẩu trừ đi bất kỳ nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nào
GNP liên quan đến một thước đo kinh tế quan trọng khác được gọi là tổng sản phẩm quốcnội (GDP), tính đến tất cả sản lượng được sản xuất trong biên giới của một quốc gia bất
kể ai sở hữu tư liệu sản xuất GNP bắt đầu bằng GDP, cộng thu nhập đầu tư của cư dân từcác khoản đầu tư ra nước ngoài và trừ thu nhập đầu tư của cư dân nước ngoài kiếm được trong một quốc gia
2.2 Một số khái niệm:
Thất nghiệp xảy ra khi một người đang tích cực tìm kiếm việc làm không thể tìm được việc làm Tỷ lệ thất nghiệp thường được sử dụng như một thước đo sức khỏe của nền kinh tế Thước đo thất nghiệp phổ biến nhất là tỷ lệ thất nghiệp, là số người thất nghiệp chia cho số người trong lực lượng lao động
Trang 10Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Lạm phát là sự suy giảm sức mua của một loại tiền nhất định theo thời gian Một ước tínhđịnh lượng về tốc độ suy giảm sức mua có thể được phản ánh trong sự gia tăng của mức giá trung bình của một rổ hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nào đó Sự gia tăng của mức giá chung, thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm, có nghĩa là một đơn vị tiền tệ có hiệu quả mua ít hơn so với thời kỳ trước.Lạmphát có thể đối lập với giảm phát, xảy ra khi sức mua của tiền tệ tăng lên và giá cả giảm xuống
Chính sách tiền tệ, mặt cầu của chính sách kinh tế, đề cập đến các hành động do ngân hàng trung ương của một quốc gia thực hiện nhằm kiểm soát cung tiền và đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM
Tổng quan biến động thị trường thế giới:
Trang 11 Thương mại hàng hóa phục hồi mạnh mẽ nhưng triển vọng tăng trưởng thương mại dịch vụ còn khá mong manh
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) , thương mại phục hồi mạnh mẽ nhưng động lực có thể không kéo dài Tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu phục hồi trong Quý III/2020 và tăng tương đối mạnh trong Quý IV/2020, tuy nhiên, tốc độ tăng này khó có thể duy trì trong nửa đầu năm 2021 vì các chỉ số quan trọng hàng đầu dường như đã đạt mức cao nhất Chỉ số thước đo thương mại hàng hóa trong tháng 2/2021 đạt 103,9 cao hơn mức 100,7 trong tháng 11/2020, thể hiện sự cải thiện rõ rệt của thương mại hàng hóa
kể từ khi chỉ số này giảm mạnh trong nửa đầu năm 2020 Tất cả các chỉ số thành phần đều nằm trên xu hướng, nhưng một số chỉ số đã có dấu hiệu giảm đà tăng hoặc sụt giảm trong thời gian tới Các chỉ số về đơn hàng xuất khẩu (103,4) và sản phẩm ô tô (99,8), những chỉ số quan trọng phản ánh thương mại thế giới, vừa đạt đỉnh gần đây và bắt đầu mất đà Ngược lại, hai chỉ số vận chuyển công-ten-nơ (107,3) và hàng không (99,4) vẫn đang tăng Bên cạnh đó, mặc dù các chỉ số về linh kiện điện tử (105,1) và nguyên liệu thô(106,9) cao hơn chỉ số chung nhưng có thể là do dự trữ hàng tồn kho tạm thời đang cao Tổng hợp lại, những xu hướng này cho thấy đà đi lên của thương mại có thể sắp đạt đỉnh.Ngược lại, thương mại dịch vụ vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi rõ nét Thương mại dịch vụtoàn cầu trong Quý II/2020 giảm 24% so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu thống kê WTO công bố ngày 26/1/2021 Dữ liệu sơ bộ cho thấy, trong tháng 11/2020, thương mại dịch vụ vẫn thấp hơn 16% so với mức của năm 2019 Triển vọng phục hồi vẫn kém vì đợtlây nhiễm COVID-19 thứ hai đòi hỏi các biện pháp ngăn chặn mới, chặt chẽ hơn ở nhiều quốc gia, với các hạn chế thắt chặt đối với du lịch và các dịch vụ liên quan kéo dài đến Quý I/2021 Du lịch vẫn là lĩnh vực dịch vụ bị ảnh hưởng nhiều nhất, giảm 68% trên toàncầu so với cùng kỳ năm 2019 Trong Quý III/2020, chi tiêu của khách quốc tế giảm 88%
ở châu Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê, 80% ở cả châu Á và châu Phi, 78% ở Bắc Mỹ và 55% ở châu Âu
Giá cả trên thị trường hàng hóa có xu hướng phục hồi
Trang 12WB nhận định giá hàng hóa tiếp tục phục hồi, với giá năng lượng tăng 10% và giá các mặt hàng phi năng lượng tăng 4% trong tháng 01/2021 Giá dầu tiếp tục tăng trong tháng 02/2021 bất chấp việc Cơ quan Năng lượng Quốc tế hạ thấp triển vọng nhu cầu dầu trongnửa đầu năm 2021 do các đợt ngừng hoạt động mới Giá dầu thô Brent đạt 65 USD/thùnglần đầu tiên trong năm, được hỗ trợ bởi quyết định hạn chế sản xuất của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và các đối tác Giá kim loại cũng đang tăng, phần lớn là do nhu cầu mạnh mẽ từ Trung Quốc Giá nông sản tiếp tục tăng, tăng 5% trong tháng 01/2021, đạt mức cao nhất kể từ năm 2014 Mức tăng lớn nhất là giá ngũ cốc và hạt có dầu do nhu cầu tăng cao từ Trung Quốc và sự thiếu hụt sản lượng ở một số khu vực, chẳng hạn như sụt giảm sản lượng đậu tương ở Nam Mỹ và dầu cọ ở Nam Á do thời tiết khô hạn.
