Chiến lược xây dựng thuộc loại chiến lược cương lĩnh cótác dụng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanhnghiệp và là một tập hợp các đề xuất có tính chất đặctrưng cơ bản về tầm nhìn h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM THÁI HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 4
2.C Ơ SỞ LÝ LUẬN 4
3.Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4
4.P HẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5.P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6.K ẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH 6
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
6
1.1.1 Định nghĩa chiến lược: 6 1.1.2 Phân loại chiến lược sản xuất kinh doanh: 6 1.1.3 Thiết kế chiến lược: 7 1.1.3.1 Xác định sứ mạng, mục tiêu và nhiệm vụ của ngành 7 1.1.3.2 Phân tích môi trường ( bên ngoài và bên trong )
7 1.1.3.2.1 Phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài:
8 1.1.3.2.2 Phân tích và đánh giá môi trường bên trong:
9 1.1.3.3 Xác định mục tiêu chiến lược
10 1.1.3.4 Lựa chọn chiến lược
10 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG
10
Trang 31.2.1 Khái niệm ngành xây dựng 10
1.2.2 Đặc điểm chiến lược của ngành xây dựng: 10
1.2.3 Vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân: 11
1.2.4 Sản phẩm của ngành xây dựng: 11
1.2.4.1 Khái niệm:
111.2.4.2 Đặc điểm:
12
1.2.5 Marketing trong ngành xây dựng: 13
1.2.6 Điều kiện tự nhiên, môi trường ảnh hưởng tới ngành xây dựng: 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH XÂY DỰNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH TRONG 10 NĂM QUA 18
2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, LUẬT PHÁP CỦA VIỆT
NAM TÁC ĐỘNG
ĐẾN NGÀNH XÂY DỰNG 18
2.1.1 Tình hình kinh tế: 18
2.1.2 Tình hình chính trị, luật pháp: 21
2.1.2.1 Yếu tố chính trị:
212.1.2.2 Yếu tố luật pháp:
Trang 42.3.2 Khả năng tài chính: 30
2.3.3 Nhân 3 lực: 31
2.3.4 Năng lực thiết bị: 32
2.3.5 Sản xuất và cung ứng VLXD: 33
2.3.6 Công tác quản lý nhà nước: 34
2.3.7 7 Công nghệ thông tin: 41
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010 46
3.1 CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHUNG:
46
3.1.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐẾN NĂM 2010: 46 3.1.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG TP HCM
ĐẾN NĂM
2010 47
3.1.2.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG:
473.1.2.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH NGÀNH XÂY DỰNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC: 48
3.1.3 DỰ BÁO MỘT SỐ CHỈ TIÊU TỪ NĂM 2000-2010 LIÊN QUAN ĐẾN
NGÀNH XÂY DỰNG: 51
3.1.3.1 DỰ BÁO VỀ DÂN SỐ:
513.1.3.2 DỰ BÁO VỀ NHU CẦU NHÀ Ở: 513.1.3.3 DỰ BÁO VỀ NHU CẦU CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG
CỘNG &
Trang 5PHÚC LỢI XÃ HỘI 523.1.3.4 DỰ BÁO VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT CHO NGÀNH XÂY
DỰNG: 593.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG TP HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010: 61
3.2.1 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU: 61
3.2.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 65
3.2.2.1 TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGÀNH
653.2.2.2 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THÀNH
PHỐ 683.2.2.3 SẢN XUẤT VÀ CUNG ỨNG VLXD
713.2.2.4 ĐẦU TƯ HIỆN ĐẠI NGÀNH THI CÔNG XÂY LẮP
74
3.3 GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG: 77
3.4 KIẾN NGHỊ: 80
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Mục đích nghiên cứu của luận văn :
Thông qua việc tổng kết, đánh giá và phân tích tìnhhình phát triển kinh tế của cả nước và của thành phố,tình hình hoạt động kinh tế của ngành xây dựng TP Hồ ChíMinh trong 10 năm qua cũng như dự báo nhu cầu xây dựngnhằm đề ra định hướng chiến lược phát triển ngành xâydựng TP Hồ Chí Minh trong 10 năm tới
Chiến lược xây dựng thuộc loại chiến lược cương lĩnh cótác dụng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanhnghiệp và là một tập hợp các đề xuất có tính chất đặctrưng cơ bản về tầm nhìn hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp trong ngành
2
Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận như:
Quy luật kinh tế chung của chủ nghĩa Mác Lê Nin
Các qui luật của nền kinh tế thị trường
Các nguyên tắc về quản lý kinh tế chung
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước
Định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phốHồ Chí Minh đến năm 2010
Tình hình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và của thành phố Hồ Chí Minh các năm qua
Định hướng phát triển của ngành xây dựng Việt Nam đến năm 2010
3
Đối tượng nghiên cứu
Các doanh nghiệp được phép hoạt động trong lĩnh vựcxây dựng, tư vấn xây dựng và sản xuất vật liệu xâydựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó lĩnhvực thi công xây dựng là đối tượng nghiên cứu chính
Trang 7Nghiên cứu về tổ chức quản lý các doanh nghiệptrong ngành xây dựng từ đó đề ra giải pháp để địnhhướng cho ngành xây dựng phát triển, không nghiên cứuvề mặt kỹ thuật.
