Với những khả năng tiềm tàng mà thiênnhiên ban tặng, cộng với sự định hướng đúng đắn củanhà nước, ngành thủy sản đã có sự phát triển khánhanh và đóng góp một phần tích cực vào tăng kim n
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH -HĐH) là quátrình tất yếu mà các nước đang phát triển phải tiếnhành để có thể trở thành quốc gia phát triển Nhưng vớimỗi nước, con đường, qui mô và thời gian thực hiện CNH-HĐH là khác nhau do những đặc thù của dân tộc vàbối cảnh thế giới ở từng giai đoạn Nước Việt Nam chọncon đường CNH –HĐH hướng vào xuất khẩu, lấy việc khaithác hiệu quả các lơi thế tiềm tàng của quốc gia, kếthợp với tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế, nắm bắtkịp thời các cơ hội để tạo tích lũy cho phát triển
Một trong những ngành kinh tế đang dần được khẳngđịnh là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam làThủy sản Với những khả năng tiềm tàng mà thiênnhiên ban tặng, cộng với sự định hướng đúng đắn củanhà nước, ngành thủy sản đã có sự phát triển khánhanh và đóng góp một phần tích cực vào tăng kim ngạchxuất khẩu của quốc gia Tuy nhiên, sự phát triển đó chưatương xứng với khả năng thật sự có thể khai thác được.Các lợi thế về phát triển xuất khẩu thủy sản chưa đượcđánh giá đầy đủ, chưa được tổng hợp lại nhằm tìm ra cácgiải pháp khai thác chúng hiệu quả nhất
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Để xuất khẩu thủy sản Việt Nam thật sự trở thànhmột ngành mũi nhọn, vấn đề cấp thiết nhất là phảiđánh giá được toàn diện các lợi thế cạnh tranh cũng nhưnhững thách thức mà ngành đối mặt, để từ đó tìm cácgiải pháp tích cực khai thác lợi thế; khắc phục và hạn chếcác trở ngại một cách hữu hiệu và đồng bộ
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển thủysản nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng Tuynhiên, các đề tài mới chỉ đi sâu vào giải quyết nhữnglĩnh vực rất cụ thể trong sản xuất như phát triển khaithác đánh bắt hải sản, phát triển nuôi trồng thủy sản,nâng cao chất lượng chế biến thủy sản… Riêng vấn đềcác lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản và cácgiải pháp khai thác lợi thế chưa được đề cập tới Chính vìthế, người viết mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu về cáclợi thế cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản; cố gắngphác họa một cái nhìn tổng thể những mặt tiềm năngcũng như những thách thức đối với lĩnh vực Từ kết quảphân tích các mặt mạnh và yếu, tìm ra những điểm thenchốt nhất cần tập trung tác động Cuối cùng, đưa ramột hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm khai thác hiệu
Trang 3quả nhất các điều kiện để đưa xuất khẩu thủy sảnthành một mũi nhọn của kinh tế Việt Nam.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Thông qua việc phân tích đánh giá các điều kiệnquyết định lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu thủy sảnViệt Nam, xây dựng mô hình tổng hợp về các lợi thế cạnhtranh cuả ngành Xây dựng các giải pháp đồng bộ nhằmkhai thác các lợi thế phát
Trang 4triển xuất khẩu với mục tiêu hiệu quả và chất lượng Môhình được xây dựng có thể làm tiền đề cho việc quản lý bằng công nghệ tin học.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam
+ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ dừng lại ở việc xácđịnh một cách tổng hợp những điều kiện quyết định lợithế cạnh tranh và những thách thức đối với xuất khẩuthủy sản Việt Nam Các giải pháp mang tính định hướng,không đi sâu xây dựng các chỉ tiêu định lượng và chỉtập trung vào mục tiêu phát triển xuất khẩu là một trongcác hoạt động của ngành thủy sản
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tàilà phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, cân đối, môhình hóa và các kiến thức của các môn học thuộc ngành kinhtế
5 Nội dung của luận án:
Luận án gồm 3 chương:
Chưong I: Trình bày lý thuyết xác định lợi thế cạnh tranh củamột ngành trong quốc gia; cơ sở khoa học của chiến lược CNH –HĐH của Việt Nam; vai trò và vị trí của xuất khẩu thủy sảntrong sự phát triển kinh tế Việt Nam
Chương II: Phân tích và đánh giá các điều kiện thực trạngxác định lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản Việt Nam.Chương III: Trình bày các giải pháp nhằm khai thác hiệuquả các lợi thế của xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giaiđoạn đến năm 2010
Ngoài ra luận án được bổ sung phần phụ lục gồm cácbảng, biểu và dữ liệu liên quan tới phân tích hoạt động củaxuất khẩu thủy sản Việt Nam
6 Nguồn số liệu của luận án:
Nguồn số liệu sử dụng trong luận án được thu thập từniên giám thống kê của Việt Nam các năm, các báocáo kinh tế của Bộ Thủy sản và các số liệu điều tracủa các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương
4
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH, PHÁT TRIỂN VÀ XUẤT
KHẨU.
I.1 LÝ THUYẾT LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC TẾ.
