Bởi vậy hiểu theo nghĩarộng thì chính sách tiền tệ là hệ thống các quan đểm, chủ trươngvà các biện pháp của nhà nước nhằm tác động và điều chỉnhcác hoạt động về: tiền tệ – tín dụng – ngâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ THỊ MẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2Trang : 1
CHƯƠNG I NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ
I CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ VẤN ĐỀ CUNG ỨNG TIỀN
1.Khái niệm về chính sách tiền tệ:
Hoạt động của ngân hàng liên quan đến sự ổn định hay thayđổi của tiền tệ về: lưu lượng, chi phí và giá trị Vì những thay đổinày tác động đến giá cả hàng hoá và giá trị tài sản, thunhập của nhân dân cho nên nó trực tiếp làm biến đổi mức sốngcủa dân cư giữa hai cực: Khó khăn, đắt đỏ – thuận lợi, tiện nghi
Do đó bằng cách tạo ra các biến động về tiền tệ, người ta hoàntoàn có thể hướng dẫn những biến động nhất định trong đời sốngvà sinh hoạt kinh tế của xã hội Mối quan hệ ấy đã làm chonhững biến động về tiền được gọi là “chính sách tiền tệ”
Hiểu theo nghĩa hẹp thì chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiềntăng thêm trong từng thời kỳ (thường là một năm) phù hợp vớimức tăng trưởng kinh tế
Ở mỗi nước chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổngthể hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước, để thực hiệnviệc quản lý vĩ mô nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu kinhtế – xã hội trong từng giai đoạn nhất định Bởi vậy hiểu theo nghĩarộng thì chính sách tiền tệ là hệ thống các quan đểm, chủ trươngvà các biện pháp của nhà nước nhằm tác động và điều chỉnhcác hoạt động về: tiền tệ – tín dụng – ngân hàng – ngoại hối tạo
ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ, để thúc đẩy sự phát triểnkinh tế – xã hội
Ở Việt Nam theo điều 2 luật của ngân hàng nhà nước ViệtNam (luật số 01/97/QH10) thì chính sách tiền tệ quốc gia là: mộtbộ phận của chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước nhằmổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vànâng cao đời sống của nhân dân Với các nội dung sau:
Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động của ngân hàng
Có chính sách động viên các nguồn lực trong nước là chính,tranh thủ tối đa nguồn lực ngoài nước, phát huy sức mạnh tổng hợp cuả các thành phần kinh tế
Bảo đảm vai trò chủ đạo và chủ lực của các tổ chức tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa chủ quyền quốc gia
Mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầuphát triển kimh tế – xã hội, góp phần thực hiện công nghiệïp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bởi vậy: Việc quyết định và tổ chức thực hiện chính sáchtiền tệ được quy định cụ thể trong điều 3 luật Ngân hàng nhànước như sau:
Quốc hội: Quyết định và giám sát việc thực hiện chính sáchtiền tệ quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm trong mối
Trang 3 Chính phủ xây dựng dự án, chính sách tiền tệ quốc gia, mứclạm phát dự kiến hàng năm trình quốc hội quyết định, tổ chứcthực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, quyết định lượng tiền
Trang 4cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo ủy ban thường vụ quốc hội, quyết định các chính sách cụ thể khác và các giải pháp thực hiện.
Để hoạch định và thực hiện được chính sách tiền tệ nhằmgóp phần ổn định lưu thông tiền tệ và tăng trưởng kinh tế, chínhphủ Việt Nam đã cho thành lập hội đồng tư vấn chính sách tiền tệquốc gia để tư vấn cho chính phủ trong việc quyết định những vấnđề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của chính phủ về chính sách tiềntệ
2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
2.1 Mục tiêu chính sách tiền tệ của một số quốc gia
trên thế giới
Xung quanh vấn đề này có rất nhiều ý kiến khác nhau:
- Quan điểm 1 : Mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả
- Quan điểm 2 : Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn địnhtiền tệ, gồm ổn định giá trị đối nội và giá trị đốâi ngoại củatiền tệ Trong đó mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu
- Quan điểm 3 : Khẳng định chính sách tiền tệ có hai mục tiêu đó là :
Ổn định tiền tệ:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong đó tăng trưởng kinh tế là mục tiêu thứ yếu
- Quan điểm 4 : ( quan điểm của số đông ) cho rằng việc hoạchđịnh và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia phải đạt ba mụctiêu:
Ổn định tiền tệ (gồm ổn định giá trị đối nội và đối ngoại của tiền tệ)
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn dụng nhân lực : Trong đó việc toàn dụng nhân lực là hệ quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế
Đảm bảo hoạt động an toàn của các tổ chức tín dụng Cho dù theo quan điểm nào thì mục tiêu chính sách tiền tệcủa mỗi nước đều gắn liền mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia
đó Ví d ụ :
Chính sách tiền tệ của Pháp quốc nhằm vào mục tiêuchủ yếu là phát triển kinh tế, chống lạm phát với biện pháp cụthể là kiểm soát chặt chẽ mức tăng trưởng khối lượng tiền vàolưu thông; ngoài ra chính sách tiền tệ của Pháp quốc còn hướngđến các mục tiêu thứ yếu như :
- Thay đổi sâu sắc cơ cấu tiền tệ; kiểm soát chặt chẽ các khối tiền (M1 – M2 –
M3 - L)
Mục tiêu chính sách tiền tệ cuả cộng hoà liên bang Đứclà: ổn định tiền tệ, hạn chế lạm phát và phát triển tốc độ lưuthông tiền tệ, giảm dần tốc độ tăng giá cả hàng hoá; tăngtrưởng kinh tế, tăng tổng sản phẩm quốc nội
Chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ : Hoa Kỳ công nhận các mụctiêu của chính sách kinh tế cũng là mục tiêu của chính sách tiềntệ Bởi vậy mục tiêu của chính sách tiền tệ của họ là: công ăn
Trang 5việc làm; tăng trưởng kinh tế; ổn định giá cả; ổn định lãi suất;ổn định tài chính ; ổn định thị trường ngoại hối.
Nhìn chung chính sách tiền tệ của các nước đều hướng tới các mục tiêu như sau :
2.1.1 Ổn định tiền t ệ :Đây là mục tiêu hàng đầu Ổn
định thực chất là ổn định sức mua đối nội và sức mua đối ngoạicủa tiền tệ quốc gia
- Sức mua đối nội của tiền tệ quốc gia biểu hiện ở mứcvật giá chung Nên chính sách tiền tệ quốc gia hướng vào việcổn định giá cả hàng hóa, kiểm soát và kiềm chế lạm phát
- Sức mua đối ngoại của tiền tệ gia quốc biểu hiện ở tỷ giá hối đoái, tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về giá trị giữa các ngoại tệ Vì vậy mọi biến động của tỷ giá hối đoái đều
Trang 6có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế trong nuớc và chính sách kinh tế đối ngoại cho nên chính sách tiền tệ quốc gia phải hướng vào việc ổn định tỷ giá hối đoái.
Ổn định sức mua đối nội và sức mua đối ngoại là đường lối xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương của các quốc gia
2.1.2 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và toàn nhân công:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Các nhà kinh tế học hiệnđại cho rằng: Giữa tăng trưởng tiền tệ và tăng trưởng kinh tế cómối quan hệ qua lại nhau, cụ thể: khối tiền tệ tăng hay giảm ảnhhưởng trực tiếp đến lãi suất và số cầu tổng hợp, lãi suất và sốcầu tổng hợp thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư, đầu tưtăng giảm sẽ trực tiếp tác động đến sự tăng hay giảm GNP
Theo Millton Friedman – đại diện cho học thuyết trọng tiền hiệnđại, cho rằng:
- Mức cung tiền tệ là nhân tố chủ yếu có tính quyết địnhmức tăng GNP danh nghiã, còn mức cầu tiền tệ chỉ bị tác độngbởi sự tăng, giảm của mức cung Chính sách tiền tệ có tầm quantrọng đối với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế (như kinh phíquốc phòng, y tế, giáo dục…)những sự thay đổi của biểu số kinhtế vĩ mô chủ yếu chịu ảnh hưởng của tiền tệ
Tóm lại : Mức cung tiền tệ đóng vai trò quan trọng vào quátrình gia tăng sản lượng Nhưng cũng cần lưu ý rằng ngoài mứccung tiền tệ ra còn các nhân tố khác như: tâm lý tiêu dùng,giá cả thế giới, v.v… có ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tếcủa bất cứ nước nào Tuy nhiên, trong thực tế để đạt được mụctiêu này thì sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu kia (ổn định tiền tệ) Đểlàm rõ điều này, nên nghiên cứu quan điểm của Irving Fisher – đạibiểu cho học thuyết số lượng tiền tệ I.Fisher và các kinh tế giacùng trường phái, đưa ra phương trình nổi tiếng:
M.V = P.Q
Trong đó:
+ M : Tổng các phương tiện lưu thông tiền tệ
+ V : Tốc độ lưu thông bình quân của các phương tiện tiền tệ+ P : giá cả hàng hóa , dịch vụ
+ Q : Khối lượng hàng hoá dịch vụ lưu thông
I Fisher cho rằng: giữa tiền tệ và tổng sản phẩm quốcdân có quan hệ mật thiết, mối quan hệ đó phụ thuộc vào V Nếu
V quay chậm có nghĩa là dân chúng giữ tiền rất lâu giữa cáclần tiêu dùng, thì mức cung tiền tệ cho nền kinh tế phải được tăngthêm.Từ công thức :
M.V = P.Q M =P.Q/V = GNP/V
Giả sử : V và Q giữ nguyên, nếu Ngân hàng tăng cung ứngtiền tệ cho nền kinh tế (M tăng ) thì giá cả hàng hóa tăng (Ptăng) làm cho GNP tăng, trong trường hợp này là không tốt Bởivậy thuyết số lượng tiền tệ cho rằng :
Khi Ngân hàng trung ương tăng M lên gấp hai lần lạm phát tăng gấp hai lần Khi Ngân hàng trung ương tăng M lên gấp
1000 lần lạm phát tăng gấp 1000 lần
Tuy rằng không đúng hoàn toàn vì: Nếu Ngân hàng trungương tăng cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế mà được toàn dụng thìsẽ có sự tăng lên của Q (sản lượng hàng hóa, dịch vụ); P (giá
Trang 7cả) cũng tăng, nhưng ở một mức thấp thì GNP tăng, trong trườnghợp này là chấp nhận được chứ hoàn toàn tăng M không cùngtỷ lệ tăng lạm phát (tăng giá cả).