5
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu
trong quản trị như: Phương pháp nghiên cứu mô tả
Phương pháp nghiên cứu tương quan kết hợp với cácphương pháp phân tích thống kê dự báo nhằm xem xét sựvật hiện tượng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhaumột cách biện chứng và có hệ thống rồi từ đó pháthiện ra những cơ hội, mối đe dọa, mặt mạnh, mặt yếucủa ngành nhằm tạo cơ sở cho việc định hướng chiếnlược và giải pháp phát triển ngành đến năm 2010
6
Kết cấu của luận văn
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo bao gồm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược phát triển ngành Chương 2: Thực trạng ngành xây dựng thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Định hướng chiến lược và một số giải phápnhằm phát triển ngành xây dựng thành phố Hồ Chí Minhđến năm 2010
Trang 8BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1.1.1 Định nghĩa chiến lược:
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chiếnlược Định nghĩa lâu đời nhất về chiến lược trong sản xuấtkinh doanh cho rằng: “Chiến lược là sự xác định các mụcđích, mục tiêu cơ bản lâu dài của doanh nghiệp, xác địnhcác hành động và phân bổ các nguồn lực để thực hiệncác mục tiêu đó” Một định nghĩa khác theo phương phápC3: “Chiến lược của một doanh nghiệp là một hệ thốngnhững phương pháp mang tính chất lâu dài nhằm củng cố
vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường”.Còn theo Fred David thì cho rằng: “Chiến lược là nhữngphương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn”
1.1.2 Phân loại chiến lược sản xuất kinh doanh:
Có nhiều cách phân loại chiến lược dựa trên nhữngcăn cứ khác nhau Căn cứ vào phạm vi chiến lược người tachia chiến lược kinh doanh làm 2 loại:
Một là: chiến lược chung, hay còn gọi là chiến lược tổng
quát Chiến lược này đề cập đến những vấn đềquan trọng nhất, có ý nghĩa lâu dài và quyết địnhnhững vấn đề sống còn của tổ chức
Hai là: chiến lược bộ phận Đây là loại chiến lược cấp 2
bao gồm – chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược yểm trợ bán hàng …
Hai loại chiến lược này liên kết với nhau tạo thành mộtchiến lược kinh doanh hoàn chỉnh Nếu căn cứ vào sự kếthợp giữa sản phẩm và thị trường, dựa vào lưới ô vuôngđể thay đổi chiến lược, có thể có các nhóm chiến lược nhưsau:
Trang 9trưởng tập trung: Chiến lược thâm nhập vào thị trường
Chiến lược phát triển thị
trường
Chiến lược phát triển sản phẩm
Trang 10triển hội nhập: Hội nhập
về phía trước
Hội nhập về phía sau
Nhóm các chiến lược tăng trưởng
đa dạng: Chiến lược đa dạng
hóa hoạt động đồng tâm
Chiến lược đa dạng hóa hoạt động theo
chiều ngang Chiến lược đa dạng hóa
hoạt động kiểu hỗn hợp
Nhóm các chiến lược
1.1.3 Thiết kế chiến lược:
Đây là giai đoạn hình thành chiến lược và được xemnhư giai đoạn lập kế hoạch chiến lược hay lập kế hoạchdài hạn Chiến lược đề ra có thành công hay không phụthuộc rất lớn vào giai đoạn quan trọng này Quá trình thiếtkế chiến lược chủ yếu là quá trình phân tích, không phảilà quá trình hành động
1.1.3.1 Xác định sứ mạng, mục tiêu và nhiệm vụ của
ngành
Giai đoạn đầu tiên làm nền tảng cho việc soạn thảochiến lược, nhằm tạo nên sự thống nhất về hướng đitrong tương lai của ngành
1.1.3.2 Phân tích môi trường ( bên ngoài và bên trong )
Trang 11trị chiến lược Phân tích môi trường hay còn gọi là phântích SWOT để nhằm tìm ra những cơ hội, đe dọa, điểmmạnh và điểm yếu của ngành Quản trị chiến lược làviệc tận dụng và phát huy các điểm mạnh, khắc phụcvà hạn chế các điểm yếu trong việc khai thác các
Trang 12việc phân tích SWOT sẽ tạo ra những gợi ý chiến lược cho các bước tiếp theo.