Các lý thuyết về kinh tế quốc tế, cổ điển lẫn hiệnđại, đều cố gắng đưa ra những lý do, nguyên nhân nhằmgiải thích tại sao một loại sản phẩm, một ngành hay mộtquốc gia lại có thể thâm nhập vào hoạt động mậu dịchquốc tế? Họ đã khai thác lợi thế nào và từ đâu? Lợithế cạnh tranh hình thành, giữ vững và phát triển trướchết qua quá trình khai thác hiệu quả các điều kiện nộiđịa Sự khác biệt trong các giá trị của một dân tộc,văn hoá lịch sử, cấu trúc kinh tế, các định chế quốcgia … đều đóng góp vào sự thành công của cạnh tranh.Một nước từng đứng vững, vượt lên trên thị trường thếgiới trong một ngành nào đó là do môi trường trongnước đối với ngành đó được đánh giá là rất có tiềmnăng, năng động và thậm chí đầy thử thách nhưng hấpdẫn
Chính từ nhận xét trên, một mô hình về xác định lợithế cạnh tranh của một ngành được xây dựng, dựa trênviệc đánh giá các “lợi thế của dân tộc”, kết hợp vớiønhững điều kiện có thể từ bên ngoài tạo nên môitrường mà trong đó ngành có thể phát huy được nhữngthế mạnh của mình1 Mô hình được tóm tắt trong biểu đồsau:
BIỂU ĐỒ 1 MÔ HÌNH CÁC ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA MỘT NGÀNH
Trang 6Chiến lược, cấu trúc của doanh nghiệp và cạnh tranh
Chính phủ
Các điều kiện về
yếu tố sản xuất Các điều kiện
về nhu cầu
Các ngành bổ
Cơ hội
trợ và liên quan
1 Porter, M.E 1990 “The competitiveAd”
Trang 7Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh của một ngànhđược xác định từ các nhóm điều kiện có tác động trựctiếp tới nhau trong một thể thống nhất, bao gồm:
1
Nhóm các điều kiện yếu tố sản xuất: là các khảnăng của quốc gia về các yếu tố sản xuất như nguồnnhân lực, tài nguyên, vốn, tiềm năng khoa học – kỹthuật … cần thiết cho sự cạnh tranh của một ngành nhấtđịnh
2
Nhóm các điều kiện về nhu cầu: là các khả năngvà tiềm năng về thị trường tiêu thụ sản phẩm củangành kể cả trong và ngoài nước
3
Các ngành hỗ trợ và liên quan: đánh giá sự hiệndiện và cả sự thiếu vắng các ngành cung ứng cũng nhưnhững ngành có liên quan khác của hệ thống, từ đóxác định tiềm năng cạnh tranh
4
Chiến lược phát triển của bản thân ngành và các doanh nghiệp và đánh giá các đối thủ cạnh tranh trongvà ngoài nước (đối thủ ở nước ngoài lẫn đầu tư nướcngoài)
I.1.1 Phân tích các nhóm điều kiện:
I.1.1.1 Các điều kiện yếu tố sản xuất:
Theo thuyết kinh tế chuẩn, các yếu tố sản xuất nhưlao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấuhạ tầng … quyết định xu hướng của mậu dịch Một quốcgia sẽ xuất khẩu những sản phẩm thâm dụng những yếutố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào tương đối Tuynhiên, học thuyết này, bắt nguồn từ Adam Smith, DavidRicardo, cho tới Heckscher – Ohlin, đã không còn tuyệt đốiđúng trong thế giới đương đại
Bên cạnh những nguồn lực được xác định bằng sốlượng mà quốc gia sở hữu, ngày nay còn phải nói tới
những nguồn lực đặc biệt quan trọng được tạo lập nên,
đó là trình độ và kỹ năng của nguồn lao động, nền tảngkhoa học kỹ thuật của quốc gia Số lượng các nguồn lựcmà một quốc gia có được ngày càng trở nên ít quantrọng hơn so với việc chúng được sử dụng với mức độ nhưthế nào và tính hiệu quả ra sao Nhưng với trình độ pháttriển khác nhau của các quốc gia, việc nhấn mạnh khiùacạnh “số lượng” hay “chất lượng” của các nguồn lực cầnphải dựa vào những đặc điểm riêng biệt của mỗi quốcgia về mức độ phát triển kinh tế, các điều kiện lịch sử,
Trang 8văn hoá - xã hội đề từ đó xác định đúng chiến lược
“tạo ra” lợi thế cạnh tranh
Mặt khác, điều đó không đồng nhất với việc, mộtquốc gia chỉ phát triển những ngành, những lãnh vựcmà mình đã có sẵn những lợi thế Một số những bất lợitrong sự hiện diện các nguồn lực cơ bản lại có thể trởthành một động lực buộc các doanh nghiệp của ngànhphải đổi mới, phải nâng cấp để có thể cạnh tranh vàtồn tại Một thất bại trong mô hình tĩnh có thể trở thànhmột lợi thế trong một mô hình động Kết quả của việcbiến bất lợi thành thuận lợi thường dẫn tới hướng sử
Trang 9dụng nguồn lực với hiệu quả rất cao, đưa ra những giải pháp hoặc công nghệ hoàn toàn mới.