Lý thuyết này quá đơn giản, nhưng trong thực tế có một ýnghĩa thực tiễn nhất định của nó, vì sẽ ảnh hưởng đến mục tiêuổn định tiền tệ nên các nhà điều hành chính sách tiền tệ cầnquan tâm
- Toàn dụng nhân công (giảm thiểu thất nghiệp) có mở rộngtiền tệ thì có tăng trưởng kinh tế, có tăng trưởng kinh tế thì sẽ có toàn dụng nhân lực Toàn dụng nhân lực là hệ quả tất
Trang 8yếu của tăng trưởng vì khi đầu tư gia tăng, các doanh nghiệp mớiđược thành lập, doanh nghiệp cũ được mở rộng quy mô nên cầntuyển dụng thêm công nhân, số người có việc làm tăng, thấtnghiệp giảm.
2.1.3 Đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng:
Các giải pháp chính sách tiền tệ tích cực hay tiêu cực,được thực hiện và tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanhcủa các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Bởi vậykhi vận hành chính sách tiền tệ các nhà hoạch định chính sáchtiền tệ rất quan tâm đến mục tiêu này Vì mục tiêu này màkhông được thực hiện thì hai mục tiêu trên cũng bị ảnh hưởngnặng nề
2.2 Mục tiêu chính sách tiền tệ của Việt Nam nhằm:
- Ổn định giá trị của đồng tiền Việt Nam (VND), kiềm chế lạm phát
- Góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế xã hội
- Bảo đảm an ninh quốc phòng và nâng cao đời sống của nhân dân
3 Nội dung của chính sách tiền t ệ
3.1 Cung ứng và điều hoà tiền tệ:
3.1.1. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng trung ương và ảnh hưởng của cung ứng tiền tệ đến nền kinh tế:
Sự thay đổi của cung ứng tiền tác động mạnh mẽ đếnsản lượng, thu nhập và giá cả Nghĩa là chính sách cung ứng nớilỏng (Easy Monetary Policy) và chính sách cung ứng thắt chặt (TightMonetary Policy) của Ngân hàng trung ương đều tác động trực tiếpđến nền kinh tế
Trang 9Với lượng tiền Qo và lãi suất Ro thì nhu cầu về hàng hoá ,dịch vụ trong nền kinh tế là D’ Nhu cầu đó được cân bằng với sảnlượng quốc gia tại E’o cho biết trên thị trường hàng hoá tổng cung =tổng cầu tại sản lượng Qo với chi phí biên (C) để có thêm tiền là
Co Chi phí biên ấy cho biết với lượng cung ứng tiền Mo và lãi suất
Ro, để có thêm một đơn vị tiền tệ mới cho tiêu dùng hoặc sảnxuất, nhà sản xuất hoăïc nhân dân phải trả một chi phí là Co
Trang 10- Nếu Ngân hàng trung ương quyết định thắt chặt cung ứngtiền để hạn chế áp lực lạm phát bằng cách thu hẹp cung ứng tiềntừ So S1 (hình 1) trong khi đường cầu tiền (D) không đổi sẽ làmcho lãi suất tăng lên (tăng từ Ro lên R1) Điểm quân bình đã dịchchuyển từ Eo lên E1 , thị trường tiền tệ có lượng tiền hạn chế hơnlà Q1 (Q1 < Qo) với lãi suất là R1 (R1 > Ro) Trên thị trường hànghoá (hình 2) chi phí biên của tiền tệ tăng từ Co lên C1 tiêu dùngvà sản suất đều thiếu vốn, cả cầu lẫn cung về hàng hoá vàdịch vụ đều giảm sút Điểm quân bình mới sản lượng quốc giagiảm sút xuống Q1 lạm phát giảm theo (lạm phát giảm nhưng nềnkinh tế phải trả giá: là sản lượng giảm, thu nhập giảm, thấtnghiệp gia tăng )
- Ngược lại giả định để chống suy thoái kinh tế, Ngân hàngtrung ương chuyển từ chính sách cung ứng tiền tệ hạn chế sangchính sách nới lỏng làm tổng cung tiền tệ tăng từ S1 lên S2
(hình 1) Đường cung tiền tệ S2 cắt đường cầu D tại điểm E2 , điềuđó cho biết tổng tiền tệ trong nền kinh tế đã tăng từ Q1 lên Q2
do đó lãi suất hạ từ R1 xuống R2 lãi suất hạ đã kích thích sảnxuất đầu tư, tiêu dùng cả tiêu dùng và sản suất đều tăng Đường D cắt đường tổng cung hàng hóa mới S’2 tại E’2 sản lượngquốc gia đã tăng từ Q1 lên Q2, do tiêu dùng tăng làm cho giá cảhàng hóa có xu hướng tăng GNP tăng, thu nhập của dân cưtăng, thất nghiệp giảm nhưng lại phải trả giá: lạm phát cao hơn
- Nghiên cứu thực tiễn trên 80 năm nền kinh tế Hoa Kỳ ,nhà kinh tế học Milton Friedman đã chứng minh rằng: “Sự thay đổicủa cung ứng tiền tác động mật thiết và mạnh mẽ đến sảnlượng , thu nhập và giá cả trong những khoảng thời gian dài hàngnăm trở lên và nó tác động nhanh chóng đến lãi suất, tổng cầuvà sản lượng trong thời gian ngắn một năm trở lại” (1)
- Nói một cách khác sự điều tiết cung ứng tiền tệ củaNgân hàng trung ương đều ảnh hưởng đến mọi biến động của đờisống kinh tế vĩ mô như: Giá cả, tổng cầu, lãi suất, sản xuất thunhập , sản lượng … chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiềntệ trở nên dồi dào với chi phí hạ người tiêu dùng và nhà sảnxuất có nhiều tiền hoặc không mất khó khăn và tốn kém đểcó tiền Bởi vậy kích thích họ tiêu dùng cho cuộc sống và tiêudùng cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư, làmsản xuất liên tục được mở rộng, sản xuất mở rộng nên đã mộthêm công nhân, làm giảm thiểu thất nghiệp, thu nhập quốcdân gia tăng Nền kinh tế tăng nhanh với giá cả có phần cao hơntrước
- Ngược lại nếu cung ứng tiền hạn chế (thắt chặt tiền tệ
khan hiếm tiền tệ ) làm cho sản xuất bị thiếu thốn vốn, ngườitiêu dùng thiếu tiền buộc họ phải giảm giá cả tiêu dùng lẫnđầu tư Tiêu dùng giảm kéo theo tổng cầu giảm và giá cả hạ.Nhưng sẽ phải trả một giá là: thu hẹp sản xuất, tăng thấtnghiệp, thu nhập dân cư giảm, GNP giảm và nền kinh tế rơi vàosuy thoái
- Do vậy việc cung ứng tiền tệ của Ngân hàng trung ương có khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
3.1.2 Thành phần của mức cung ứng tiền te ä:
Trang 11Từ thập niên 1980 trở đi theo quan điểm của IMF (International Monetary Fund ) và WB (World Bank) thì cần phải có mộtquan điểm mới về khối tiền , phù hợp với các hình thái pháttriển của tiền tệ Trong thực tế , để thực chính sách tiền tệ quốcgia , các nước tùy theo nhu cầu và trình độ của mình mà phân chiakhối tiền tệ theo những quan điểm riêng phù hộp với thực trạngkinh tế từng nước
Theo P.A Samuelson (Mỹ) khối tiền tệ gồm:
- Tiền hẹp : hay còn gọi là tiền giao dịch ;ký hiệu là M1, gồm:
Tiền mặt ( tiền giấy và tiền kim loại )
Tiền séc hay còn gọi là tiền gởi thanh toán
Trang 12- Tiền rộng : Chuẩn tệ (tiền tệ tài sản) ký hiệu là M2 , gồm:
M1
Các tài sản là tiền thay thế rất gần với tiền giao dịch như :
Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm
Các loại chứng khoán có giá khác
Theo J.M Keynes (Anh) khối tiền tệ gồm:
- M1 : Khối tiền tệ giao dịch hàng ngày, gồm có :