1.1.3.2.1 Phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài:
a.Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
Là loại môi trường ảnh hưởng đến tất cả các doanhnghiệp trong một không gian kinh doanh mà tính chất vàmức độ tác động thay đổi tùy theo từng ngành, từngdoanh nghiệp cụ thể Môi trường này bao gồm các yếu tố:
- Môi trường quốc tế: ảnh hưỏng đến xu hướng phát
triển của ngành
- Yếu tố kinh tế: thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô như – tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá hối đoái, đầu tư ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của ngành
- Yếu tố chính trị: thể hiện ở các chính sách của Đảng,
nhà nước ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngành
- Yếu tố luật pháp: xem xét môi trường pháp lý cho hoạt
động của ngành
- Yếu tố văn hóa xã hội và nhân khẩu: bao gồm
thu nhập dân cư, quan niệm xã hội, đặc điểm văn hóa tác động đến ngành
- Yếu tố công nghệ: trình độ công nghệ, tốc độ đổi
mới công nghệ, khả năng chuyển giao công nghệ đối với ngành
- Yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng, môi trường sống:
xem xét sự tác động của điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, môi trường sống đối với sự phát triển của ngành
b.Các yếu tố thuộc môi trường vi mô:
Là loại môi trường gắn liền với từng ngành, từng doanhnghiệp Các yếu tố của môi trường này tác động trựctiếp đến các doanh nghiệp trong ngành nên chìa khóa đểđề ra một chiến lược thành công là phải phân tích từngyếu tố chủ yếu của môi trường này như:
Trang 13nội bộ ngành ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành.
- Khách hàng: Phân nhóm khách hàng, phân tích nhu
cầu của khách hàng, xu hướng biến đổi nhu cầu của khách hàng trong tương lai
Trang 14- Nhà cung cấp: Phân tích các nguồn cung cấp vật tư,
thiết bị, phụ tùng, nguồn cung cấp tài chính, nguồn cungcấp nhân lực cho ngành
- Các đối thủ tiềm ẩn mới: Các đối thủ mới có
khả năng tham gia làm giảm lợi nhuận của ngành
- Các sản phẩm thay thế: Nghiên cứu sức ép do các
sản phẩm thay thế hạn chế tiềm năng phát triển thịtrường của ngành
- Quản lý nhà nước đối với ngành: Xem xét chính
sách của nhà nước đối với ngành như – chủ trươngchính sách của nhà nước, bộ, ngành, qui định về thuế.Sau khi phân tích các yếu tố bên ngoài, người ta sử dụng
ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với tổ chức
1.1.3.2.2 Phân tích và đánh giá môi trường bên trong:
a Các yếu tố chủ yếu của nội bộ ngành:
Bao gồm tất cả các nguồn lực, các khả năng mà ngành có thể vận dụng vào công cuộc kinh doanh của mình Đó là những yếu tố:
Makerting : Xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn
các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối vớisản phẩm hay dịch vụ
Tài chính kế toán : Đánh giá vị trí cạnh tranh tốt nhất
của ngành và là điều kiện thu hút các nhà đầu tư.Để xây dựng các chiến lược cần xác định những điểmmạnh và yếu về tài chính của tổ chức Các yếu tố tàichính thường làm thay đổi các chiến lược hiện tại vàthực hiện các kế họach
Năng lực sản xuất : Đây là một trong các lĩnh vực
hoạt động chính yếu của doanh nghiệp, có ảnh hưởngmạnh mẽ đến khả năng đạt tới thành công củangành
Nhân lực : Đánh giá tình hình nhân lực của ngành
Trang 15 Công nghệ : Đánh giá công nghệ sử dụng trong ngành
Sau khi phân tích các yếu tố bên trong, người ta thường sửdụng ma trận đánh giá các yếu tố bên trong để đánh giálại những điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức
Trang 161.1.3.3 Xác định mục tiêu chiến lược
Trên cơ sở sứ mạng, mục tiêu và nhiệm vụ chung, ngànhsẽ xây dựng được mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạnphát triển của ngành Bước xác định các mục tiêu cụthể này sẽ đảm bảo cho việc lựa chọn chiến lược điđúng hướng
1.1.3.4 Lựa chọn chiến lược
Trên cơ sở đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu củangành, nhận diện cơ hội cũng như nguy cơ của môitrường kinh doanh, ngành có thể xây dựng các phươngán chiến lược khác nhau Việc lựa chọn chiến lược thíchnghi không tách rời chức năng, nhiệm vụ cũng nhưnhững mục tiêu cơ bản của ngành và quan trọng nhấtvẫn là tình hình thực tế của ngành
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG
1.2.1 Khái niệm ngành xây dựng :
Ngành xây dựng theo nghĩa rộng (hay còn có thể gọi
là lĩnh vực đầu tư và xây dựng) bao gồm chủ đầu tư có
công trình cần xây dựng kèm theo các bộ phận có liên
quan, các doanh nghiệp xây dựng chuyên nhận thầu xây lắp công trình, các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng
(chuyên làm các công việc như lập dự án đầu tư, khảo
sát, thiết kế, quản lý thực hiện dự án…), các tổ chức
cung ứng vật tư và thiết bị cho xây dựng, các tổ chức tài chính và ngân hàng phục vụ xây dựng, các tổ chức nghiên
cứu và đào tạo phục vụ xây dựng, các cơ quan nhà nước trực tiếp liên quan đến xây dựng và các tổ chức dịch vụ
khác phục vụ xây dựng.