Điều kiện tài chính toàn cầu giúp tăng niềm tin của nhà đầu tư
Theo WB, chi phí đi vay vẫn ở mức thấp Trong tháng 02/2021, thị trường chứng khoán toàn cầu đạt mức cao trong nhiều năm khi giá tài sản tiếp tục tăng do kỳ vọng vào các biện pháp kích thích kinh tế mới tại Hoa Kỳ và triển vọng đối phó với đại dịch có dấu hiệu cải thiện Các điều kiện tài chính tương đối thuận lợi khi các ngân hàng trung ương lớn tái khẳng định việc tiếp tục mua tài sản Chi phí đi vay của doanh nghiệp đang ở mức thấp Việc định giá vốn cổ phần cao và lãi suất thấp cũng đang thúc đẩy hoạt động huy động vốn cổ phần trên toàn cầu Các tập đoàn đã huy động được gần 150 tỷ USD vốn chủ
sở hữu đến thời điểm tháng 02/2021, gấp hơn hai lần so với một năm trước
IMF dự báo các ngân hàng trung ương lớn sẽ duy trì lãi suất chính sách ở mức hiện tại đến cuối năm 2022 Do đó, các điều kiện tài chính được kỳ vọng sẽ duy trì ở mức hiện tạiđối với các nền kinh tế phát triển trong khi dần dần được cải thiện đối với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi Các chính sách như vậy sẽ tác động lan tỏa tích cực đối với các nền kinh tế và giảm khả năng thay đổi danh mục đầu tư
Đã xuất hiện một số dấu hiệu của lạm phát nhưng chưa thực sự rõ ràng
OECD cho biết triển vọng phục hồi bền vững toàn cầu được phản ánh trong kỳ vọng gia tăng về lạm phát trong tương lai, đặc biệt là trên các thị trường tài chính Lạm phát gần
Trang 13đây đã có dấu hiệu tăng lên ở nhiều nền kinh tế phát triển và duy trì tương đối cao tại một
số nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, một phần do giá hàng hóa tăng vọt và giảm giá tiền tệ Nhu cầu phục hồi nhanh hơn dự kiến, đặc biệt của Trung Quốc, cùng với thiếu hụtnguồn cung, đã làm giá lương thực và kim loại tăng đáng kể, và giá dầu đã phục hồi trở lại mức trung bình của năm 2019 Tình trạng thiếu hụt nguồn cung tạm thời trong các lĩnhvực như chất bán dẫn và vận chuyển, cũng góp phần làm tăng chi phí đầu vào Tuy nhiên,
áp lực giá ở các nền kinh tế phát triển nhìn chung vẫn ở mức nhẹ, phản ánh năng lực dự phòng khá lớn và thị trường lao động vẫn còn yếu Tại các nền kinh tế mới nổi lớn, lạm phát có thể cao hơn dự kiến nếu đồng nội tệ giảm giá so với đồng đô la Mỹ Giá hàng hóacao hơn cũng sẽ làm tăng lạm phát ở các nước nhập khẩu hàng hóa ròng như Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ
Dòng vốn vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi mất dần động lực
Báo cáo của WB cho thấy sau khi phục hồi nhanh chóng vào cuối năm ngoái, dòng vốn đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi đã mất dần động lực vào cuối tháng 01/2021 do tâm lý ngại rủi ro toàn cầu tăng đột biến đã kích hoạt rút vốn cổ phần, đặc biệt từ các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi ở Đông Á và Thái Bình Dương Đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, trừ Trung Quốc, giảm mạnh trong năm 2020 Suy giảm mạnh nhất ở châu Mỹ La-tinh, Ca-ri-bê và Nam Á,nơi tăng trưởng GDP giảm nhiều nhất Khu