I.1.1.2 Các điều kiện nhu cầu:
Các yếu tố sản xuất được khai thác và sử dụngtới mức độ nào phụ thuộc không những chỉ vào sự dồidào của chúng mà còn phụ thuộc vào nhu cầu đối vớichúng Nhu cầu là động lực thúc đẩy sản xuất Xu hướngnhu cầu thế giới và quốc gia ngày càng “khó tính”; yêucầu cao đối với những sản phẩm và dịch vụ Người tiêudùng (kể cả sản xuất và sinh hoạt) đòi hỏi người sảnxuất và cung ứng phải đạt được những tiêu chuẩn về sảnphẩm chặt chẽ hơn, mới hơn Đó là điều kiện để thúcđẩy doanh nghiệp phải hoàn thiện, nghiên cứu và sángtạo hướng vào những lĩnh vực tiên tiến hơn
Một đặc điểm khác của nhu cầu tiêu dùng quốc tếtrong xu hướng toàn cầu hóa là một quốc gia có thểphát huy lợi thế của mình bằng việc giới thiệu, truyềnbá và xuất khẩu những giá trị dân tộc, khẩu vị cũngnhư sản phẩm đặc thù Ví dụ: Mỹ: fastfood và thẻ tín dụng;Nhật Bản: mì ăn liền và karaoke; Việt Nam: phở, chả giò.Ngược lại, việc nghiên cứu và sáng tạo của ngườisản xuất và phục vụ cũng làm ra đời những sản phẩmmới cao cấp hơn, hoàn thiện hơn mà người tiêu dùngchưa hề biết tới Những ngành nào khai thác tốt R&D lànhững ngành có nhiều khả năng giành được lợi thế cạnhtranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế
I.1.1.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan:
Một ngành kinh tế của quốc gia có nhiều lợi thếcạnh tranh hơn nếu nó có một hệ thống các ngành hỗtrợ và liên quan có sức cạnh tranh tốt trên thị trườngtrong và ngoài nước Lợi ích được hưởng chính là việc làmchi phí đầu vào thấp, mức độ tiên tiến của công nghệcao, sản phẩm làm ra được phân phối và tiêu thụ nhanhchóng, luồng thông tin được cập nhật thường xuyên vàổn định Một hệ thống các ngành trong quốc gia đượckết nối chặt chẽ cũng là một lợi thế cho nghiên cứuvà ứng dụng kỹ thuật công nghệ mới, cách tiếp cậnhiệu quả hơn với thị trường Tuy nhiên, không bắt buộcmột quốc gia phải xây dựng được đầy đủ một tổ hợphoàn chỉnh các ngành liên quan và bổ trợ trong nước đểkhai thác lợi thế cạnh tranh cho một ngành nào đó Lợi thếkhông bị mất đi mà thậm chí còn hiệu quả hơn nếungành sử dụng có chọn lựa nguyên vật liệu, trang thiết
bị, hoặc ngay cả kỹ thuật công nghệ của nước ngoài,
Trang 10với điều kiện: những sản phẩm nhập khẩu đó khôngphải là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động củangành.
I.1.1.4 Chiến lược, cấu trúc của doanh nghiệp và
sự cạnh tranh:
Hoàn cảnh và đặc điểm của một quốc gia là mộtyếu tố quan trọng tạo ra xu hướng hình thành loại hìnhdoanh nghiệp Một quốc gia có thể thành công trong
Trang 11việc cạnh tranh quốc tế ở một ngành với các xí nghiệpnhỏ và vừa, với đặc điểm quản lý và công nghệ uyểnchuyển, năng động, như ở Ý Nhưng cũng có thể ở mộtnước khác, như CHLB Đức, những ngành phát triển tậphợp các doanh nghiệp có qui mô lớn, bộ máy quản lýtheo thứ bậc chặt chẽ và nhà quản lý có bằng cấp học
vị nhất định
Từng ngành khác nhau trong một quốc gia cũng đòihỏi những phương thức, loại hình quản lý khác nhau phụthuộc vào đặc điểm sản xuất, trình độ phát triển lựclượng sản xuất cũng như các điều kiện kinh tế – xã hộikhác Vì vậy, không thể có một mẫu chung cho lợi thếcạnh tranh của ngành bằng việc xác định mô hình quảnlý, cấu trúc của doanh nghiệp Lợi thế đó được xácđịnh bằng chính từ sự nhạy bén, sáng suốt, hiểu biếtthực tế và dự đoán được tương lai của những người quảnlý, từ cấp quốc gia cho tới doanh nghiệp, công ty
Trong cùng một ngành, sự tồn tại và cạnh tranh củanhiều doanh nghiệp cũng là một động lực tạo ra lợi thếcạnh tranh của quốc gia Sự cạnh tranh giữa các doanhnghiệp trong nước, cũng như doanh nghiệp FDI, gây áp lựclẫn nhau buộc mỗi doanh nghiệp phải tìm cách giảm chiphí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ,tạo ra những công nghệ mới cũng như những sản phẩmmới độc đáo
Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trongnước với nhau còn do một nguyên nhân tâm lý, vượt lêntrên lý do kinh tế Họ cạnh tranh với nhau không chỉ đểdành thị phần về hàng hoá, mà còn để chứng tỏ khảnăng cá nhân, sự tiên phong của chủ doanh nghiệp Mộtsự thành công của doanh nghiệp trong nước trên thươngtrường thường là minh chứng đối với các doanh nghiệpkhác rằng sự sáng tạo, kỹ thuật tiên tiến là khả năngcó thể đạt được, và “tại sao người làm được mà ta lạikhông thể?” Tuy nhiên, yếu tố tâm lý này có hai mặt.Nó sẽ trở thành tiêu cực nếu như nhà quản lý chỉmuốn đạt được sự nổi tiếng cá nhân hoặc chỉ có sựnhiệt tình thái quá mà không có đầy đủ những kiếnthức về ngành nghề, về thương trường Doanh nghiệp chỉcó thể thành công khi người lãnh đạo vừa có tâmhuyết, có lòng tự hào dân tộc, vừa có năng lực vàkiến thức đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tếcạnh tranh khốc liệt
Trang 12Bốn nhóm điều kiện trên hợp thành một mô hình,trong đó các điều kiện ảnh hưởng qua lại trực tiếp tớinhau và quyết định lợi thế cạnh tranh của ngành.