Lĩnh vực đầu tư ở đây mà ngành xây dựng quan tâmlà lĩnh vực đầu tư được thực hiện thông qua việc xây dựngcông trình để vận hành và sinh lợi, không bao gồm các
Trang 17lĩnh vực đầu tư khác như đầu tư tài chính, đầu tư khôngkèm theo các giải pháp xây dựng công trình
1.2.2 Đặc điểm chiến lược của ngành xây dựng:
Theo các nhà quản trị chiến lược của ngành xây dựnglà “Một tập hợp các đề xuất chung nhất, cơ bản nhất đểhướng dẫn mọi hoạt động của doanh nghiệp trong
Trang 18một thời gian đủ dài về phương hướng mục tiêu vànhiệm vụ chủ yếu, các quan điểm chủ yếu, các giảipháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề radựa trên cơ sở tình hình khách quan của môi trường kinhdoanh, thực lực của doanh nghiệp và mong muốn của doanhnghiệp”.
1.2.3 Vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân:
Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tếlớn (ngành cấp I) của nền kinh tế quốc dân, đóng vai tròchủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên cơsở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định (xây dựngcông trình và lắp đặt thiết bị, máy móc vào công trình)cho mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước và xã hội dướimọi hình thức (xây dựng mới, cải tạo, mở rộng và hiện đạihóa tài sản cố định)
Ngành xây dựng chi phí một nguồn vốn khá lớncủa quốc gia và xã hội, chiếm khoảng 15% tổng sảnphẩm quốc gia chính thức
Ngành xây dựng thường được đặt hàng đầu trong chínhsách nhà nước về tài chính và xã hội Ngành xây dựngcũng có một phần đóng góp đáng kể vào giá trị tổngsản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
1.2.4 Sản phẩm của ngành xây dựng:
1.2.4.1 Khái niệm:
Sản phẩm của ngành xây dựng (SP NXD) là các côngtrình xây dựng đã hoàn chỉnh bao gồm cả việc lắp đặtthiết bị thiết bị công nghệ bên trong SP NXD là kết tinhcủa các thành quả khoa học công nghệ và tổ chức sảnxuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó làmột SP có tính chất liên ngành trong đó những lực lượngtham gia chế tạo SP chủ yếu là: các chủ đầu tư, các doanhnghiệp nhận thầu xây lắp, các doanh nghiệp tư vấn đầu
tư xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu
Trang 19vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xâydựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý nhà nướccó liên quan
Trang 201.2.4.2 Đặc điểm:
Những đặc điểm của SP NXD có ảnh hưởng lớn đếnphương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trongngành xây dựng, làm cho các công việc này có nhiềuđặc điểm khác biệt so với các ngành khác SP NXD với tưcách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh có đặc điểmsau:
a SP NXD là những công trình được xây dựng và sử dụngtại chỗ và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnhthổ Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tínhlưu động cao và thiếu ổn định – khó có thể đề ra mộtchiến lược sản phẩm chung cho toàn ngành
b SP NXD phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phươngnơi đặt công trình xây dựng Do đó nó có tính đa dạngvà cá biệt cao về công dụng, cách cấu tạo và chế tạo
c SP NXD thường có kích thước và chi phí lớn, thời giankiến tạo và sử dụng lâu dài Do đó, những sai lầm vềxây dựng có thể gây nên các lãng phí lớn, tồn tại lâudài và khó sửa chữa
d SP NXD thuộc phần kết cấu xây dựng chủ yếu đóng vaitrò nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lênđối tượng lao động trong quá trình sản xuất, trừ một sốloại công trình đặc biệt như đường ống, công trình thủylực, lò luyện gang thép
…
e SP NXD liên quan đến nhiều ngành cả về phương diệncung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sảnphẩm, cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xâydựng làm ra
f SP NXD có liên quan nhiều đến cảnh quan và môitrường tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích cộngđồng, nhất là dân cư địa phương nơi đặt công trình
Trang 21g SP NXD mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế,xã hội, văn hóa, nghệ thuật, quốc phòng.