Tiền măït (gồm tiền giấy và tiền kim loại)
Tiền séc
Tiền quỹ dự phòng
- M2 : Tiền tích trữ phục vụ cho đầu
tư dài hạn Theo B Friedman, khối
tiền tệ gồm:
M1, M2, D ( các công cụ tài chính, công trái văn tự cầm cố, chuẩn tệ)
Tóm lại : Khối lượng tiền trong lưu thông khối lượng tiền mặtđang lưu thông và các phương tiện có khả năng chuyển hoáthành tiền trong mộõt khoảng thời gian nào đó để thực hiện giátrị hàng hoá , dịch vụ và các giao dịch khác
Căn cứ vào khả năng thực hiện các nghiệp vụ giao dịch , khốilượng tiền trong lưu thông được chia ra thành các bộ phận sau đây :
- Tiền mặt
- Tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng, tại các tổ chức tài chính khác
- Chứng chỉ tiền gửi và trái khoán
- Tài khoản khác
Sự cung ứng tiền ngày nay do hệ thống ngân hàng cung ứngbao gồm tiền mặt do Ngân hàng trung ương phát hành và bút tệ
do Ngân hàng thương mại tạo ra Ngân hàng trung ương phát hànhtiền chủ yếu là cho vay nền kinh tế thông qua Ngân hàng thươngmại Mà Ngân hàng thương mại lại có khả năng tạo “tiền” Bởivậy mức cung tiền tệ trong nền kinh tế phải được giới hạn đểbảo vệ giá trị của đồng tiền ở mức cần thiết Vì vậy chính phủcác nước ủy quyền cho Ngân hàng trung ương kiểm soát mức cungtiền tệ
3.1.3 Xác định mức cầu tiền tệ của nền kinh t ế
Tùy tình hình cụ thể của từng nước mà việc xác định mứccầu cho phù hợp Nhưng nhìn chung việc xác định mức cầu tiền tệ thường dựa vào :
- Quy luật lưu thông tiền tệ của Karl Marx:
Trang 13V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ
- Học thuyết số lượng tiền tệ của Irving Fisher
M.V = P.Q
Trong đó:
Trang 14M: Tổng các phương tiện lưu thông tiền tệV: Tốc độ lưu thông bình quân của các phương tiện tiền tệ P: Giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Q: Khối lượng hàng hóa và dịch vụ
- Lý thuyết trọng tiền của Milton Fiedman với công thức cầu tiền tệ
M = K.P.Y
Trong đó :
M: Khối lượng tiền lưu thôngK: Hệ số tiền tệ nói chung tức là tỷ lệ dự trữ các khối lượng tiền tệ (M1, M2…) so với tổng sản phẩm quốc dânP.Y
P: Chỉ số giá cảY: Thu nhập theo giá cố định
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm
- Tỷ lệ trượt giá bình quân hàng năm
- Thâm hụt của cán cân thanh toán quốc tế
- Nhu cầu thay thế tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông …
- Trên cơ sở xác định được mức cầu tiền tệ của nền kinh tếmà Ngân hàng trung ương các quốc gia phát hành tiền sao cho phù hợp
3.2 Chính sách tín dụng cho nền kinh tế
Ngân hàng trung ương dành chủ yếu cung ứng cho hoạt động kinh tế sao cho phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế , có tính đến tỷ lệ lạm phát trong một thời kỳ nhất định
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế thông qua :
- Ngân hàng trung ương cho Ngân hàng thương mại vay tiềnbằng nguồn vốn phát hành Bởi vậy khi cho vay sẽ ảnh hưởngrất lớn đến khối tiền trong lưu thông Bởi vậy Ngân hàng trungương phải kiểm soát ngay từ khi phát hành tiền cho Ngân hàngthương mại vay , xem xét cách sử dụng tiền vay và cho vay củaNgân hàng thương mại để đảm bảo đồng tiền phát huy được hiệuqủa kinh tế Đồng thời Ngân hàng trung ương cũng định ra các chếđộ , thể lệ hợp lý để vừa khuyến khích sự năng động sáng tạotrong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Vừa đảm bảokinh doanh có lãi của các tổ chức tín dụng
- Ngân hàng thương mại cho vay nền kinh tế bằng các nguồn :+ Một là huy động vốn tiền tạm thời nhàn rỗi (cái đãcó sẵn trong nền kinh tế) trong nền kinh tế để làm nguồn cho vaygọi là nguồn vốn huy động
+ Hai là nguồn vốn đi vay : Có thể vay của Ngân hàngthương mại khác (cái sẵn có trong nền kinh tế ; Có thể vay từ NHnước ngoài ; Vay của Ngân hàng trung ương bằng nguồn phát hành
Trong đó : Ngân hàng trung ương khuyến khích các Ngân
hàng thương mại mở rộng nguồn vốn huy động để tận dụng nguồnvốn sẵn có trong nền kinh tế Khi cần thiết thì sử dụng nguồn vốnphát hành để kích thích Đầu tư , Gia tăng sản xuất , kích thích tiêudùng Khi cho vay bằng nguồn huy động và nguồn vay của Ngânhàng trung ương , Ngân hàng thương mại có khả năng tạo bút tệnên vấn đề kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng bằng các
Trang 15biện pháp hữu hiệu mà Ngân hàng trung ương các nước cần quantâm
3.3 Chính sách tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước
Nếu Ngân sách Nhà nước thiếu hụt , Ngân sách có thể tìm nguồn bù đắp bằng nhiều
cách :
Trang 16 Vay của dân cư trong nước bằng cách phát hành công tráinhà nước hoặc trái phiếu kho bạc nhà nước
Vay của nước ngoài thông qua vay chính phủ hoặc của WB , IMF
…
Nếu không cân đối được cuối cùng ngân hàng trung ươngphải cho vay ngắn hạn Việc tạm ứng cho ngân sách nhà nướcthường có kế hoạch từ đầu năm tài chính trên cơ sở đó ngânhàng cho vay nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức cho vay đối với ngânsách nhà nước có trái phiếu làm đảm bảo
3.4 Chính sách ngoại hối:
Mục đích nắm được các nguồn ngoại tệ tập trung vào trongtay nhà nước để sử dụng một cách chủ động nhằm thực hiệnchính sách tiền tệ có hiệu quả Đặc biệt là ở các quốc giađồng bản tệ còn là đồng tiền yếu không được tự do chuyển đổi,thì chính sách ngoại hối là nội dung rất quan trọng trong chính sáchtiền tệ
Các hoạt động của chính sách ngoại hối
- Chính sách hối đoái: nhằm tập trung tối đa lượng ngoại tệcủa các chủ thể kinh tế và dân cư vào Ngân hàng trung ươngnhằm tăng cường dự trữ quốc gia, đáp ứng nhu cầu thanh toánquốc tế, tạo cho nhà nước có thể can thiệp vào thị trường, ổnđịnh tỷ giá hối đoái, giữ vững mức mua đối nội và đối ngoại củatiền tệ quốc gia
Tùy mỗi quốc gia mà duy trì chính sách hối đoái có khác nhau
II CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ:
Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng trung ươngcó thể sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau, tùy theo điều kiệnthực tế cụ thể và nhận thức cụ thể của các viên chức ngânhàng tại quốc gia đó về tính năng và tác dụng của nó đối vớinền kinh tế Nhưng nhìn chung các quốc gia thường điều tiết bằngcác công cụ chủ yếu sau:
1.Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation).