I.1.1.5 Tính hệ thống của mô hình:
Lợi thế của quốc gia chỉ có thể được khai thác hiệuquả khi các nhóm yếu tố trong mô hình trên được khaithác đồng bộ Sự yếu kém của một yếu tố nào đó sẽhạn chế phát huy tiềm năng của ngành trong quá trìnhphát triển chiều rộng cũng như chiều sâu
Trang 13Yếu tố quyết định nhất của hệ thống chính là sựcạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Đó chính làđiểm nhấn để tạo “cú huých”, tác động như đầu tàu đểkéo những bộ phận liên quan khác có thể phát triểntheo Một khi thực hiện được nhiệm vụ đó, sẽ hình thànhmột môi trường thuận lợi cho cả một nhóm các ngànhcạnh tranh trong nền kinh tế Lợi ích không đơn thuần chỉ đạtđược trong một ngành mà sẽ lan tỏa qua các ngànhkhác thông qua mối quan hệ kết nối ngang, dọc, trướcvà sau, thể hiện ở qui mô cũng như chất lượng, cáchtiếp cận R&D, hệ thống thông tin thông suốt, và thậm chíxuất hiện những cơ hội mới Hơn thế nữa, khi mô hình lợithế cạnh tranh của một ngành này được khai thác hiệuquả sẽ là động lực tiếp sức và kết nối với mô hình lợithế cạnh tranh của một ngành khác phát triển theo.
I.1.2 Vai trò của nhà nước:
Có nhiều quan điểm trái ngược nhau về vai trò củanhà nước trong lý luận về lợi thế cạnh tranh của quốcgia Tuy nhiên có thể đồng ý với quan điểm: Vai trò chínhyếu của nhà nước giống như một xúc tác kích thích cácdoanh nghiệp tìm cơ hội thực hiện các mục tiêu của họ,giành lợi thế trong cạnh tranh Nhà nước không thể tạolập ra những ngành cạnh tranh tốt Chỉ có các doanhnghiệp, đơn vị sản xuất có thể làm được điều đó
Một chính sách thành công của nhà nước là gópphần tạo lập một môi trường để doanh nghiệp khai tháccác lợi thế cạnh tranh, chứ không phải một chính sáchmà nhà nước trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động củadoanh nghiệp Nói cách khác, nhà nước đóng vai trògián tiếp trong hoạt động của mô hình lợi thế cạnh tranh.Có thể nêu ra một số chính sách của nhà nước tạomôi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, đó là:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất
- Sản xuất tốt hàng hoá công cộng (giáo dục, y tế,nghiên cứu cơ bản, thông tin thị trường…)
- Thể chế hóa để cải thiện thị trường lao động, tài chính, công nghệ…
- Xây dựng một hệ thống luật pháp, chính sách chặt chẽvề các tiêu chuẩn an toàn và môi trường; chính sách vềchống độc quyền trong nước…
- Chấn chỉnh những sai lệch của thị trường bằng nhữngcông cụ kinh tế (như thuế, lãi suất, hối đoái, các quỹ xãhội…)
Trang 14- Bãi bỏ dần các công cụ của chính sách mậu dịch đểbuộc các doanh nghiệp phải tự đứng trên đôi chân củamình bước vào thị trường quốc tế.
Lý thuyết nêu trên đặt ra cơ sở của một mô hìnhtổng hợp cho việc phát huy lợi thế cạnh tranh của mộtngành trong quốc gia Tuy nhiên, việc khai thác điều kiệnnào là đột phá - ở những nước khác nhau, ở nhữngngành khác nhau - là những
Trang 15kết luận hết sức khác biệt, đặc biệt giữa các nướcphát triển và đang phát triển Vì vậy, vận dụng lý thuyếtnày vào thực tế phải căn cứ vào những điều kiện đặcthù của mỗi quốc gia, thậm chí mỗi khu vực trên thế giớiđể xác định chiến lược, chọn lựa đúng những “điểmhuých”, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với thời gianngắn nhất cho sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia.
I.2 ASEAN, VIỆT NAM VÀ PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH ĐỂ CNH - HĐH
Sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trên cơ sởkhai thác các nguồn lực trong nước không thể tách rờikhỏi quan hệ kinh tế trong khu vực, nhất là với sự phâncông hợp tác giữa các nước trong khối ASEAN Xét vềmặt chiến lược phát triển, các nước ASEAN đã trải quamột quá trình chuyển từ hướng nội, tự lực cánh sinh,đóng cửa, thay thế nhập khẩu, sang mở cửa, hướng vàoxuất khẩu Tuy vậy, không có sự thái quá chuyển từ cựcnày sang cực kia, mà kinh nghiệm của những nước thànhcông chỉ ra rằng, giải pháp hợp lý và thành công nhấtlà thực hiện một chính sách bổ sung giữa hướng vàoxuất khẩu và thay thế nhập khẩu, trong đó hướng vàoxuất khẩu là trọng tâm Giải pháp này cho phép kếthợp một cách có hiệu quả các lợi thế, các nội lực sẵncó với các ngoại lực, các lợi thế từ bên ngoài có thểtranh thủ được Quá trình phát triển kinh tế ở các nướcASEAN được thực hiện dựa trên “quan điểm kinh tế thân thịtrường”,một sự phát triển và vận dụng quan điểm tâncổ điển phù hợp với hoàn cảnh mới, được triển khai trêncác vấn đề chủ yếu sau:
- Tạo môi trường thương mại tự do cho các nhà xuất khẩu,
- Cấp tài chính và hỗ trợ dịch vụ cho các nhà xuất khẩu quy mô vừa và nhỏ,
- Cải thiện các ngành dịch vụ của chính phủ liên quan đến thương mại,
- Khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài hướng vào xuất khẩu,
- Cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu
Xét theo nguyên lý lợi thế so sánh, hiện nay có 5 yếutố lớn chi phối các quá trình công nghiệp hóa ở cácnước đang phát triển nói chung, các nước ASEAN nóiriêng,đó là:
- Tài nguyên con người,
Trang 16- Tài nguyên thiên nhiên,
Trang 17Về thị trường, ở các nước đang phát triển, với thunhập bình quân tính theo đầu người dưới 400USD, chỉ cókhoảng 10% dân cư có sức mua tương đương với sức muatrung bình ở các nước phát triển Như vậy, thị trường chủyếu tính theo sức mua; nếu đông dân mà sức mua thấpthì thị trường trong nước là nhỏ chứ không lớn.