Từ những đặc điểm nêu trên, các các chính sách liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh SP NXD cũng sẽ có nhiều điểm khác biệt
Trang 22Marketing trong xây dựng có nhiều đặc điểm khác biệt so vớicác ngành khác như:
a Sản phẩm trong xây dựng có các đặc điểm khác
biệt như: kiểu cách công trình xây dựng không phải dochủ thầu xây dựng thiết kế mà do chủ đầu tư thuêcông ty tư vấn thực hiện, trừ trường hợp áp dụng hìnhthức tổng thầu “chìa khóa tra tay” Do đó nói chung sảnphẩm đích thực của chủ thầu xây dựng chỉ là giải phápcông nghệ và tổ chức xây dựng được đem chào hàng vàtham gia tranh thầu
b Chính sách sản phẩm:
Doanh nghiệp xây dựng (DNXD) dựa trên điều tra thịtrường xây dựng và căn cứ vào thực lực của DNXD đểđịnh hướng các mặt hàng sản phẩm (các loại hình xâydựng) của doanh nghiệp sẽ tham gia tiến hành để kinhdoanh, tức là lập chiến lược cơ cấu sản phẩm xâydựng tối ưu Sản phẩm nhà cửa và công trình xâydựng là do chủ đầu tư quyết định, các DNXD chỉ có thểtiến hành dự báo để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh vàtrên cơ sở này sẽ chuẩn bị lực lượng và công nghệxây dựng của doanh nghiệp
c Chính sách giá cả trong xây dựng :
c.1 Giá cả sản phẩm xây dựng có tính cá biệt cao vì nóphụ thuộc vào điều kiện địa phương có công trình xâydựng, phương án tổ chức xây dựng của từng công trình,thời điểm và thời gian xây dựng cũng như ý muốn củangười có công trình xây dựng
c.2 Không thể định giá sẵn cho một sản phẩm cuối cùngmà chỉ có thể định sẵn phương pháp tính toán giá,cũng như định mức và đơn giá để tính nên giá củatoàn công trình
Trang 23thời điểm đấu thầu cho đến khi kết thúc xây dựng vàthanh quyết toán, vì trong quá trình xây dựng có thểphát sinh các chi phí mới ngoài dự kiến của chủ đầu tư.
Trang 24tranh thầu, giá hợp đồng, giá thanh quyết toán côngtrình, giá cứng, giá mềm, giá trần, giá sàn, giá bắtbuộc, giá thỏa thuận …
c.5 Giá xây dựng công trình hình thành chủ yếu thông qua đấu thầu và đàm phán
c.6Người mua giữ vai trò quyết định đối với mức giá côngtrình thông qua đấu thầu hay chỉ định thầu Sự cạnh tranhgay gắt về giá thầu đã gây không ít khó khăn chocác doanh nghiệp xây lắp nhà nước Gần đây trongđấu thầu nảy sinh quá nhiều hiện tượng tiêu cực Mộtthực tế trái ngược là doanh nghiệp nào có giá bỏ thầuthấp nhất sẽ thắng thầu trong khi chất lượng công trìnhđòi hỏi phải đạt quá nhiều tiêu chuẩn về kỹ, mỹthuật và tiến độ
c.7 Phụ thuộc vào giai đoạn đầu tư và ý định quản lý giáxây dựng có nhiều tên gọi khác nhau và có cách tínhkhác nhau như: tổng mức đầu tư, tổng dự toán côngtrình, giá trị dự toán xây lắp, giá hợp đồng, giá thanhquyết toán
c.8 Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thànhgiá cả các công trình xây dựng do vốn ngân sách củanhà nước cấp hoặc do vốn của các doanh nghiệp nhànước bỏ ra thông qua các định mức, đơn giá, phươngpháp tính toán chi phí xây dựng và các định hướng vềgiải pháp xây dựng cũng như các quy luật có liên quanđến xây dựng
c Chính sách giao tiếp và quảng cáo trong xây dựng
diễn ra chủ yếu trong giai đoạn tranh thầu, quảng cáotrực tiếp và cá biệt là chủ yếu
d Chính sách tiêu thụ trong xây dựng ảnh hưởng của
quá trình tiêu thụ sản phẩm xây dựng Các kênh tiêuthụ chính là các chủ đầu tư có công trình cần xây dựng,
Trang 25hoạt động khi quá trình đấu thầu xây dựng bắt đầu.
e.1 Xảy ra trước khi sản phẩm (công trình, nhà cửa …) rađời, tức là được bắt đầu khi chủ đầu tư công bố đấuthầu xây dựng
e.2Quá trình tiêu thụ kéo dài kể từ khi chủ đầu tư côngbố đấu thầu, trải qua các quá trình thanh toán trung gian,đến khi thanh quyết toán công trình cuối cùng
Trang 26e.3Sản phẩm xây dựng (các công trình, nhà cửa …) nóichung là không thể chế tạo sẵn hàng loạt để bán, trừtrường hợp chủ thầu xây dựng là các nhà kinh doanhbất động sản và họ có thể xây dựng sẵn một số cănhộ để bán hay cho thuê.
e.4 Sản phẩm xây dựng nói chung không có khâu lưu kho chờ bán
e.5 Quá trình mua bán nói chung xảy ra trực tiếp giữa ngườimua và người bán thông qua đấu thầu không qua đại lýbán hàng, trừ trường hợp có sự tham gia của các nhânviên môi giới
e.6Số người tham gia mua bán lớn, bao gồm chủ đầu tư cósự tham gia của các tổ chức tư vấn một bên và chủthầu xây dựng có sự tham gia của cả một tập thểchuẩn bị tham gia tranh thầu một bên
e.7Người mua (chủ đầu tư) phải tạm ứng tiền cho ngườibán (chủ thầu xây dựng) trong quá trình xây dựng (trừtrường hợp chủ thầu xây dựng muốn được thắng thầuđã tự nguyện tạm ứng vốn trước)
e.8Người mua đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọnngười bán (tổ chức xây dựng) và trong việc định giábán
e Chu kỳ sản xuất của sản phẩm xây dựng (thời gian
xây dựng công trình) thường dài Đặc điểm này gây nêncác tác động như:
f.1 Làm cho vốn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư và vốnsản xuất của tổ chức xây dựng thường bị ứ đọng lâutại công trình
f.2 Các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫunhiên theo thời gian và thời tiết, chịu ảnh hưởng của sựbiến động giá cả
f.3 Công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình ngay dotiến bộ nhanh của khoa học và công nghệ nếu thời gianthiết kế và xây dựng công trình kéo dài
Trang 27f.4 Đòi hỏi phải có chế độ tạm ứng vốn, thanh toántrung gian và kiểm tra chất lượng trung gian hợp lý, tổchức dự trữ hợp lý.