vực Đông Á, bao gồm Trung Quốc và Việt Nam, có mức giảm đầu tư nhỏ nhất trong năm 2020 do được hỗ trợ bởi các chương trình kích thích tài khóa lớn Ngay cả khi đại dịch dự kiến sẽ dần kết thúc vào năm 2021, mức phục hồi ngắn hạn trong đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển được dự đoán đạt 5,7%, thấp hơn nhiều so với con số 10,8% của năm 2010 sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Đối với hầu hết các nền kinh tế đang phát triển, tăng trưởng đầu tư trong vài năm tới sẽ duy trì bằng hoặc thấp hơn tốc độ trung bình của những năm 2010
Thất nghiệp có xu hướng tăng
Các điều kiện thị trường lao động đang phục hồi chậm Các biện pháp duy trì việc làmnhư chương trình việc làm ngắn hạn và trợ cấp lương tiếp tục giúp duy trì việc làm ở
Trang 14châu Âu và Nhật Bản Tuy nhiên, tại các nền kinh tế OECD, gần 10 triệu người thấtnghiệp so với trước khủng hoảng, tỷ lệ lao động không tham gia hoạt động kinh tế giatăng và tỷ lệ lao động có việc làm giảm Ở các nước đang phát triển, tình trạng mất việccao đáng kể đã làm gia tăng tình trạng nghèo đói và bần cùng hóa hàng triệu người laođộng Sự suy giảm việc làm chủ yếu tập trung vào các hoạt động dịch vụ, như giải trí,khách sạn, vận tải và thương mại bán buôn, bán lẻ, chiếm từ 20-30% việc làm ở hầu hếtcác nền kinh tế, cho thấy tính chất bấp bênh của nhiều công việc trừ khi vắc-xin đượctriển khai nhanh chóng và nới lỏng các biện pháp phong tỏa
Theo Liên hợp quốc , đến tháng 4/2020, các biện pháp đóng cửa toàn bộ hoặc một phần
đã ảnh hưởng đến gần 2,7 tỷ người lao động, chiếm khoảng 81% lực lượng lao động trênthế giới Tổng số giờ làm việc bị mất trung bình trong ba quý đầu năm 2020 là 10,7%,tương ứng với 3,5 nghìn tỷ đô la thu nhập lao động bị mất, tương đương với khoảng 5,5%sản lượng toàn cầu năm 2019 Tỷ lệ thất nghiệp của các quốc gia thành viên OECD tănglên đến 8,8% vào tháng 4/2020, trước khi giảm xuống còn 6,9% vào tháng 11/2020 Tỷ lệthất nghiệp có thể vẫn tăng trở lại ở mức khoảng 8% hoặc cao hơn trong đầu năm 2021,khi Pháp, Đức và Vương quốc Anh tái áp dụng các biện pháp phong tỏa
Một số rủi ro đối với tăng trưởng toàn cầu
Theo WB, phục hồi kinh tế toàn cầu có thể bị ảnh hưởng bởi một số rủi ro sau:
Thứ nhất, đại dịch có thể tiếp tục lây lan khi triển khai vắc xin chậm trễ hoặc không đầy
đủ Ngay cả khi thực hiện giãn cách xã hội và áp dụng các biện pháp kiểm soát đại dịch,làn sóng lây lan bổ sung vẫn sẽ là nguy cơ cho đến khi đạt được tiêm chủng hiệu quả trêndiện rộng Tất cả các quốc gia, bao gồm cả những quốc gia đã hứng chịu đợt bùng phátdịch COVID-19 lớn nhất, vẫn chưa thể đạt mức miễn dịch cộng đồng Các đợt bùng phát
có thể phát sinh do sự xuất hiện của các chủng COVID-19 mới, độc hại hơn Bên cạnh
đó, nỗ lực sớm nới lỏng các biện pháp ngăn chặn, chẳng hạn như mở cửa lại hoàn toàn
Trang 15các trường học hoặc cơ sở kinh doanh khi tỷ lệ lây nhiễm vẫn còn cao, hoặc thiếu tuânthủ các hướng dẫn về sức khỏe cũng là nguy cơ làm tái bùng phát dịch COVID-19.