Từ những lợi thế bên trong và bên ngoài trên, quátrình công nghiệp hóa ở các nước ASEAN diễn ra theo haigiai đoạn, từ thấp lên cao Mỗi giai đoạn đặt trọng tâmvào việc sử dụng các lợi thế phát huy được hiệu quảtốt nhất Giai đoạn đầu, kéo dài khoảng 20-30 năm, vớitrọng tâm ưu tiên phát triển các ngành dùng nhiều laođộng và tài nguyên thiên nhiên Giai đoạn hai, khi đã cólợi thế về công nghệ, tư bản con người và vốn (thu nhậpquốc dân đầu người đạt khoảng 1500-2000USD và tỷ trọngcông nghiệp chế tạo chiếm khoảng 30- 40% GDP trở lên),sẽ thay đổi cơ cấu trong nội bộ khu vực chế tạo: giảmtỷ trọng các ngành sử dụng nhiều tài nguyên và laođộng, tăng tỷ trọng các ngành sử dụng nhiều vốn, kỹthuật công nghệ cao và lao động chất xám Quá trình thayđổi được diễn tả trong biểu đồ 2
Khi bàn về lợi thế so sánh giữa các nước thành viênASEAN, nhiều người cho rằng giữa các nước này có các
cơ cấu kinh tế giống nhau, do đó cạnh tranh sẽ rất mạnh,còn hợp tác thì rất khó Đó là cách lập luận chủ yếutrên cơ sở phân tích cơ cấu ngành, cho rằng đây là khuvực gồm cùng các nước đang phát triển, cùng thừa laođộng,cùng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm nhiệt đới,cùng cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài, và một sốlý do khác tương tự
Trong thực tế, trình độ phát triển của các nước ASEANđã có sự chênh lệch, lợi thế so sánh về các yếu tốsản xuất đã khác nhau, cơ cấu mặt hàng cũng thay đổi,
do mỗi nước đã đạt tới những giai đoạn khác nhau củaquá trình công nghiệp hóa Quá trình CNH-HĐH càng tăngthì cơ cấu kinh tế sẽ có những khác biệt Công trìnhnghiên cứu dựa trên cơ sở mô hình toán kinh tế của haitác giả Naya Imada và Montes (1991) cho thấy, ở các nướcthành viên ASEAN, khi thực hiện AFTA, sẽ có sự thay đổi về
cơ cấu sản xuất Cụ thể, Singapore và Malaysia sẽ tăngcác ngành dùng nhiều vốn, công nghệ kỹ thuật cao,giảm hoặc không tăng tỷ trọng các ngành sử dụng nhiềulao động và tài nguyên thiên nhiên (tức ở giai đoạn haicủa quá trình CNH-HĐH) Trong khi đó, Philippines, Indonesiavà Thái lan, đang ở giai đoạn đầu, có xu hướng tăng
Trang 18nhanh các ngành dùng nhiều lao động và tài nguyênthiên nhiên, tăng chậm các ngành dùng nhiều vốn,công nghệ kỹ nghệ cao.Việt Nam, trong giai đoạn trướcmắt, có thể trong cùng nhóm với các nước Philippines,Indonesia và Thái lan Tất nhiên, những xu hướng này sẽthay đổi khi các lợi thế so sánh của mỗi nước thay đổi.
Trang 19BIỂU ĐỒ 2 XU HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG CÁC NHÓM NGÀNH SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC
- Công nghệ cao
- Tư bản con người
- Lao động rẻ
- Sản phẩm nông, lâm ngư nghiệp
- Một số khoáng sản
Công nghiệp hóa 1,500-2,000$
Tỷ
trọ
ng
Giai đoạn 2 Hàng hóa tư bản, hàng hoá lâu
bền, điện tử
Công nghiệp nhẹ, chế biến, lắp ráp
Sớm 500USD Giữa 2000USD Muộn Thời gian
- Giai đoạn sớm : trọng tâm các ngành : công nghiệp chế
biến lương thực thực phẩm, công cụ nông nghiệp, giầy
dép
- Giai đoạn giữa : Lắp ráp, chất dẻo, giấy
- Giai đoạn muộn : Hàng hóa tư bản, hàng hóa lâu bền, điện tử
Với những nghiên cứu về lý thuyết, người viết mạnhdạn chọn lĩnh vực xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đểvận dụng các mô hình khai thác lợi thế so sánh của quốcgia, nhận định một cách tổng hợp những lợi thế và tháchthức trong lĩnh vực đã chọn nhằm tìm ra khâu mấu chốtvà đưa ra những giải pháp khai thác một cách hiệu quảnhất tiềm năng của quốc gia trong lĩnh vực trên
10
Trang 20I.3 VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
Thủy sản là một ngành kinh tế – kỹ thuật đặc thùgồm các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khíhậu cần, dịch vụ, thương mại … Đây là một trong nhữngngành kinh tế biển- nước quan trọng
Phần quan trọng nhất của sản phẩm thủy sản làthực phẩm Thực phẩm thủy sản có đặc điểm: giàu chấtdinh dưỡng (đạm, chất khoáng và vi khoáng) nhưng dễ tiêuhóa hấp thu, ít chất béo gây hại cho tim mạch, thuộc loạithực phẩm sạch vì rất nhạy cảm với ô nhiễm Nhu cầuvề thực phẩm thuỷ sản trên thế giới đang tăng nhanh,nhất là ở các nước phát triển, do xu hướng thay thế chocác loại thịt khác vì các ưu điểm nổi trội của nó