f.5 Đòi hỏi phải tính đến hiệu quả của rút ngắn thời gianxây dựng và chú ý đến nhân tố thời gian khi so sánhlựa chọn các phương án
Trang 28Sản xuất xây dựng được tiến hành trong khu vực nhiệtđới gió mùa, điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiệnđịa chất công trình, đất nước dài và hẹp, địa chất thủyvăn phức tạp Do đó giải pháp xây dựng ở Việt Nam chịuảnh hưởng mạnh của các nhân tố này Sản xuất xâydựng phải tiến hành ngoài trời và chịu ảnh hưởng nhiềucủa thời tiết Vì vậy hoạt động xây dựng phải đặc biệtchú ý tập trung vào thời điểm mùa khô và tránh mùagió bão Đồng thời cũng phải đề ra những biện phápkhắc phục thời thiết tối đa, nhằm giảm bớt thời gianngừng việc do thời tiết, phân phối năng lực sản xuấtđiều hòa theo bốn quý trong năm, áp dụng các loại kếtcấu lắp ghép được chế tạo sẵn một cách hợp lý đểgiảm thời gian thi công ở hiện trường, nâng cao mức độvà trình độ cơ giới hóa xây dựng Do vậy, các doanhnghiệp xây dựng cần chú ý đến nhân tố rủi ro của thờitiết khi hoạch định kế hoạch kinh doanh, nhất là khi soạnthảo hồ sơ đấu thầu.
Việc xem xét về môi trường sẽ tác động đến tấtcả các giai đoạn của quá trình thiết kế Thêm vào đó,cần đảm bảo các công trình có thể tiết kiệm được nănglượng nhất Những nhà thiết kế mong muốn tận dụng đượcnhiều hơn các vật liệu tái sinh hoặc phế thải và sẽ từngbước giảm đến mức tối thiểu tác động của các côngtrình của họ đối với môi trường toàn cầu
Môi trường tự nhiên ở nước ta đang ở mức báođộng Mức ô nhiễm và hủy hoại về môi trường, môi sinh
ở các khu vực nội thành đang rất nghiêm trọng, ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Mặt khác,các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta hầu hết đều tập trung
ở các khu dân cư và được xây dựng từ rất lâu, công
Trang 29quanh Chính vì vậy, nhà nước đang chủ trương di dời tất cảcác nhà máy ở nội thành ra các khu công nghiệp mới,các khu chế xuất ở ngoại thành Do vậy, nhu cầu xâydựng về nhà máy, các cơ sở sản xuất, các khu côngnghiệp mới sẽ tăng cao trong thời gian sắp tới Sự xuốngcấp của môi trường tự nhiên ở các đô thị lớn sẽ ảnhhưởng đến khuynh hướng chọn nơi ở
Trang 30trung tâm thành phố với cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi sẽlà sự lựa chọn của họ Nhu cầu xây dựng vì vậy cũng giatăng.
Ngành xây dựng mang đặc tính chung của côngnghiệp sản xuất và công nghiệp dịch vụ Với tư cách làmột ngành công nghiệp sản xuất, ngành xây dựng sảnxuất ra các sản phẩm vật chất thường gây ấn tượng vềkích thước, gía cả và tính đa dạng phức tạp Nhưng mặtkhác ngành lại mang dáng vẻ của một ngành côngnghiệp dịch vụ bởi lẽ nó không tích lũy một lượng vốnđáng kể so với các ngành khác như: ngành thép, giaothông, vận tải …
Xây dựng theo nghĩa rộng bao gồm nhiều lực lượngtham gia, do đó là một ngành bị cắt rời và chia rẽ, khôngcó một trung tâm hội tụ và các lực lượng rất khó phốihợp tốt với nhau Công nghiệp xây dựng có định hướng rõrệt là phục vụ theo đơn đặt hàng, do đó nó đáp ứng mộtcách chậm chạp các lợi ích của sản xuất lớn Các đặcđiểm của ngành xây dựng làm cho nó đạt hiệu quả trongcác vấn đề thực tế hoặc dự án, nhưng lại kém hiệu quảtrong những vấn đề chung
Ngành công nghiệp xây dựng với một số lượng lớncác doanh nghiẹp với qui mô nhỏ là chủ yếu đã khôngthể chi phối chủ động nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đầu racủa mình vì nó phụ thuộc vào nhu cầu xây dựng của cácchủ đầu tư mà các nhu cầu này lại chịu ảnh hưởng nhiềucủa tính giai đoạn và thời vụ
Những đặc điểm của SP NXD và các chính sáchriêng biệt của ngành xây dựng có tác động không nhỏđến quá trình tổ chức sản xuất và quản lý ngành Việctìm hiểu những đặc trưng này giúp cho ngành có một tầm
Trang 31triển ngành.