Thứ hai, rủi ro của các cuộc khủng hoảng tài chính đang gia tăng do gia tăng nợ, hoạtđộng của hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng Hỗ trợ tài chính và vay nợ của khu vực tưnhân để chống chọi với cú sốc từ dịch COVID-19 đã làm nợ tăng cao Mặc dù lãi suấtthấp giúp giảm thiểu rủi ro cho một số quốc gia, nhưng mức nợ tăng cao vẫn làm tăngtính dễ bị tổn thương trước sự thay đổi của điều kiện thị trường và làm cho các cuộckhủng hoảng dễ xảy ra hơn
Thứ ba, suy thoái và dịch bệnh đều có thể có những tác động tiêu cực lâu dài đến sự pháttriển của các nước bị ảnh hưởng thông qua nhiều kênh khác nhau Do đó, dẫn đến nguy
cơ phá sản các công ty, khiến người lao động không có việc làm, ảnh hưởng tiêu cực đến
Tăng trưởng của một số nền kinh tế:
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp nhưng đã xuất hiện những dấu hiệu phục hồi và niềm tin vào sự phát triển của vắc-xin tăng lên, IMF, WB và các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra dự báo khả quan về triển vọng kinh tế của một số nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á Cụ thể:
Hoa Kỳ: Theo báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu của Ngân hàng Thế giới, tăng trưởng
kinh tế Hoa Kỳ dự báo đạt 3,5% trong năm 2021, do nhu cầu yếu trong bối cảnh hạn chế mới và bùng phát dịch COVID-19 trên diện rộng trong những tháng đầu năm Hoạt động
Trang 16kinh tế của Hoa Kỳ dự kiến sẽ tăng trong 6 tháng cuối năm 2021 khi dịch COVID-19 được ngăn chặn nhờ phát triển được vắc-xin và nới lỏng biện pháp kiểm soát đại dịch.Chỉ số nhà quản trị mua hàng tổng hợp (PMI) trong tháng 2 được điều chỉnh cao hơn, đạt 59,5 điểm, tăng so với ước tính sơ bộ (58,8 điểm), chủ yếu nhờ hoạt động của khu vực tư nhân diễn biến tích cực Giá trị sản xuất của khu vực dịch vụ tăng cao nhất trong hơn 6 năm qua Tăng trưởng đơn hàng mới của khu vực tư nhân đạt mức nhanh nhất kể từ tháng4/2018 trong khi việc làm tăng không đáng kể.
IMF điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ năm 2021 lên thêm 2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra hồi tháng 10 năm 2020 OECD cũng nhận định nhờ các gói kích cầu tài chính lớn của Hoa Kỳ cùng với tốc độ phát triển vắc-xin nhanh chóng và nhucầu tăng của các đối tác thương mại lớn nên OECD điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của nước này tăng lên thêm trên 3 điểm phần trăm cho năm 2021, đạt 6,5%
Theo Conference Board nền kinh tế Hoa Kỳ được kỳ vọng sẽ tăng trưởng trở lại từ Quý II/2021 Tăng trưởng GDP năm 2021 dự báo đạt 5,5%, sau khi giảm 3,5% trong năm
2020 với giả định các ca mắc mới COVID-19 đạt đỉnh trong những tháng đầu năm nay vàkhông dẫn đến tình trạng phong tỏa trên diện rộng Sản xuất vắc-xin sẽ tăng trong những tháng tiếp theo, dự kiến tiêm chủng mở rộng sẽ thực hiện được trong Quý II và nhân rộngtrong Quý III/2021 Gói cứu trợ bổ sung 1,9 nghìn tỷ sẽ được triển khai trong Quý II và Quý III giúp tiêu dùng và thị trường lao động Hoa Kỳ phục hồi nhanh chóng
Fitch Ratings dự báo tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ đạt 6,2% trong năm 2021 Động lực chính cho tăng trưởng là gói kích cầu tài chính lớn hơn dự kiến, trị giá 1,9 nghìn tỷ đô la chiếm hơn 2,5% GDP toàn cầu, vừa mới được chính phủ Hoa Kỳ thông qua
Đối với tăng trưởng Quý I/2021 của Hoa Kỳ, Fitch Ratings dự báo tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ giảm 0,2% trong Quý I/2021 so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng 1% so với quý trước Trong khi đó, Trading Economics cho rằng GDP Quý I/2021 của Hoa Kỳ tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,5% so với quý trước
Trang 17Khu vực đồng Euro: Sau khi kinh tế suy thoái mạnh do đại dịch lịch sử gây ra, phục hồi
hoạt động kinh tế trong Quý III/2020 của khu vực đồng Euro một lần nữa lại bị gián đoạn
do bùng phát làn sóng COVID-19 lần thứ hai Điều này đã buộc nhiều quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt để hạn chế lây lan dịch bệnh Một số ngành dịch vụ quan trọng của nền kinh tế khu vực, đặc biệt là ngành du lịch vẫn chưa có khả năng phục hồi