Là việc Ngân hàng trung ương tham gia mua hoặc bán các giấytờ có giá ngắn hạn với các Ngân hàng thương mại trên thịtrường tiền tệ
- Công cụ này được sử dụng một cách thường xuyên nhất,hiệu quả nhất , ảnh hưởng rộng rãi nhất và được coi là quantrọng nhất ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước có nền kinhtế phát triển và có hệ thống ngân hàng hiện đại
- Việc sử dụng nghiệp vụ thị trường mở ảnh hưởng trực tiếpngay đến dự trữ của các ngân hàng thương mại, vì vậy nó bắtbuộc các ngân hàng thương mại phải tăng hay giảm tín dụng đốivới nền kinh tế Vì rằng khi Ngân hàng trung ương bán chứngkhoán ra thị trường – Ngân hàng thương mại mua chứng khoán củaNgân hàng trung ương làm giảm dự trữ của ngân hàng thương mại,dự trữ giảm nên cho vay sẽ giảm đi và như vậy cung ứng tiền chonền kinh tế giảm đi Điều này đồng nghĩa với chính sách hạn chếtiền tệ Khi Ngân hàng trung ương bán chứng khoán để thu tiềnvề làm cho lượng chứng khoán lưu thông gia tăng làm giá cảcủa chứng khoán hạ, giá cả chứng khoán hạ thì xu hướng mua
Trang 17chứng khoán sẽ nhiều hơn, điều này lại bắt buộc các Ngân hàngthương mại phải tăng lãi suất tiền gửi để tránh việc dân cư rúttiền khỏi ngân hàng để đầu tư mua chứng khoán Như vậy khiNgân hàng trung ương bán chứng khoán nó sẽ làm thắt chặt tiềntệ, tăng lãi suất, giảm dự trữ của các Ngân hàng thương mại.
- Ngược lại khi Ngân hàng trung ương mua chứng khoán ảnhhưởng hoàn toàn ngược lại, kết quả là làm cho dự trữ của cácNgân hàng thương mại gia tăng, buộc các Ngân hàng thương
Trang 18mại gia tăng tín dụng cho nền kinh tế, như vậy việc mua chứng khoán của Ngân hàng trung ương đồng nghĩa với việc thực hiện nội dung mở rộng tiền tệ.
- Sử dụng công cụ này có nhiều ưu điểm:
+ Trực tiếp ngay đến dự trữ của các Ngân hàng thương mại, vìvậy nó buộc các Ngân hàng thương mại phải tăng hoặc giảm tín dụng đối với nền kinh tế
+ Rất linh hoạt vì Ngân hàng trung ương có thể sử dụng thay đổikhối tiền dù nhỏ hay lớn và dễ dàng đảo ngược được tình huống để điều chỉnh tiền thừa thiếu
+ Ngân hàng trung ương chủ động thực hiện việc mua hay bán
- Nhưng có nhược điểm khi ở một nước mà tiền trong lưu thông nằm ngoài tài khoản ngân hàng tới 60 – 70%
2 Tái cấp vốn:
- Tái cấp vốn là hình thức Ngân hàng trung ương cung ứngtiền tệ cho nền kinh tế qua các nghiệp vụ: chiết khấu, tái chiếtkhấu thương phiếu và các giấy tờ có giá của Ngân hàng thươngmại
- Ngân hàng trung ương tái cấp vốn cho Ngân hàng thương mại với mục đích:
+ Cung ứng tiền cho nền kinh tế góp phần tăng trưởng
+ Tăng dự trữ của các Ngân hàng thương mại để tăng cường nguồn vốn cho vay và đảm bảo thanh khoản của Ngân hàng thươngmại
+ Để Ngân hàng trung ương thực hiện là người cứu cánh cuối cùng cho Ngân hàng thương mại
- Cơ sở để Ngân hàng trung ương tái cấp vốn là :
+ Kỳ phiếu thương mại
+ Tín phiếu kho bạc nhà nước
+ Các loại giấy nợ ngắn hạn khác…
- Các loại tái cấp vốn của Ngân hàng trung ương đối với Ngân hàng thương mại
+ Tín dụng điều chỉnh : Đây là hình thức thông dụng nhất , nóđảm bảo đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các Ngân hàng thươngmại trong những khoảng thời gian ngắn nhất định đó là khi các đơn
vị rút tiền vượt so với dự kiến còn gọi là cho vay “nóng” – hoàn trảvào ngày hôm sau
+ Tín dụng thời vụ : Mục đích đáp ứng nhu cầu sản xuất thời vụ của khách hàng của ngân hàng thương mại
+ Tín dụng mở rộng : Ngân hàng trung ương cấp vốn cho Ngân hàng thương mại trong lúc khó khăn về thanh toán ( mất khả năngchi trả)
- Công cụ này có nhiều ưu điểm đó là :
+ Việc cho vay của Ngân hàng trung ương được đảm bảo bởi các giất tờ có giá và khi quyết định cho vay Ngân hàng trung ươngchỉ lựa chọn các giấy tờ có giá có chất lượng cao hơn
+ Khả năng thu hồi vốn cao
+ Việc cho vay luôn gắn liền với yêu cầu phát triển nền kinh tế
Trang 19- Nhưng Ngân hàng trung ương sẽ khó chủ động trong việc tái cấp vốn vì việc vay hay không là quyền của Ngân hàng thương mại
3 Lãi suất :(Lãi suất tái chiết khấu -Discount Window Rates)
- Ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu để có tác dụng điều chỉnh các loại laĩ suất khác như :
Trang 20 Lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại
Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng thương mại
Lãi suất huy động tiền gửi của Ngân hàng thương mại
- Sử dụng công cụ lãi suất có hai tác dụng
+ Một là tác dụng gián tiếp : Làm tăng hoặc giảm lãi suấtcho vay của các Ngân hàng thương mại và do đó tác động đếncung ứng tiền và tín dụng
+ Hai là tác động trực tiếp : Làm tăng hay giảm dự trữ củaNgân hàng thương mại và do đó tác động đến lượng cho vay làmảnh hưởng đến đầu tư và tiêu dùng đến nền kinh tế
Khi Ngân hàng trung ương tăng lãi suất tái chiết khấu , cácNgân hàng thương mại sẽ không vay nợ của Ngân hàng trung ươngnhiều , vì vay như vậy sẽ không có lãi, điều này làm nguồn vốncủa Ngân hàng thương mại không tăng , nên việc cho vay củaNgân hàng thương mại đối với khách hàng bị chững lại hoặcgiảm xuống Hoặc giả Ngân hàng thương mại vẫn vay của Ngânhàng trung ương và cho vay lại khách hàng với lãi suất cao , điềuđó bất lợi cho khách hàng , khách hàng sử dụng tiền cho vay sẽkhông có lãi nên cũng không vay của Ngân hàng thương mại điềunày đồng nghĩa với việc thắt chặt cung ứng tiền tệ Vì tiền từhệ thống ngân hàng sẽ không ra nền kinh tế được Măït khác khilãi suất cho vay ( đầu ra) tăng lên thì lãi suất huy động tiền gửi(đầu vào) cũng phải được điều chỉnh tăng lên , điều này hấpdẫn khách hàng gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn Như vậytiền từ nền kinh tế sẽ được hút về ngân hàng
Ngược lại khi Ngân hàng trung ương giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ tác động:
+ Khuyến khích các ngân hàng thương mại vay của Ngân hàngtrung ương nhiều hơn , điều này có tác dụng trước hết là tăngcung ứng tiền , tăng dự trữ của các ngân hàng thương mại , dựtrữ tăng buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh tín dụngbằng cách hạ lãi suất cho vay đối với khách hàng, lãi suất chovay hạ kích thích khách hàng sử dụng tiền vay của ngân hàngthương mại nhiều hơn nguồn tiền đó sẽ được đầu tư, gia tăng sảnxuất, kích thích tăng trưởng và tiêu dùng
+ Giảm lãi suất tiền gởi, lãi suất tiền gởi giảm, thì gởi tiềnvào ngân hàng không có lợi, người ta có xu hướng để tiền lại đểđầu tư, tiêu xài nhiều hơn, đẩy cầu hàng hoá dịch vụ gia tăngđiều này sẽ có tác động kích thích cung ứng hàng hoá dịch vụđể đảm bảo nhu cầu của dân cư, đó là động lực thúc đẩy sảnxuất và lưu thông hàng hoá phát triển
Như vậy điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu hạ ,đồng nghĩavới chính sách mở rộng cung ứng tiền tệ kích thích đầu tư và mởrộng sản lượng
- Công cụnày được Ngân hàng trung ương sử dụng một cáchphổ biến và rất linh hoạt nhằm điều khối lượng tiền cung ứng đểhạn chế hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế
4 Dự trữ bắt buộc (Reserve requirements)
Dự trữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắtbuộc do Ngân hàng trung ương quy định
Trang 21- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tính trên tổngsố tiền gửi huy động được mà các ngân hàng thương mại khôngđược sử dụng để kinh doanh.
- Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ươngnhằm mục đích:
+ Đảm bảo khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại+ Kiểm soát khối lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.+ Buộc các ngân hàng thương mại phải quan tâm đến hiệuquả tín dụng khi cho vay khách hàng
Trang 22- Có sởå để định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tùy vào mỗi quốc gia, tùy tình hình cụ thể từng thời kỳ nhưng nhìn chung các nước căn cứ vào:
Thời gian
Khối lượng tiền gửi
Loại ngân hàng
Để qui định một tỷ lệ nào đó cho phù hợp
- Việc sử dụng công cụ này khác với các công cụ trên khiđiều hành chính sách tiền tệ Ví dụ khác với lãi suất, khi muốnmở rộng hay hạn chế cung ứng tiền tệ thì ngân hàng thương mạisẽ giảm hoặc tăng lãi suất, nhưng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thìNgân hàng trung ương lại sử dụng hầu như là cố định một tỷ lệnào đó để hạn chế đầu ra tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Tuy là một công cụ tạo ra thế chủ động cho Ngân hàng trungương khi điều hành chính sách tiền tệ nhưng nó là một công cụkhông linh hoạt để tăng hoặc giảm khối tiền cung ứng
5 Tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate)
Có tài liệu cho rằng đây là một nội dung của công cụ “cungứng cơ số tiền hay tiền mặt pháp định” bằng việc Ngân hàngtrung ương mua bán ngoại tệ trên thị trường hối đoái sẽ làm tỷgiá hối đoái thay đổi và chính sách cung ứng tiền tệ mở rộng haythắt chặt sẽ cùng được thực hiện ngay sau đó
Nhưng thực ra Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ này nhằmcan thiệp vào thị trường hối đoái để bình ổn tỷ giá hối đoáinhằm giữ vững sức mua đối ngoại của tiền tệ quốc gia Khi tỷgiá hối đoái biến động thất thường (lên cao quá hoặc xuống thấpquá) đều không có lợi Kết quả của việc này làm cơ số tiền thayđổi
Ví
du ï: Ở Việt Nam khi tỷ giá hối đoái USD/VND (giữa dollar Mỹvà đồng Việt Nam) tăng, nghĩa là USD lên giá, VND xuống giá trị.Nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước Việt Nam là phải can thiệp đểhạ tỷ giá xuống hoặc về mức cũ hoặc là hạ một mức nào đó.Muốn vậy ngân hàng nhà nước Việt Nam phải sử dụng USD dựtrữ để bán ra nhằm tăng trưởng cung ứng về USD (đẩy cung USD>cầu USD làm USD giảm giá trị) Khi ngân hàng nhà nước ViệtNam bán USD nghĩa là mua vào VND kết quả là làm giảm VND lưuthông, đồng nghĩa với việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt
CHƯƠNG II NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ THỰC TẾ VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Lịch sử hình thành Ngân hàng trung ương trải qua hai giai đoạn:
- Thứ nhất là giai đoạn ngân hàng phát hành (Issuing Bank):trong rất nhiều ngân hàng thương mại, sẽ có một hoặc một vài
Trang 23ngân hàng cỡ lớn đước nhà nước cho phép phát hành tiền Đếnđây mỗi quốc gia đã có hệ thống ngân hàng hai cấp Gồm:
Ngân hàng phát hành
Các ngân hàng trung gian
- Thứ hai là giai đoạn Ngân hàng trung ương (Central Bank)
Trang 24Vì ngân hàng phát hành thuộc sở hữu của các cổ đông(là tư nhân hoặc pháp nhân), không thuộc sở hữu nhà nước,trong khi đó các nhà nước muốn nắm lấy ngân hàng phát hành,muốn biến ngân hàng phát hành thành ngân hàng của nhànước, để điều khiển hoạt động kinh tế có hiệu quả, để điều hoàthị trường tiền tệ, để kiểm soát hệ thống các ngân hàng trunggian
…
Bởi vậy hầu hết các nước tiến hành quốc hữu hoá ngân hàng phát hành ,để biến ngân hàng phát hành thuộc sở hữu tư nhân thành Ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà nước
Khi đó mỗi nước mới có một hệ thống ngân hàng hiện đại và không ngừng được hoàn
thiện
II CÁC CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Hoạt động của Ngân hàng trung ương khác hẳn với các ngânhàng thương mại, không với mục đích lợi nhuận mà là cung ứngvà điều hoà khối lượng tiền tệ, kiểm soát hệ thống ngân hàng,bảo vệ giá trị tiền tệ quốc gia, nhằm bảo đảm lưu thông tiền tệổn định, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Để đạt được mục đích này Ngân hàng trung ương thực hiện cácchức năng như sau
1.Chức năng độc quyền phát hành tiền
Trước thập niên 1930 phần lớn các nước đều thực hiệnchế độ lưu thông tiền giấy khả hoán –tiền giấy được tự dochuyển đổi ra vàng Do vậy việc phát hành tiền giấy trong giaiđoạn này bị ràng buộc chặt chẽ vào số vàng đang có ở NH Lúc đầu số lượng tiền giấy lưu hành được bảo đảm 100% bằngvàng Dần dần việc sử dụng tiền giấy trở nên quen thuộc nênkhông nhất thiết mọi người đem tiền giấy đến đổi một lượt lấyvàng Từ đó một sáng kiến mới được nảy sinh của Palmstruck làviệc phát hành tiền giấy có thể thực hiện ngay khi không cóvàng nhập vào ngân hàng Chẳng hạn trong trường hợp phát hànhtiền giấy để cho vay hay để chiết khấu thương phiếu hoặc mmuatrái phiếu trên thị trường tiền tệ Hậu quả của vấn đề này làtrị giá tiền giấy phát hành lớn hơn trị giá vàng dự trữ ở NH Từđây một yêu cầu mơí được đặt ra là có cần thiết quy định sốlượng tiền giấy vượt (định mức ) hay không hoặc cứ để NH tự loliệu vấn đề này ? Điều này đã trở thành đề tài tranh luận củahai trường phái :
- Trường phái theo nguyên tắc thông hóa (currency principle)
do nhà kinh tế học Ricardor đề xướng Quan điểm của trường pháinày là việc phát hành tiền giấy ràng buộc chặt chẽ bởi quýkim Việc tăng hay giảm số lượng tiền giấy tùy thuộc vào sốlượng nhập hay xuất của qúy kim đối với ngân hàng Việc pháthành tiền giấy chỉ được thực hiện khi nào có một lượng qúy kimđược nhập Tuy nhiên có thể chấp nhận một lượng nhất định vượtmức của khối tiền phát hành đối với ngạch số qúy kim dự trữ Thặng số đó phải thật thấp và cố định
- Trường phái theo nguyên tắc tín dụng (banking principle) đạibiểu cho trường phái này là hai ông Tooke và Fullarton cho rằng ,ngân hàng có quyền tự do phát hành giấy bạc , nhà nước không
Trang 25cần phải quy định thể lệ phát hành Bởi lẽ tiền giấy phát hànhchỉ là một sự ứng trước, nó không lưu hành vĩnh viễn mà sẽ trởvề ngân hàng khi người vay khoản ứng trước đấy trả nợ Chínhngân hàng phải có nghiã vụ nhận lại tiền giấy và chi trả vàng
Từ thập niên 1930 trở đi các nưóc đã lần lượt cắt đứtmối liên hệ giữa tiền giấy và vàng theo một tỷ giá cố định
Ngân hàng trung ương đảm nhiệm vai trò phát hành tiềntệ trên một cơ sở rộng rãi hơn , đó là việc phát hành tiền tệdựa vào nhu cầu thực tế của nền kinh tế Đây chính là cơ sở củaviệc phát hành tiền tệ ngày nay
Trang 26Một trong những nhiệm vụ của Ngân hàng trung ương làcung ứng một khối lượmg tiền mặt cho nhu cầu của nền kinh tếnhằm tạo ra một khối lượng hàng hóa và dịch vụ Nhu cầu nàynhiều khi rất lớn Để đáp ứng nhu cầu này , Ngân hàng trungương lúc nào cũng phải in và đúc sẵn một số lượng tiền tệ nhấtđịnh và đưa tiền mặt vào lưu thông khi cần thiết
1.1 Ngân hàng trung ương phát hành tiền qua các kênh:
1.1.1 Kênh ngân sách nhà nước hay còn gọi là:phát
hành tiền qua ngõ chính phủ Chính phủ vay trực tiếp của
Ngân hàng trung ương có ba dạng:
- Vay ứng trước tạm thời: trường hợp này thường thời hạn ba hoặc sáu tháng, xảy ra do số thu ngân sách vào chậm không đápứng kịp thời nhu cầu chi tiêu trong tài khoá
- Vay ứng trước có kì hạn, trường hợp này xảy ra khi sự thâm hụt đã được chính phủ dự kiến trước vì những mục tiêu nhất định
- Vay ứng trước vĩnh viễn, xảy ra khi sự thâm hụt không lường trước được diễn ra trong tài khoá ngân sách Nếu số ứng trước thất thường trở thành món nợ không hoàn trả được
1.1.2 Kênh Ngân hàng thương mại hay còn gọi là phát hành tiền qua ngõ ngân hàng trung gian
Như vậy, nhờ có Ngân hàng trung ương khi thiếu vốn ngân hàng thương mại có thể đến vay ở Ngân hàng trung ương, ở đây được xem là chỗ dựa vững chắc của ngân hàng trung gian
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian chủ yếu dưới hai hình thức sau:
- Một là chiết khấu hay tái chiết khấu
- Hai là thế chấp hay ứng trước
Trong cả hai trường hợp trên Ngân hàng trung ương đều thực hiệnviệc phát hành tiền tệ
Kết quả là làm cho số lượng tiền tệ trong lưu thông gia tăng
1.1.3 Phát hành tiền qua ngõ “thị trường mở” (Open market )Sở dĩ gọi “ mở” là vì bất kỳ ai đều có thể tham gia muabán trên thị trường này cả , không giới hạn vào một tầng lớpnào Ở thị trường mở Ngân hàng trung ương mua bán các tráiphiếu ngắn hạn , tức là các món nợ ngắn hạn
Lúc đầu việc phát hành tiền qua ngõ tái chiết khấu có một tầmquan trọng đặc biệt Song dần dần theo thời gian người ta thấy rõdần mặt hạn chế của nó , đó là Ngân hàng trung ương muốnphát hành tiền tệ thêm phải đợi cho NH trung gian có nhu cầu vaylại ở mình , bằng cách đem thương phiếu đến xin tái chiết khấu Mặt khác về sau này NH trung gian không muốn đến vay ở Ngânhàng trung ương do những thủ tục của nó , hai là NH trung gian khôngcảm thấy có nhu cầu cần đi vay Với thị trường mở NH trung giancó thể tìm cho mình nguồn tài trợ cần thiết vì những thủ tục nhanhgọn Chính vì thế hoạt động của thị trường mở ngày một quan trọnghơn , làm cho việc phát hành tiền ở thị trường mở gia tăng nhanhchóng Thông qua việc mua hoặc bán các chứng khoán ngắn hạntrên thị trường mở, Ngân hàng trung ương điều chỉnh lưu lượng tiềnmặt trong lưu thông theo hướng tăng hoặc giảm Với nghiệp vụbán (Sale operations) Ngân hàng trung ương thu hẹp lượng cung tiềnmặt trong lưu thông bằng nghiệp vụ mua (Purchase operations) , tức
“bơm” tiền vào lưu thông Lúc này lượng tiền lưu hành trên thịtrường tăng Phát hành tiền bằng các nghiệp vụ mua các chứng
Trang 27khoán có giá ngắn hạn trên thị trường mở cũng được xem là mộtnghiệp vụ phát hành có đảm bảo, bởi lẽ tiền tăng thêm trong lưuthông đã được cân đối bởi một lượng chứng khoán Hiện nay ởhầu hết các nước đã và đang phát triển trên thế giới đều thựchiện phương thức phát hành tiền này.