Trang 32DỰNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG 10
NĂM QUA
2.1
Tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp
của Việt Nam tác động đến ngành xây dựng:
2.1.1 Tình hình kinh tế:
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng GDP củaViệt Nam duy trì ở mức 6% - đây là một thành tích nổibật của Việt Nam Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) tốc độtăng trưởng kinh tế của các nước Châu Á - Thái Bình Dươngchỉ đạt 0,7%
Cùng với chính sách đổi mới toàn diện, hướng về nềnkinh tế thị trường từ những năm 1987, Việt Nam đã gặthái được những thành tựu ban đầu khá vững chắc vớimức tăng trưởng của GDP tăng dần và đạt đến đỉnhcao vào năm 1995 với mức 9,5%/năm Mức tăng trưởngnhanh này có tác dụng tạo ra một nền tảng căn bản chonhững bước phát triển tiếp theo, phục vụ đắc lực cho sựnghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Nềnkinh tế tăng trưởng sẽ là đòn bẩy kích thích sự phát triểncủa các ngành công nghiệp và dịch vụ, đây chính là cơhội phát triển tuyệt vời cho ngành công nghiệp xây dựng
ở nước ta Sau đây là tác động chủ yếu của các yếu tốkinh tế đến hoạt động của ngành
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăng đều qua các năm
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăng trung bình14,6%/năm giai đoạn 1997- 1999 thể hiện một tốc độ đầu tưmạnh mẽ vào các ngành kinh tế của cả nước, trong đónguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng cao 61,6%và tăng dần qua các năm chứng tỏ sự phát triển bền
Trang 33trung mạnh nhất ở các ngành công nghiệp, vận tải, khobãi, cơ sở hạ tầng.
Trang 34– Vốn ngoài quốc doanh 20.773,0
0 26,2 20.500,00 21,3 21.000,00 20,2
– Vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài
22.700,0 0
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí M inh 1999
Lãi suất giảm
Lãi suất và xu hướng của lãi suất trong nền kinh tế cóảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu
tư, và do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động củacác doanh nghiệp Trong những năm vừa qua, lãi suất ởViệt Nam tương đối ổn định và có xu hướng giảm dần từ
1996 Lãi suất tín dụng hiện hành của ngân hàng ngoạithương đối với những khoản vay bằng USD ngắn hạn là0,75%/tháng, vay dài hạn là 0,80%/tháng; ngoại tệ USD là7%/năm
Hệ thống thuế và mức thuế mới
Luật thuế Giá trị gia tăng (VAT) có hiệu lực thi hànhtrong cả nước từ ngày 01.01.1999 Đây là một bước cảicách hệ thống thuế ở nước ta nhằm giảm bớt những bấthợp lý trong cách tính thuế, khuyến khích sản xuất kinhdoanh và để hoà nhập với các nước trong khu vực và thếgiới Tuy nhiên, mức thuế VAT ở một số ngành còn caovà phương pháp khấu trừ chưa thật hợp lý đã ảnh hưởng
ít nhiều đến mức chi phí và thu nhập của doanh nghiệp
Tổng sản phẩm trong nước giảm:
Sau một giai đoạn tăng trưởng từ 5,1% (1990) đến 9,5%(1995), mức tăng trưởng GDP ở nước ta đã bắt đầu có xuhướng giảm dần Cụ thể là năm 1996 là 9,3% đến năm
1998 còn 5,8% và năm 1999 là 4,8% Đây là mức tăng
Trang 35giảm do nhiều nguyên nhân như hệ thống chính sáchkhông còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, hệthống ngân hàng và tài
Trang 36chính yếu kém thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tiền tệChâu Á đã ảnh hưởng không ít đến mức tăng trưởng củanền kinh tế nước ta.