Mặc dù đại dịch diễn biến xấu, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục phục hồi nhờ nhu cầu ngoài nước tăng cao Trong bối cảnh suy thoái lịch sử toàn cầu, các ứng phó chính sách được triển khai một cách sâu rộng và chắc chắn Các gói hỗ trợ tài chính do Liên minh châu Âu cung cấp thông qua khoản tài trợ cho các quốc gia thành viên bị ảnh hưởng nặng nề dự kiến sẽ hỗ trợ hoạt động và phát huy tác dụng từ năm 2021
Sau khi giảm mạnh 7,4% trong năm 2020, tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro dự báo sẽ phục hồi, tăng 3,6% trong năm 2021, và đạt 4% vào năm 2022 khi tiêm chủng mở rộng được triển khai rộng rãi, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư
Chỉ số PMI tổng hợp trong tháng 2/2021 của khu vực đồng Euro được điều chỉnh tăng, đạt 48,1 điểm (cao hơn so với con số ước tính sơ bộ 48,0 đưa ra trước đây) Chỉ số PMI
bị tác động mạnh do khu vực tư nhân sụt giảm liên tiếp trong 4 tháng Giá trị sản xuất ngành dịch vụ vẫn giảm mạnh nhưng ngành chế biến chế tạo đã tăng trở lại, tiệm cận mức cao của 3 năm gần đây Tổng đơn hàng mới giảm 5 tháng liên tiếp mặc dù xuất khẩutăng mạnh nhất trong gần 3 năm và việc làm tăng lần đầu tiên trong một năm qua
Theo Fitch Ratings, khu vực đồng Euro triển khai tiêm chủng vắc-xin chậm hơn Anh và Hoa Kỳ nhưng chương trình sẽ tăng tốc trong Quý II/2021 Khủng hoảng y tế sẽ bớt căngthẳng vào giữa năm nay Tuy nhiên, khởi động chương trình vắc-xin chậm và những vấn
đề về tiêm chủng vẫn là nguy cơ chính của dự báo tăng trưởng chậm cho khu vực này Tăng trưởng kinh tế khu vực đồng Euro dự báo đạt 4,7% trong năm 2021
Trong ngắn hạn, Fitch Ratings dự báo tăng trưởng GDP Quý I/2021 của khu vực đồng Euro giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước, giảm 1% so với quý trước
Trang 18Nhật Bản: Sớm quản lý hiệu quả đại dịch COVID-19, cùng với các gói hỗ trợ tài chính
lớn chưa từng có của Chính phủ đã thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế Nhật Bản phục hồi trong Quý III/2020 Tuy nhiên, quá trình phục hồi nhanh chóng bị mất động lực khi làn sóng COVID-19 lần thứ hai bùng phát trở lại làm giảm tiêu dùng Sau khi tăng trưởngkinh tế ước tính giảm khoảng 5,3% năm 2020, hoạt động kinh tế dự báo sẽ tăng 2,5% trong năm 2021 khi gói kích thích tài chính bổ sung được triển khai và các ca mắc
COVID-19 mới ở mức thấp, đại dịch từng bước được kiểm soát và các biện pháp kiềm chế dịch bệnh dần được dở bỏ Tăng trưởng dự báo đạt 2,3% trong năm 2022
Chỉ số PMI tổng hợp tháng 02/2021 của Nhật Bản được điều chỉnh tăng, đạt 48,2 điểm, tăng so với ước tính sơ bộ 47,6 điểm Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của nền kinh tế Nhật Bản vẫn tiếp tục đà giảm trong 13 tháng qua do quốc gia này vẫn đang phải đương đầu với làn sóng lây nhiễm COVID-19 mới Hoạt động chế biến chế tạo ghi nhận sản lượng tăng lần đầu tiên kể từ tháng 12/2018 trong khi hoạt động dịch vụ vẫn tiếp tục giảm Đơn hàng mới giảm nhưng việc làm tăng lần đầu tiên trong một năm qua Chỉ số niềm tin người tiêu dùng giảm xuống còn 29,6 trong tháng 01/2021, mức thấp nhất kể từ tháng 8/2020 Chỉ số PMI dịch vụ giảm, từ 46,1 điểm trong tháng 01/2021 xuống 45,8 điểm trong tháng 02/2021, trong khi đó chỉ số PMI chế biến chế tạo đã tăng mạnh từ 49,2điểm lên 51,3 điểm
Theo Fitch Ratings, dự báo GDP Quý I/2021 của Nhật Bản giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước và không thay đổi so với quý trước Trong khi đó, theo các chuyên gia phân tích của Trading Economics, GDP Quý I/2021 của Nhật Bản dự kiến giảm 1% so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng 0,9% so với quý trước
Trung Quốc: Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt 2% năm 2020, tốc độ tăng trưởng
chậm nhất kể từ năm 1976 nhưng cao hơn các mức dự báo đưa ra trước đó, nhờ kiểm soátđại dịch hiệu quả và kích thích đầu tư công Phục hồi kinh tế đã vững chắc nhưng không đồng đều, tiêu dùng phục hồi chậm hơn sản xuất công nghiệp Trong năm 2020, nhập khẩu tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu phục hồi, góp phần làm tăng thặng dư tài khoản vãng lai
Trang 19Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc dự báo đạt 7,9% trong năm 2021 do nhu cầu bị dồn nén được bung ra sau đại dịch Dự báo GDP của quốc gia này tăng 5,2% năm 2022.