1.1.4 Phát hành tiền qua ngõ thị trường ngoại hối
Trang 28Mỗi quốc gia trên thế giới đều có khả năng tạo lập cho mìnhmột dự trữ vàng và ngoại tệ nhất định Dự trữ chính thức nằmtrong kho bạc của chính phủ dưới dạng dự trữ quốc gia (NationalReserves) Dự trữ này khômg phải không phải đáp ứng nhu cầuchuyển đổi của công chúng , cũng không phải để bảo đảm giátrị tiền tệ phát hành , mà chúng nhằm thực hiện ba công dụngchính đó là : Nó là một công cụ để chính phủ (cụ thể là Ngânhàng trung ương) can thiệp vào thị trường vàng và ngoại tệ … Nólà một trong những công cụ để chôùng lạm phát Nó là “hànthử biểu” để đo lường “sức khoẻ” cho nền kinh tế Nếu khốilượng dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước tăng từ năm nàysang năm khác, biểu hiện nền kinh tế ở nước đó phát triểnvững mạnh Ngược lại khi dự trữ vàng và ngoại tệ giảm thiểu từnăm này sang năm khác
, nó báo hiệu những khó khăn trong nền kinh tế Ngoài ra khốilượng dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước còn là một tiêuchuẩn để đánh giá khả năng hoàn trái cuả một nước đối vớinước ngoài Môt nưóc không tích luỹ được khối dự trữ vàng vàngoại tệ,hoặc khối dự trữ đó giảm xuống số âm sẽ gặp rấtnhiều khókhăn về mặt kinh tế Trên trường quốc tế bị cô lập, vìkhông nước nào dám quan hệ khắng khít với nước này , cácnguồn trợ cấp quốc tế quan trọng dần dần bị mất đi nếu khôngcó chương trình tái cấu trúc nền kinh tế hữu hiệu Mặt khác vềmặt quốc nội hoạt động kinh tế bất ổn triền miên Do vậy mặcdù dự trữ vàng và ngoại tệ cũa một nước là cơ sở để giữ vữnggiá trị quốc nội và đảm bảo giá trị đối ngoại của tiền tệquốcgia
Bên cạnh , dự trữ chính thức là dư trữ không chính thức nằmrải rác ở các Ngân hàng trung gian , các tổ chức kinh tế và trongdân chúng vàng và ngoại tệ đến tay các chủ thể này bằngnhiều con đường khác nhau Dự trữ không chínt thức hình thànhmột thị trường mua bán diễn biến rất sôi động , giá cả trên thịtrường này hết sức nhạy bén và có ảnh hưởng sâu sắc đếngiá cả thị trường hàng hóa cũng như hoạt động chung của toàn bộnền kinh tế Chính vì thế Ngân hàng trung ương với tư cách là cơquan quản lí kinh tế vĩ mô của nhà nước phải can thiệp vào thịtrường này khi cần thiết Cách làm phổ biến nhhất là thực hiệncác nghiệp vụ mua hoặc bán trên thị trường này Bằng việc tung
ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trưòng để mua một sốngoại tệ nào đó và vàng,Ngân hàng trung ương một mặt làmtăng dự trữ quốc gia mặt khác nó làm tăng lưu lượng tiền mặttrong nền kinh tế , và đây chính là phương pháp phát hành tiền quangõ thị trường vàng và ngoại tệ
2 Chức năng Ngân hàng của các ngân hàng
Chức năng ngân hàng của các ngân hàng của ngân hàngtrung ương thể hiện qua các nội dung sau:
Quản lý tiền gởi của các ngân hàng thương mại
Ngân hàng trung ương bắt buộc các ngân hàng trung gianphải kí gởi tại Ngân hàng trung ương một phần tổng số tiền gởimà họ nhận được từ mọi giơí theo một tỷ lệ nhất định Phần bắtbuộc ký gởi đó là dự trữ bắt buộc (Required reserve) Ngân hàng
Trang 29trung ương sẽ ấn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Required reserve ratio)có lúc tăng có lúc giảm tùy theo tình hình thực tế
Ngoài ra Ngân hàng trung ương còn có quyền xét đơn xinthành lập các ngân hàng , có quyền thu hồi giấy phép hoạtđộng cuả các ngân hàng ,chế tài các vụ vi phạm luật lệ ngânhàng
- Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kiểm soát , thanh tracác ngân hàng trung gian nhằm giúp cho hệ thống ngân hànghoạt động được an toàn , từ đó bảo vệ quyền lợi của người gởitiền và quyền lợi chung của xã hội và nền kinh tế
- Ngân hàng trung ương quản lý nhà nước về ngoại hối đối với các ngân hàng
Trang 30- Ngân hàng trung ương ấn định lãi suất , lệ phí , hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng trung gian , quy định những thể lệ điềuhành các nghiệp vụ …
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trunggian dưới nhiều hình thức như cho vay , mua bán , chiết khấu táichiết khấu đối với các giấy tờ có giá của ngân hàng trung gian
Giúp các ngân hàng trung gian trong việc thanh toán bù trừnhững món nợ với nhau mà không phải di chuyển tiền bạc bằngcách thiết lập phòng giao hoán (clearing house) tại trụ sở củaNgân hàng trung ương
Trong quan hệ với Ngân hàng trung ương, ngoài những thủ tụcmang tính chất pháp lý , các ngân hàng trung gian phải mở tàikhoản tại Ngân hàng trung ương và phải có một khoản tiền gởitại Ngân hàng trung ương để đảm bảo an toàn và thuận lợi cho hoạtđộng của mình
- Cung cấp những tiện nghi ngân hàng cho các ngân hàng trung gian
3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước: Phầnlớn các nước ngân hàng trung ương là một định chế tài chínhcông cộng , Ngân hàng trung ương được xác định ngay từ thời khaisinh là ngân hàng của Chính phủ Các giao dịch tiền tệ của Chínhphủ trong và ngoài nước thường phải thông qua Ngân hàng trungương Điều này được thể hiện trên các mặt sau đây :
- Mở tài khoản và đại lý tài chính cho Chính phủ
- Thay mặt chính phủ quản lí nhà nước các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
- Cố vấn về các chính sách tài chính cho Chính phủ
- Quản lý dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia ( National reserves)bao gồm các loại tài sản chiến lược mà bất kỳ quốc gia nàocũng phải dự bị để lại để chi dùng trong những trường hợp khẩncấp Trong một thế giới đầy biến động và không có thông sốnào đứng yên , không có một quốc gia nào dám nói chắc rằngngày mai sẽ không xảy ra bất cứ điều gì, chẳng hạn như : thiêntai , động đất , lụt lội , hạn hán , sụp đổ tài chính , chiến tranh , bịcấm vận Khủng hoảng chính trị , nổi loạn , xung đột xảy ra ở cácvùng là nguồn cung ứng nguyên nhiên liệu, hoặc là thị trườngtiêu thụ chủ chốt cho nền sản xuất trong nuớc …Điều này dẫnđến kết qủa là ngoại thương bị tắt nghẽn và các cán cân vĩmô bắt đầu thay đổi Dự trữ quốc gia không phải là loại tài sảntĩnh Khoản dự trữ này được ngân hàng Trung ương sử dụng đểphục vụ cho sự điều hành chính sách tiền tệ
III NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN T Ệ
1.Ngân hàng nhà nước Việt Nam qúa trình hình thành và phát triển
-Ngày 6.5.1951 Hồ chủ tịch ký sắc lệnh số 15: 15/SL chophép thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Theo tinh thần củahiến pháp 1959 đến 1960 Đổi tên thành Ngân hàng nhà nướcViệt Nam
- Từ 1951 –1988 :Hệ thống NHVN là hệ thống NH một cấp – cấpnhà nước xuốt từ trung ương đến địa phương ,cơ sở Hoạt động với
Trang 31phương châm phục vụ là chính , kinh doanh chỉ là thứ yếu Trongthời kỳ nàycó một số sự kiện:
1957 : Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng kiếnthiết Việt Nam trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam , đó làtiền thân của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ngàynay, chức năng chính là cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 321960: Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập Ngân hàngxuất nhập khẩu Việt Nam , trực thuộc Ngân hàng nhà nước ( đólà tiền thân của Ngân hàng ngoại thương hiện nay )