Sản phẩm thủy sản là một nguồn nguyên liệu quantrọng cho sản xuất nông nghiệp Bột cá cho chăn nuôi,phân bón cho trồng trọt lấy từ phế liệu, phế phẩm trongcác ngành sản xuất thủy sản là nguồn nguyên liệu hữu
cơ đặc biệt chất lượng để nâng cao năng suất của sảnxuất nông nghiệp nhưng không gây tác hại tới môitrường
Thủy sản còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngànhkhác Sản phẩm thủy sản như các loại giáp xác, nhuyễnthể, rong tảo, cá là nguyên liệu cho các ngành dượcphẩm (alegant, chitozan), hóa chất, thủ công mỹ nghệ, trangsức
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyênbiển, ngành thủy sản Việt Nam đã chiếm một vị trí quantrọng trong nền kinh tế quốc dân Sản xuất thủy sản, đặcbiệt xuất khẩu thủy sản đã đóng góp rất nhiều cho sựphát triển đất nước Kim ngạch xuất khẩu của ngànhthủy sản luôn đứng trong 5 hạng đầu của các ngànhxuất khẩu Việc khai thông thị trường xuất khẩu tác độngphát triển cơ sở vật chất và năng lực khai thác, nuôitrồng thủy sản, năng lực hậu cần dịch vụ;ï tạo nên nhiềuviệc làm với thu nhập ngày càng cao cho người lao động,bảo đảm cuộc sống của hơn 3 triệu người; làm chuyểnđổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển, đặc biệt làcủa các cộng đồng ngư dân và nông ngư dân Từ chỗ làmột bộ phận không lớn thuộc khối kinh tế nông nghiệp,với trình độ lạc hậu vào những năm 80, thủy sản đãtrở thành một ngành kinh tế công – nông nghiệp có tốcđộ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn, góp phần ổn
20
Trang 21định và phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ chủ quyềnvà an ninh quốc gia trên biển.
21
Trang 22BẢNG 1 VỊ TRÍ MẶT HÀNG THỦY SẢN TRONG
CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Trang 23CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH LỢI THẾ
CẠNH TRANH CỦA XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh củaxuất khẩu thủy sản Việt Nam được phân chia và phân tíchtheo các nhóm điều kiện sau
II.1 CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT.
Đánh giá khả năng phát triển sản xuất và xuấtkhẩu thủy hải sản của quốc gia, không thể chỉ nhìn vàotiềm năng trong nước, mà còn phải thấy xu hướng pháttriển của thế giới trong lĩnh vực Các nhân tố tác độngđến khả năng sản xuất thủy sản Việt Nam được xem xéttrong tương quan quốc tế và quốc gia
II.1.1 Sản xuất thủy sản trên thế giới và khu
vực.
Theo FAO, sản lượng thủy hải sản khai thác trên thếgiới tăng liên tục với nhịp độ khá nhanh Sản lượngthủy sản khai thác được của thế giới đã tăng từ 17triệu tấn/năm (năm 1950) lên 122 triệu tấn (năm 1997).Tuy nhiên, nhịp độ tăng trưởng có chiều hướng giảmxuống Nếu những năm từ 50 đến 80, sản lượng thườngtăng gấp đôi sau một thập kỷ, tức bình quân khoảng6%/năm (17 triệu tấn năm 1950; 34,9 triệu tấn năm 1961;68,3 triệu tấn năm 1983), thì 10 năm tiếäp theo sau năm
1983, bình quân hàng năm chỉ tăng 1,5%/năm Trong số
25 quốc gia có sản lượng thủy hải sản trên 1 triệu tấn thìdẫn đầu là các nước Trung Quốc, Peru, Chile, Nhật, Mỹ, AánĐộ, Nga…Việt Nam đứng thứ 19
Trong tổng sản lượng thủy hải sản, lượng khai thácđánh bắt chiếm 80% và nuôi trồng chiếm 20% Xu hướngcác nước trên thế giới là gia tăng nuôi trồng thủy sản
so với khai thác đánh bắt, do nguồn lợi tự nhiên khôngphải là vô tận và khai thác phụ thuộc nhiều vào thờitiết và vụ mùa, chi phí cao, tỷ trọng đưa vào xuất khẩuthấp Nuôi trồng thủy hải sản cung cấp 29% sản lượngdùng làm thực phẩm Phần lớn sản phẩm nuôi trồng
Trang 24thủy sản có nguồn gốc từ các loài thủy sản nước ngọt(15,1 triệu tấn/năm 1996), 9,7 triệu tấn có nguồn gốc ởmôi trường biển và 1,6 triệu tấn từ môi trường nước lợ,(không kể các loài thực vật thuỷ sinh được trồng khoảng7,7 triệu tấn ) Do giá trị xuất khẩu rất cao, tôm sú đượcxếp vào hàng đầu các loại giáp xác nuôi trồng Gần nhưtoàn bộ sản phẩm tôm sú nuôi trồng nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, và các sản phẩmcủa chúng phần lớn được xuất sang các nước phát triển.