Chỉ số PMI tổng hợp của nền kinh tế Trung Quốc trong tháng 02/2021 giảm xuống còn51,7 điểm (so với 52,2 điểm trong tháng 01/2021) Giá trị sản xuất của ngành dịch vụ và công nghiệp chế biến chế tạo đều đạt tốc độ khiêm tốn Tăng trưởng đơn hàng mới ở mứcthấp trong 10 tháng qua, trong khi đó việc làm lần đầu tiên giảm kể từ tháng 7/2020 Chi phí đầu vào tiếp tục tăng mạnh
Fitch Ratings đưa ra những đánh giá khá khả quan về nền kinh tế Trung Quốc Quốc gia này là nền kinh tế lớn duy nhất đang bắt đầu bình thường hóa các chính sách kinh tế vĩ
mô, thâm hụt tài khóa được thu hẹp và tăng trưởng tín dụng chậm lại khi nền kinh tế phụchồi Fitch Ratings dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2021 đạt 8,4%
Về dự báo tăng trưởng Quý I/2021, Fitch Ratings cho rằng nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 19,3% so với cùng kỳ năm trước nhưng chỉ tăng 0,2% so với quý trước Trading Economics thì dự báo khiêm tốn hơn khi cho rằng GDP Quý I/2021 của Trung Quốc tăng6,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,6% so với quý trước
Đông Nam Á: Theo OECD , đại dịch COVID-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng kinh
tế nghiêm trọng ở châu Á gồm: Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ Sự phục hồi trong Quý III/2020 đã bị gián đoạn do đại dịch bùng phát trở lại Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng năm 2020 đã được điều chỉnh tăng so với các dự báo được công bố trong tháng 7
và tháng 11/2020
OECD dự báo tăng trưởng GDP thực tế trung bình của ASEAN năm 2021 đạt 5,1%, sau khi giảm 3,4% vào năm 2020 Tuy nhiên, tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các quốc gia Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng (tăng 2,6% vào năm 2020), nhờ sớm kết thúc giaiđoạn đóng cửa vào đầu năm 2020, nhu cầu nước ngoài tăng và các chính sách hỗ trợ có mục tiêu Tuy vậy, tăng trưởng GDP thực tế năm 2020 giảm mạnh ở Phi-li-pin (-9,0%).Tại In-đô-nê-xi-a , các biện pháp kiểm soát liên quan đến dịch COVID-19 được thực hiệnchậm hơn và được nới lỏng sớm hơn so với các nước bị ảnh hưởng tương tự Do đó, số
Trang 20lượng các trường hợp nhiễm COVID-19 tăng đột biến trong những tuần gần đây Tiêu dùng tư nhân bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng vào năm 2020, bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp yếu hơn cũng đã hạn chế đầu tư tư nhân Giá cả hàng hóa và lĩnh vực du lịch yếu kém có thể làm giảm tăng trưởng hơn nữa Sau khi tăng trưởng của quốc gia này tăng trưởng âm 2,1% vào năm 2020, GDP thực tế được dự báo sẽ tăng trở lại vào năm 2021, đạt 4,9%
Đại dịch và việc thực hiện trở lại các hạn chế trong nỗ lực chống dịch COVID-19 ở lai-xi-a đã dẫn đến tình trạng suy thoái chưa từng có trong hoạt động kinh tế của quốc gianày trong năm 2020, với GDP thực tế dự kiến giảm 5,2% Dự báo tăng trưởng kinh tế củaMa-lai-xi-a sẽ phục hồi vào năm 2021, đạt 7,0% Sự tập trung vào nền kinh tế kỹ thuật số
Ma-và các lĩnh vực tăng trưởng mới cũng như lợi ích từ Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) sẽ hỗ trợ tăng trưởng của Ma-lai-xi-a trong trung hạn
Tại Phi-li-pin, đại dịch và các biện pháp hạn chế đã đẩy nền kinh tế vào cuộc suy thoái sâu trong năm 2020 GDP thực tế suy giảm nghiêm trọng nhất trong các nền kinh tế ASEAN vào năm 2020 (-9,0%) Đầu tư công và xuất khẩu ròng được kỳ vọng sẽ hỗ trợ kinh tế của Phi-li-pin phục hồi một phần vào năm 2021 (+ 5,9%), mặc dù chi phí nợ tăng
và năng lực của chính phủ trong việc xử lý nợ vẫn là những rủi ro lớn đối với triển vọng tăng trưởng của quốc gia này Đồng thời, sự không chắc chắn về du lịch quốc tế và sự phục hồi không rõ ràng ở các nền kinh tế lớn sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu dịch vụ và kiềuhối từ người lao động ở nước ngoài về nước
Thái Lan đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Phụ thuộc vào du lịch quốc tế khiếnnước này bị tổn thương lớn bởi những cú sốc do hạn chế đi lại Số lượng các ca nhiễm COVID-19 đã tăng đột biến trong vài tháng qua Đồng baht Thái Lan tăng giá nhanh chóng của trong quý cuối cùng của năm 2020 là một lực cản khác đối với sự phục hồi kinh tế của quốc gia này Vay nợ hộ gia đình tăng và căng thẳng xã hội leo thang có thể
sẽ cản trở tăng trưởng của Thái Lan Tăng trưởng kinh tế Thái Lan dự báo sẽ phục hồi vào năm 2021, đạt 4,5% sau khi tăng trưởng âm 6,4% trong năm 2020