.c hức năng chính là cho vay xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ
1985 : Các nước xã hội chủ nghiã anh em đều xác định theo
cơ chế thị trường có điều tiết và hệ thống ngân hàng của họchuyển đổi từ một cấp sang hai cấp , hòa vào khí thế chung củanền kinh tế thế giới Nền kinh tế Việt Nam cũng có bước chuyểnbiến đáng kể để từ bỏ nền kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chếthị trường Ngày 26/3/1988 Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Hội ĐồngChính Phủ) ban hành nghị định số 53 (53/NĐ – HĐBT) chính thứcchuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hệ thốngngân hàng hai cấp đó là :
+ Ngân hàng nhà nước Việt Nam , có trụ sở chính tại 49 LýThái Tổ , thủ đô Hà Nội , có một văn phòng trong nước là 17Bến Chương Dương và các văn phòng đại diện ở nước ngoài Có
61 chi nhánh Ngân hàng nhà nước đặt tại các tỉnh , thành phốtrực thuộc trung ương Có chức năng chính là quản lý nhà nướcvề tiền tệ và các hoạt động Ngân hàng đối với các tổ chức tíndụng ở Việt Nam
+ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác cóchức năng chính là kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngânhàng , được phép tự do cạnh tranh nhau để thu lợi nhuận và chịu sựquản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Từ 1988 trở đi thành lập một loạt các Ngân hàng thươngmạicổ phần, và các tổ chức tài chính tín dụng khác
- Tháng 5/1990 ra đời hai pháp lệnh ngân hàng Đó là :
Pháp lệnh Ngân hàng nhànước Việt Nam
Pháp lệnh Ngân hàng thương mại , công ty tài chính ,hợp tác xã tín dụng
Đến 1/10/1990 hai pháp lệnh này có hiệu lực thi hành Đãphân cấp quản lí và kinh doanh rõ rệt của hệ thống NH hai cấp ởViệt Nam
- Đến 12/12/97 chủ tịch nước Trần Đức Lương ký lệnh công bố hai luật ngân hàng:
+ Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam
+ Luật các tổ chức tín dụng
và hai luật này có hiệu lực thì hành từ 1/10/1998 thay cho hai pháplệnh ngân hàng Nhằm củng cố và hoàn thiện hơn nữa hoạtđộng hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam Củng cố vai tròquản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng củangân hàng nhà nước Việt Nam Đưa hệ thống ngân hàng Việt Namhoà nhập hệ thống ngân hàng thế giới đồng thời củng cố vaitrò của ngân hàng nhà nước với tư cách Ngân hàng trung ươngcủa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.Vai trò của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ.
2.1 Vai trò của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng chính sách tiền te ä
Điều 5 luật ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: ngânhàng nhà nước Việt Nam có nhiệm cụ và quyền hạn chủ trì xây
Trang 33dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia ,kế hoạch cung ứng lượngtiền bổ sung hàng năm cho lưu thông để chính phủ xem xét trìnhquốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này.
Vì việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia cótính chất quan trọng quyết định các hoạt động khác của ngân hàngnhà nước Việt Nam nên chính phủ cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam cho phép thành lập hội đồng tư vấn chính sách tiền tệquốc gia để tư vấn cho
Trang 34chính phủ trong việc quyết định những vấn đề thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của chính phủ về chính sách tiền tệ.
Hội đồng tư vấn chính sách tiền gồm :Chủ tịch là một phóthủ tướng chính phủ, ủy viên thường trực là thống đốc Ngânhàng nhà nước , các ủy viên khác là đại diện các bộ : Tài chính,kế hoạch và đầu tư , các bộ, nghành hữu quan khác và cácchuyên gia khác về lĩnh vực ngân hàn g
Tóm lại : Ngân hàng nhà nước Việt Nam có trọng trách lớn
trong việc xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia
2.2 Vai trò của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc điều hành chính sách tiền te ä quốc gia được thể hiện trong quy định tại
điều 15 – luật số 01/1997/QH10 như sau :
Trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàngnhà nước Việt Nam có trách nhiệm :
+ Điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệquốc gia ; Thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông , rút tiền từ lưuthông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cungứng đã được chính phủ phê duyệt
+ Báo cáo chính phủ , quốc hội kết quả việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia , Ngân hàng nhànước Việt Nam sử dụng các công cụ : Tái cấp vốn , lãi suất , dựtrữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái , nghiệp vụ thị trường mở và cáccông cụ khác do thống đốc quyết định
Như vậy chính sách tiền tệ được thực hiện có hiệu qủa haykhông là phụ thuộc vào sự điều hành khéo léo của Ngân hàngnhà nước Việt Nam Đây là một việc không đơn giản và đòi hỏicó sự phối kết hợp giữa các bộ ngành trong nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam, đồng thời có sự hỗ trợ của chính phủ thì chínhsách tiền tệ mới được thực hiện có kết quả như mong muốn
IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
QUA CÁC NĂM:
Từ 1/10/1998 đến nay (tính từ thời điểm hai luật ngân hàng cóhiệu lực thi hành ) tuy chúng ta gặt hái được rất nhiều thành côngkể từ khi thực hiện cơ chế thị trường có điều tiết , thay thế chonền kinh tế bao cấp đến nay Nhưng năm 1998 nền kinh tế nước tatiếp tục gặp nhiều khó khăn , đặc biệt là thiệt hại do cơn bão số
5 của năm trườc còn đang đòi hỏi phải tập trung khắc phục thìthiên tai xảy ra liên tiếp như hạn hán kéo dài , bão và lũõ lụt ởcác tỉnh miền Trung đã gây thiệt hại lớn về người và của , ảnhhưởng ngiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và nền kinh tếnói chung
Trong khi đó nhiều yếu tố của nền kinh tế vẫn chưa được cảithiện rõ rệt , cơ chế thị trường đang trong quá trình thiết lập cònbộc lộ nhiều bất cập ;Quản lý nhà nước vẫn còn kém hiệu lực, hoạt động của hệ thống doanh nghiệp nhà nước chưa đạt hiệuqủa cao , bao cấp có xu hướng trở lại Do sản xuất kém hiệu quả, hàng hoá tiêu thụ chậm , sản phẩm nhiều nơi ứ đọng và sứcmua của xã hội giảp thấp làm cho vốn chậâm luân chuyển , sứchấp thụ vốn chung của nền kinh tế trở nên hạn chế
Trang 35Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khởi đầu từ giữa năm
1997 đã cuốn nền kinh tế nhiều nước trong khu vực vào vòng suythoái , lan rộng sang các khu vực khác và tác động bất lợi đếnnền kinh tế toàn cầu sang năm 1998 nền kinh tế Việi Nam đã bịtác động trực tiếp ngày càng nặng nề trong nhiều lĩnh vực : xuấtkhẩu hầu như không tăng , đầu tư nước ngoài giảm sút nghiêmtrọng , các nguồn thu từ dịch vụ và du lịch cũng giảm mạnh , ảnhhưởng đến cán cân
Trang 36thanh toán quốc tế Hệ qủa tổng hợp là đầu tư toàn xã hội giảmsút, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp trên một số lĩnh vực tăngtrưởng kinh tế chậm lại , các cân đối vĩ mô căng thẳng thêm , sốngười thất nghiệp tăng