Trang 25Nước nuôi trồng thủy sản mạnh nhất thế giới làTrung Quốc, chiếm 67,8% tổng sản lượng và 45,4% tổng gíatrị nuôi trồng toàn thế giới năm 1996 Nhật Bản, mặcdù sản lượng nuôi trồng chỉ chiếm 4% tổng sản lượngnuôi trồng thế giới nhưng đã đạt gấp đôi tỷ trọng vềgiá trị Những nước có sản lượng nuôi trồng lớn thườngcũng là những nước có giá trị xuất khẩu lớn như TháiLan, Aán Độ, Ecuador, Indonesia…
Kim ngạch thương mại thủy hải sản trên thế giớinăm 1996 đạt trên 40 tỷ USD, trong đó các nước đangphát triển chiếm 49% Thái Lan luôn là nước đứng đầuvề xuất khẩu thủy sản, hàng năm xuất khẩu trên 4 tỷUSD Mỹ, Trung Quốc hàng năm xuất khẩu 2-3 tỷ USD Kếđó là Đài Loan, Nga, Indonesia, Hàn Quốc, Aán Độ…thu trêndưới 1,5 tỷ USD từ thủy sản xuất khẩu (xem bảng 2)
Khu vực Đông Nam Á và Nam Á là một trong nhữngkhu vực có nghề thủy sản lớn nhất của thế giới Tổngsản lượng thủy sản ở hai khu vực này năm 1994 đạt 19,5triệu tấn, chiếm 27,5% tổng sản lượng thủy sản toàncầu Ở khu vực này có khoảng 10 triệu người tham giavào nghề cá và mức tiêu thụ cá trên đầu người cũngkhá cao, nhất là ở các nước vùng ven biển Đông Nam Á.Sản lượng thủy hải sản của các nước Đông Nam Átăng khá nhanh, từ 8,576 triệu tấn năm 1984 lên 13,357triệu tấn năm 1996, chiếm khoảng 11% tổng sản lượngthủy hải sản toàn thế giới, trong đó sản lượng khai thácđánh bắt là 11,4 triệu tấn và sản lượng nuôi trồng gần 2triệu tấn Đây cũng là khu vực xuất khẩu thủy sản lớncủa thế giới: năm 1996 đã thu được 7.703 triệu USD,chiếm hơn 19% giá trị xuất khẩu thủy hải sản toàn cầu.Bốn nước có sản lượng thủy sản lớn nhất khu vực, vàcũng là những nước lớn trên thế giới như đã nêu ởtrên, là Thái Lan, Indonesia, Philippnes và Việt Nam Khácvới những khu vực khác trên thế giới, ở đây các loạicá nổi nhỏ được khai thác và tiêu thụ khá mạnh đểlàm thực phẩm Nó chiếm tới gần 1/3 sản lượng cất bếncủa khu vực Tôm là sản phẩm có giá trị cao nhất vàđược coi trọng khai thác và nuôi trồng Nhuyễn thể chânđầu (mực, bạch tuộc) mới chiếm một tỷ lệ nhỏ trongtổng sản lượng khai thác, song do giá trị xuất khẩu cao nên
10 năm trở lại đây đã có tốc độ tăng trưởng rất nhanh,tới 10%/năm
Trang 26II.1.2 Các tiềm năng về nguồn lực phát triển
ngành thủy sản Việt Nam:
II.1.2.1 Điều kiện tự nhiên.
Nước ta trải dài trên 13 độâ vĩ Bắc, kề sát biểnĐông, bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) tới Hà Tiên(Kiên Giang) dài 3.260 km Biển nước ta bao gồm: nội thủyvà lãnh hải rộng 226.000 km2, vùng biển đặc quyền kinhtế rộng khoảng 1 triệu km2 (gấp hơn 3 lần diện tích đấtliền), với hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên nhiều eo,vịnh, đầm, phá Số lượng vịnh, đầm phá là 12 vớiù tổngdiện tích 1.160 km2, được che chắn tốt, dễ trú đậu tàuthuyền và có điều kiện phát triển nuôi biển
Trang 27Biển Đông là một biển mở, thông với đại dương ởTây Nam Thái Bình Dương) và Ấn Độ Dương (qua eoMalacca) Các đảo nằm trong lãnh thổ nước ta như BạchLong Vĩ, Lý Sơn, Phú Quí, Côn Đảo, Phú Quốc, Hòn Khoai,Thổ Chu, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… nằm ở nhữngngư trường lớn nhất nước rất thuận lợi cho khai thác hảisản.
Trong nội địa, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằngchịt và các hồ thủy lợi, thủy điện tạo nên một tiềmnăng lớn về mặt nước với khoảng 1,7 triệu ha với nhiềuloại hình đa dạng Luồng lạch, cửa sông rất quan trọng đốivới nghề đánh cá biển Cả nước có trên 50 sông lớnnhỏ với 112 cửa ra biển, phân bố khá đều, trung bìnhcách 20km có một cửa, trong đó 65 cửa có độ sâu 0,4 –1,4m, khoảng 50 cửa có độ sâu 1,5 – 4m
Điều kiện khí hậu, thủy văn: Biển Việt Nam nằm ở
vùng nhiệt đới, tận cùng phía Đông Nam của lục điïa Châu Á, nên khí hậu chịu ảnh hưởng của cả đại dương(Thái Bình Dương) và lục địa, biểu hiện đặc trưng là chế độ nhiệt đới và gió mùa Đông – Bắc và Tây – Nam Gió mùa Tây – Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gây khó khăn cho đánh bắt trong Vịnh Thái Lan Từ tháng 10 đến tháng 3 thường có gió mùa Đông – Bắc, việc
đánh bắt gặp khó khăn ở vùng biển phía Đông và Vịnh Bắc Bộ Bão: Biển nước ta bình quân mỗi năm có
9 – 10 cơn bão, tập trung vào tháng 5 đến tháng 12
Ngoài ra, các biến đổi về thời tiết như lốc, áp thấp nhiệt đới… gây thiệt hại đáng kể về người và phương tiện, đồng thời hạn chế số ngày tàu thuyền hoạt
động trên biển
Dựa vào đặc điểm địa hình và khí tượng thủy văn,vùng biển và dải ven biển nước ta có thể chia thành 5vùng trong lĩnh vực nghề cá: vùng biển vịnh Bắc Bộ,vùng biển Trung Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biểnTây Nam Bộ và vùng giữa biển Đông Mỗi vùng cónhững điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và nuôitrồng các loại thủy hải sản khác nhau
II.1.2.2 Nguồn lợi thủy sản.