Trang 21Tăng trưởng của nền kinh tế Xin-ga-po giảm mạnh vào năm 2020 do đại dịch (-5,5%) Nhu cầu bên ngoài sụt giảm, đặc biệt là đối với các dịch vụ kinh doanh, do hạn chế đi lại
đã bóp nghẹt ngành du lịch Tăng trưởng của Xin-ga-po dự báo sẽ phục hồi vào năm
2021, đạt 5,0% Tuy nhiên, Xin-ga-po đạt được tốc độ tăng trưởng này hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu bên ngoài
Dự báo tăng trưởng GDP Quý I/2021 của Trading Economics đối với một số nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á gồm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Thái Lan và Xin-ga-po lần lượt là 1,9%, -0,7%, -3,5%, -1,5% ,1,5% so với cùng kỳ năm trước và 1%, 0,5%, 3%, 0,5%, 5% so với quý trước
3.1 Ở Việt Nam:
Tác động của Covid -19 đến các doanh nghiệp Việt Nam:
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) vừa công bố “Báo cáo tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam: Một số phát hiện chính từ điều tra doanh nghiệp 2020”
Báo cáo được thực hiện qua khảo sát gần 10.200 doanh nghiệp trên toàn quốc nhằm cung cấp những góc nhìn cụ thể về ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới toàn nền kinh tế và những cách thức ứng phó của doanh nghiệp
Theo ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế VCCI, đại dịch Covid-19 tác động rất tiêu cực đến doanh nghiệp tại Việt Nam Trong đó, 87,2% doanh nghiệp cho biết, chịu ảnh hưởng ở mức “phần lớn” hoặc “hoàn toàn tiêu cực” Chỉ 11% doanh nghiệp cho rằng
họ “không bị ảnh hưởng gì” và gần 2% ghi nhận tác động “hoàn toàn tích cực” hoặc
“phần lớn tích cực”
Cả khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI) đều bị ảnh hưởng nặng nề Trong số các nhóm doanh nghiệp, đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn cả là các doanh nghiệp mới hoạt động dưới
3 năm và các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ
Trang 22Tỷ lệ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực có xu hướnggiảm khi số năm hoạt động của doanh nghiệp gia tăng Song vẫn có tới 84% doanh
nghiệp tư nhân và 85% doanh nghiệp FDI có trên 20 năm hoạt động chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 ở mức phần lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực
Mức độ ảnh hưởng của dịch COVID-19 đối với các doanh nghiệp FDI lớn nhất ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, với 89,3% cho biết chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn hoặc hoàntoàn tiêu cực Doanh nghiệp FDI ở quy mô lớn là nhóm chịu ảnh hưởng tiêu cực lớn thứ
2, với con số 88% Tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm quy mô vừa và quy mô siêu nhỏ thấp hơn một chút, lần lượt ở mức 87,3% và 87,2%
Nhóm doanh nghiệp tư nhân quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ cho biết chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn, hoàn toàn tiêu cực là cao nhất, với con số 87,7% Các nhóm doanh nghiệp còn lại có tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực thấp hơn một chút, ở mức 86,1%
Ông Đậu Anh Tuấn cũng chỉ ra rằng, tác động của dịch Covid-19 với doanh nghiệp ở một
số ngành là đặc biệt lớn Lĩnh vực chịu ảnh hướng lớn nhất là May mặc (97%), Thông tintruyền thông (96%), Sản xuất thiết bị điện (94%), sản xuất xe có động cơ (93%)…
Kết quả khảo sát 1.564 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam cũng ghi nhận 87,9% chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh, 11,4% không ảnh hưởng gì, chỉ có 0,8% vẫn kinh doanh tốt Doanh nghiệp FDI trong một số ngành có tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực cao bao gồm Bất động sản (100%), Thông tin truyền thông (97%), Nông nghiệp/thuỷ sản (95%) 22% doanh nghiệp FDI cho biết phải sa thải lao động do tình hình kinh doanh suy giảm Số laođộng buộc phải nghỉ việc xấp xỉ 30% tổng số lao động làm việc tại doanh nghiệp
Bên cạnh đó, kết quả điều tra cũng cho thấy dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới việc tiếp cậnkhách hàng, tiếp đến là bị ảnh hưởng về dòng tiền và nhân công của doanh nghiệp Chuỗicung ứng của nhiều doanh nghiệp đã bị gián đoạn Một số doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng tới các vấn đề khác, từ giảm đơn hàng, giảm sản lượng, phải trì hoãn, giãn tiến độ đầu tư thậm chí huỷ dự án đang hoặc sẽ thực hiện Các doanh nghiệp cũng bị phát sinh