Bên cạnh những khó khăn trên , quá trình hình thành những chínhsách kinh tế -xã hộicũng có những thuận lợi cơ bản Trước hếtđó là sự ổn định về chính trị bắt nguồn từ sức mạnh của chếđộ do Đảng lãnh đạo ; thứ hai là thế và lực của nền kinh tế nước
ta đã mạnh lên nhiều qua hơn mười năm đổi mới và phát triển ;thứ ba là đường lối của đảng thể hiệïn ở nghị quyết đại hội VIIIvà các nghị quyết trung ưong đăïc biệt là nghị quyetá TW4 về kinhtế được thực tiễn khẳng định là đúng đẵn phù hợp với yêu cầuđổi mới toàn diện nền kinh tế nhằm mục tiêu thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Kết qủa là 1998 , mặc dù việc duy trì các cân đối vĩ mô cónhiều khó khăn hơn trước , nhưng với nỗ lực của toàn dân , toàndân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung Ương Đảng và Bộchính trị , sự chỉ đạo điều hành kiên quyết và kịp thời của chínhphủ và sự cố gắng của các ngành các cấp , nền kinh tế vẫnđứng vững trước những khó khăn thách thức Tốc độ tăngtrưởng GDP vẫn duy trì được ở mức 5,8%, thấp hơn so với mục tiêuđề ra ban đầu nhung có thể coi là một thành công trong điều kiệnngoại cảnh và trong nước rất nhiều khó khăn Các lĩnh vực kinhtế đều có sự gia tăng thích đáng : giá trị sản xuất nông nghiệptăng khoảng 3.6% , giá trị sản xuất nông nghiệp tăngkhoảng12,1% , dịch vụ tăng 5% (riêng suất nhập khẩu đạt thấp :xuất klhẩu tăng 1% về giá trị mặc dủ nhiều mặt hàng tăngmạnh về sản lượng , nhập khẩu giảm 3%) tỷ lệ nhập siêu giảmtừ 9.9%/ GDP năm 1997 giảm xuống còn 7,2% năm 1998 ;bội chingân sách giảm từ 4.2% GDPnăm 1997 xuống còn 3,25% GDP Lạmphát được kìm chế ở mức 9,2% là một thành công quan trọng gópphần ổn định nền kinh tế và đời sống xã hội Có thể nói trongnăm 1998 về cơ bản chúng ta đã hạn chế được ảnh hưởng tiêucực của khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới , vẫn duy trìđưọc sụ ổn định kinh tế vĩ mô với tỷ lệ tăng trưởng GDP vàmức lạm phát có thể chấp nhận được , do đó vẫn giữ được môitrường tưong đối thuận lợi cho quá trình phát triển trong các nămsau Trong thành tựu trên có sự đóng góp của hệ thống ngânhàng thông qua các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ củaNgân hàng trung ương và nỗ lực trong hoạt động của các Ngânhàng thương mại
Trang 37gia tăng 18% , tốc độï lạm phát bình quân các tháng cuối 1998chậm lại làm cho tỷ lệ lạm phát cả năm giữ được 9,2% năm , đạtmục tiêu của Quốc Hội đề ra
Đến 1999 :trong hai tháng đầu năm , lạm phát gia tăng Ngân hàng nhà nước không những không cung ứng tiền tệ thêmmà còn phát hành tín phiếu Ngân hàng nhà nước để thu hút bớttiền ngoài lưu thông về Tháng 3 , tháng 4 , tháng 5 lạm phát có xuhướng giảm tốc độ phát triển tiền chậm
Ngân hàng nhà nước đã thực hiện cung cấp tiền tệ cho cácmục đích như mua ngoại tệ , cấp vốn xây dựng cơ bản…Nên tínhđến 31/5/99 số lượng cung cấp tiền đã thực hiện bằng
Trang 3847,7% kế hoặch cả năm , ngoài ra còn cung ứng thêm 3.200 tỉđồng thuộc kế hoặch cung ứng tiền của 1998 (cho khắc phục bãolụt , xây dựng cơ bản, bổ xung vốn điều lệ cho các Ngân hàngthương mại Quốc doanh) Công tác điều hành cung ứng tiền trongnăm 1999 đã đảm bảo tính linh hoạt , chủ động phù hợp với diễnbiến tiền tệ và những mục tiêu kế hoạch đã được Chính phủphê duyệt , tập chung chủ yếu cho việc tăng dự trữ ngoại tệ ,tăng khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại và cácmục tiêu chỉ định của Chính phủ Mức tăng cung ứng tiền 1999 làkhá lớn và gấp đôi năm 1998.
Xem xét qua biểu 01
TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG TIỀN TỆ
Nă
m
Tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (%)
Tỷ lệ lạm phát (%)
(Nghiên cứu Biểu 05 và
06)
Nhưng nếu xem xét trong cả qúa trình suốt từ khi thực hiện haipháp lệnh ngân hàng đến nay thì :việc đưa tiền ra lưu thông củaNgân hàng nhà nước Việt Nam vẫn còn một số vấn đề tồnđọng sau: tỉ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán vẫn ởmức cao , bình quân từ 1991 đến nay chiếm 46,8% (trong khi đó cácnước khác < 10%) như vậy sẽ gây trở ngại cho việc giảm bội chitiền mặt của ngân hàng Làm ảnh hưởng lớn đến cho vay bằngchuyển khoản và các biện pháp kiểm soát và kiềm chế lạmphát ít có hiệu quả cao
2.Tín dụng cho nền kinh tế qua các tổ chức tín dụng :
Trong các năm qua chính sách tín dụng cho nền kinh tế theo mộtphương châm là :đẩy mạnh huy động vốn và cho vay , góp phầntăng trưởng kinh tế Đặc biệt là huy động vốn trong nước phát
Trang 39huy nội lực đã phát triển kinh tế nhằm bù đắp thiếu hụt vềvốn đầu tư xã hội do lựơng vốn bên ngoài giảm sút
2.1 Huy động vốn
:
Trang 401998 ngoài việc chỉ đạo các ngân hàng thương mại đẩymạnh huy động vốn để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng thươngmại hoạt động bình thường , tăng cường đầu tư trực tiếp cho nềnkinh tế , ngân hàng nhà nước đã xây dựng đề án trình chính phủvà chỉ đạo hệ thống ngân hàng huy động vốn đại lý cho ngânsách nhằm bổ sung các dự án đầu tư theo kế hoạch nhà nướcnăm 1998
Sang năm 1999 bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế xãhội của đất nước Ngay từ đầu 1999 ngân hàng nhà nước đãchỉ đạo các ngân hàng thương mại tích cực mở rộng các hình thứchuy động vốn thích hợp để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trongdân chúng , đặc biệt là vốn trung và dài hạn , để đáp ứng nhucầu sản xuấtvà kinh doanh của các doanh nghiệp và thành phầnkinh tế Kết qủa số dư tiền gửi của khách hàng tại hệ thốngngân hàng tăng trưởng khá so với đầu năm Ưùớc đến 31/12/1999,số dư tiền gửi huy động đạt khoảng 146.200 tỷ đồng , tăng 27,39%
so với đầu năm , trong đó : tiền gửi VND tăng 23,44% , tiền gửitiết kiệm VND tăng 34,03%; tiền gửi ngoại tệ tăng 36%, tiền gửitiết kiệm ngoại tệ tăng 35,92% Mặc dù vừa qua ngân hàng nhànước có chỉ đạo các ngân hàng thương mại quốc doanh tạm ngừnghuy động tiết kiệm kỳ phiếu có kỳ hạn 12 tháng trở lên và hìnhthức huy động trái phiếu trong thời gian 1 tháng khi chính phủ bắtđầu phát hành công trái để góp phần vào sự thành công củađợt phát hành công trái này, song với tốc độ tăng như vậy cókhả năng đạt mục tiêu đề ra cho cả năm và đáp ứng được nhucầu tín dụng của nền kinh tế Riêng ngân hàng đầu tư và pháttriển Việt Nam đã huy động gần 2000 tỷ đồng trái phiếu bằngđồng Việt Nam và ngoại tệ thời hạn từ hai đến năm năm, gópphần đáp ứng vốn thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển của chínhphủ
Nghiên cứu tình hình huy động vốn qua các năm ở biểu số 03 sau đây:
KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VỐN Đơn vị :Tỷ đồng
1999 143.217(11 6 tháng đầu ước tính tăng 9%
Qua số liệu biểu trên thấy rằng: tuy những năm gần đây,ngân hàng nhà nước đã có nhiều biện pháp chỉ đạo các tổchức tín dụng nhằm tăng cường huy động vốn và các ngân hàngthương mại đã có nhiều biện pháp linh hoạt, chú trọng đẩy mạnh