Đầu tư nước ngoài giảm
Chính sách đầu tư nước ngoài đã thu hút một nguồn vốnđầu tư đáng kể cho nền kinh tế, đóng góp khoảng 10%GDP và chiếm 20% tổng số thuế Tổng số vốn đầu tưnước ngoài tính đến tháng 9/1999 là 33,9 tỷ USD với 1757dự án đang còn hoạt động Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tưnước ngoài trong GDP từ mức 15% trong năm 1995 đãgiảm xuống chỉ còn 2,5% trong năm 1998 và ước đoánkhoảng 2,2% trong năm 1999 do cuộc khủng hoảng tiền tệtrong khu vực
Lạm phát chưa ổn định
Lạm phát cao hay thấp đều có ảnh hưởng đến tốc độđầu tư vào nền kinh tế Lạm phát ở nước ta trong giai đoạnqua chưa thật ổn định Nếu như năm 1992 tỷ lệ lạm phátlà 17,5% giảm xuống còn 4,5% (1996), sau đó tăng lên9,2% (1998) và đến năm 1999 là 0,1% Tỷ lệ lạm phát biếnđộng thất thường đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.Điều này chứng tỏ mặc dù đã đạt được tốc độ tăngtrưởng cao, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thật ổn định
Tóm lại : Vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăng
đều qua các năm là cơ hội rất thuận lợi cho sự phát triểncủa ngành xây dựng nước ta, lãi suất giảm sẽ gia tăngnhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hệ thống thuế và mứcthuế mới ảnh hưởng đến mức chi phí và thu nhập củadoanh nghiệp, tổng sản phẩm trong nước giảm là nguy cơlớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuấtkinh doanh ở các ngành, đầu tư nước ngoài giảm đã tácđộng mạnh đến tốc độ đầu tư của các dự án và ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động của ngành xây dựng, lạm
Trang 37phát chưa ổn định là yếu tố đe dọa đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đặc biệt tácđộng trực tiếp đến các quyết định đầu tư từ nước ngoàivào Việt Nam
Trang 382.1.2 Tình hình chính trị, luật pháp:
2.1.2.1 Yếu tố chính trị:
Việt Nam có ưu thế lớn so với các nước trong khu vực làsự ổn định về chính trị, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tưtừ các nước vào Việt Nam
Sau gần 5 năm gia nhập vào ASEAN, Việt Nam đã tạo ramột môi trường khu vực tốt hơn, quan hệ song phươngvới các nước thành viên trong khu vực ngày càng đượccải thiện và nâng cao hơn Hiện nay, Việt Nam đangchuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO)và Hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại cho cácnước đang phát triển Chính những yếu tố chính trị nàyđã tạo ra những tiền đề quan trọng cho nền kinh tế, thúcđẩy đầu tư trong và ngoài nước phát triển mạnh
Mặc dù Việt Nam có tình hình chính trị ổn định nhưng bộmáy hành chính vẫn còn rườm rà, nhiều thủ tục, mộtsố còn quan liêu, cửa quyền Điều này đã hạn chế rấtnhiều nhiệt tình đầu tư của các doanh nghiệp trong vàngoài nước, gây tổn thất không ít cho xã hội
2.1.2.2 Yếu tố luật pháp:
Luật đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài sửađổi có hiệu lực từ ngày 1/7/2000 cùng với các chủtrương, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế,những cải cách về thủ tục hành chính đã và đang từngbước tạo điều kiện thu hút và kích thích các doanhnghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu tư sản xuấtkinh doanh tại Việt Nam Năm 1999 các cơ chế chính sáchcó liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng đã đượcchính phủ quan tâm nhằm thúc đẩy các hoạt động đầu
tư trong và ngoài nước Những chính sách để khuyến khíchđầu tư trong nước được chính phủ ban hành như Nghị định51/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, chính sách đầu tư nướcngoài đã được sửa đổi điều chỉnh những bất cập
Trang 39(QĐ số 53/99/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 và Nghị định24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 qui định chi tiết Luật đầu tưnước ngoài ban hành kèm theo danh mục dự án đầu tưvà khuyến khích đầu tư)
Trang 40 Quốc hội đang tiếp tục hoàn chỉnh các văn bản luậtđã ban hành, soạn thảo các dự luật mới, các cơ quanchính phủ đang tiến hành soạn thảo các văn bản dướiluật để tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn địnhđể kích thích phát triển sản xuất và phù hợp với môitrường kinh doanh quốc tế.
Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 (Quy chế quảnlý đầu tư và xây dựng) ra đời nhằm giúp công tácquản lý nhà nước về xây dựng được chặt chẽ và hiệuquả hơn, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp ngành xâydựng được tham gia vào cuộc cạnh tranh một cách lànhmạnh và công bằng Nghị định đã đề cập đến việcphân rõ trách nhiệm của từng khâu từng cấp và đốivới từng chủ thể trong việc đảm bảo chất lượng củacác công trình xây dựng
Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 04/09/1999 (Quy chế đấuthầu) đã thể hiện quyết tâm của chính phủ trong việccải cách môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơncho hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta Quy chế nàymong muốn thông qua đấu thầu để đạt được tính cạnhtranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầunhằm lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quảkinh tế cho dự án Đây là những bước đi của chính phủnhằm hoàn chỉnh dần công tác về quản lý đầu tư vàxây dựng, tạo môi trường pháp lý lành mạnh trong hoạtđộng xây dựng cơ bản
Theo Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 tại Danhmục đầu tư có điều kiện đã hạn chế hình thức đầu tư100% vốn nước ngoài đối với lĩnh vực kinh doanh xâydựng bao gồm dịch vụ xây dựng và các dịch vụ tư vấnxây dựng Do việc mở cửa đối với hình thức này cóảnh hưởng lớn đến việc phát triển của các doanh