Trang 23thêm chi phí phòng ngừa dịch Covid-19 Không ít doanh nghiệp gặp khó khăn do chuyên gia nước ngoài không thể sang Việt Nam làm việc Nhiều doanh nghiệp cho hay, họ bị gián đoạn, ngưng trệ hoạt động, thậm chí dừng hoạt động do tình hình dịch và đứng trước
bờ vực phá sản bởi thị trường giảm cầu đột ngột, dẫn tới giảm doanh thu cũng như vấp phải những rủi ro về thu hồi nợ, mất khả năng thanh toán
Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những ảnh hưởng của dịch Covid-19, thời gian qua, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9/4/2020; Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/4/2020; gia hạn miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân chịu thiệt hại bởi dịch Covid-19; gói hỗ trợ tiền tệ - tín dụng…Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp kiến nghị cần cải thiện hơn nữa hệ thống pháp luật và tháo gỡ các nút thắt về thủ tục hànhchính để cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp Do vậy, việc đưa ra các giải pháp phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp cũng là một trong những trọng tâm cần thực hiện để giúp nền kinh tế phục hồi như mong đợi
Đại dịch Covid-19 đã gây ra những ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc giatrên thế giới và hiện nay vẫn còn diễn biến phức tạp Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn,hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang chịu nhiều tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội
GDP quý I/2020 của Việt Nam chỉ tăng 3,82%, là mức thấp nhất trong 10 năm gần đây Hầu hết các hoạt động kinh tế đều suy giảm, chỉ số sản xuất công nghiệp, doanh thu bán
lẻ và dịch vụ, vốn đầu tư toàn xã hội, nhập khẩu, tín dụng mặc dù vẫn tăng trưởng nhưng
ở mức thấp; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký và thực hiện đều tăng trưởng
âm Trong quý I/2020 nhiều ngành có tăng trưởng sụt giảm lớn như: Nông nghiệp 1,17%); khai khoáng (-3,18%); lưu trú, ăn uống (-11%); vận tải, kho bãi (-0,9%); hoạt động hành chính (-3,5%) Tổng cầu suy giảm mạnh từ cả đầu tư, tiêu dùng nội địa và nhucầu hàng hóa của thế giới Cầu nội địa và quốc tế đều bị kìm hãm bởi các biện pháp đóng cửa quốc gia, giãn cách xã hội
Trang 24(-Toàn bộ hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc gia, thế giới giảm tốc độ tăng đột ngột Đáng chú ý, 2 động lực quan trọng nhất của tăng trưởng là đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài đều suy yếu Sự gia tăng mạnh mẽ của đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước
(NSNN) cho thấy, Chính phủ đã chủ động thực hiện các chính sách đẩy mạnh đầu tư công để hạn chế đà suy giảm kinh tế Tuy nhiên, giải ngân đầu tư công còn chậm và không lớn để bù đắp cho sự sụt giảm của đầu tư tư nhân và FDI Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý I/2020 chỉ tăng 4,7% (chưa trừ yếu tố tăng giá), thấp hơn rất nhiều so với mức tăng 9% vào quý I/2019 Đây là mức tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây…
Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa chiếm 80,6% tổng mức, tăng nhẹ (0,4%) do hình thức mua sắm trực tuyến được người tiêu dùng
ưa chuộng trong thời gian gần đây Thu hút khách quốc tế giảm 37,8%; Các hoạt động dịch vụ khác như vận tải, nhất là vận tải hàng không, dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng bị ảnh hưởng nặng nề
Phát triển DN chịu tác động lớn bởi dịch bệnh, hầu hết các DN đều thận trọng trong việc đầu tư thêm vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Số lượng DN thành lập mới trong 4 tháng đầu năm chững lại, số vốn bổ sung hoặc cam kết đưa vào kinh doanh giảm so với cùng kỳ năm 2019 Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt khoảng 11,8 tỷ đồng, giảm 5,5% so với cùng kỳ Số DN tạm ngừng kinh doanh trong ngắn hạn tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 33,6%), nhất là tại các lĩnh vực: kinh doanh bất động sản; nghệ thuật, vui chơi và giải trí; dịch vụ lưu trú và ăn uống; du lịch; giáo dục và đào tạo vàvận tải, kho bãi
Giảm mức tăng trưởng kinh tế
Trong quý 1 năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh tăng chỉ có 0,42%, Hà Nội tăng 3,72%, Hải Phòng tăng 14,9% (dẫn đầu cả nước), Cần Thơ 4,07%, Đà Nẵng chưa có số liệu cụ thể nhưng báo cáo chính phủ tăng trưởng âm, thấp kỷ lục sau nhiều năm và đánh giá thấp hơn cả TP.HCM Các tỉnh: Quảng Ninh 7,2%, An Giang 4,75%, Vĩnh Phúc tăng 6,38%,