II.1.2.2.1 Nguồn lợi hải sản
Biển Việt Nam có 2038 loài hải sản, trong đó có trên
130 loài có giá trị kinh tế, chủng loại phong phú như cá,tôm, cua, mực, trai, hầu, đồi mồi, ngao điệp, rong câu, rong mơ, tảo… Với mức độ đánh giá chưa đầy đủ hiện
Trang 28nay, trữ lượng cá biển trong vùng biển đặc quyền kinh tế là 4.180.000 tấn, khả năng cho phép khai thác
1.670.000 tấn; trong đó, cá đáy: 856.000 tấn, cá nổi nhỏ: 694.000 tấn Ngoài ra, theo số liệu đánh bắt của các nước xung quanh biển Đông thì nguồn lợi cá nổi đạidương có thể khai thác ở khu vực giữa biển Đông từ 120.000 –
150.000 tấn Theo vùng đánh bắt, khả năng khai thác hàng năm ở vùng biển
Trang 29Bắc Bộ khoảng 200.000 tấn, miền Trung – 350.000 tấn, miền Đông Nam Bộ –
390.000 tấn và vùng vịnh Thái Lan – 240.000 tấn
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới giómùa, nguồn lợi thủy sản Việt Nam có chủng loại đa dạng, cátôm phân bổ theo vụ mùa rõ ràng, sống phân tán với quimô đàn nhỏ Tỉ lệ đàn cá nhỏ có kích thước dưới 5 × 20mkhá lớn, chiếm 84,2% tổng số đàn cá, đàn cá vừa (10× 20m)chiếm15%, đàn cá lớn (20*50m trở lên) chỉ chiếm 0,7% vàđàn cá rất lớn (20× 500m) rất hiếm hoi, chừng 0,1% Các đànmang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 67,8%, các đànmang tính đại dương chỉ chiếm 32,2% Chu kỳ sống của các loàicá biển Việt Nam tương đối ngắn, tốc độ sinh trưởng nhanhnên các đàn cá được bổ sung nhanh, đảm bảo duy trì trữlượng, nhưng kích thước cá được khai thác thuộc loại nhỏ
Nguồn lợi cá cũng khác nhau theo vùng và độ sâu Sốliệu điều tra sơ bộ đánh giá khả năng khai thác vùng xa bờhàng năm khoảng 770.000 tấn Vùng biển Đông Nam Bộ chokhả năng khai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7%,kế đến là vịnh Bắc Bộ (16%), biển miền Trung (14,3%), TâyNam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dương (7,1%).Phân bố trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy tập trungchủ yếu ở vùng biển có độ sâu dưới 50m (56,2%), còn lại là
ở vùng sâu từ 50 – 100m (23,4%)
Nguồn cá biển Việt Nam khá phong phú, tuy nhiên sốlượng cá thể ở mỗi loài không nhiều, lại sống phân tántheo đàn nhỏ là chính nên việc đánh bắt trên biểnkhông thuận lợi như một số vùng biển khác trên thế giới.II.1.2.2.2 Nguồn lợi thủy sản nước lợ
Tính chung, cả nước có 660.000 ha vùng nước lợ, trongđó khoảng 415.000 ha có thể nuôi thủy sản và đã sửdụng trên 290.000 ha để nuôi quảng canh
Theo thống kê, nước ta có 189 loài cá nước lợ chủyếu, trong đó có nhiều loài có giá trị cao kinh tế như cásong, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá măng, cá cam, cábống, cá đốp, cá đối… về tôm có tôm sú, tôm càngxanh, tôm lớt, tôm he, tôm rảo, tôm nương Ngoài ra còncó các loài nhuyễn thể như trai, hầu, điệp, nghêu, sò, ốcvà 90 loài rong tảo đều là những nguyên liệu tốt chotiêu thụ nội địa và chế biến xuất khẩu
Nguồn lợi nước lợ tuy không phong phú bằng nguồnlợi thủy sản nước mặn nhưng nếu có quy hoạch và hệthống các chính sách, biện pháp hợp lý thúc đẩy nuôi
Trang 30trồng thủy sản thì chính môi trường nước lợ là nguồncung cấp nguyên liệu quan trọng cho cả xuất khẩu và tiêuthụ nội địa.
II.1.2.2.3 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt
Với diện tích môi trường nước ngọt khoảng 1,04 ha triệu
ha, nước ta có khoảng 544 loài thủy sản nước ngọt, trongđó có tôm càng xanh có giá trị xuất khẩu cao
Trang 31Ngoài ra, nghề nuôi cá bè giống basa, lóc bông, bống tượng có triển vọng tốt vì có thị trường xuất khẩu ổn định.
BIỂU 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VIỆT NAM
1 Độ dài bờ biển (km)
2 Số lượng cửa sông
3 Diện tích vùng đặc quyền kinh tế (km2)
4 Các đảo lớn nhỏ
5 Trữ lượng (tấn)
6 Khả năng khai thác (tấn)
-trong đó: vùng xa bờ (tấn)
7 Diện tích mặt nước nội địa (ha)
8 Vùng bãi triều (ha)
9 Diện tích vịnh, đầm phá (km2)
10 Số loài cá
Trong đó loài cá có giá trị cao
11 Số loài tôm
12 Loài giáp xác
13 Nhuyễn thể
14 Rong
15 Chiều dài cá trung bình (cm)
16 Loài cá lớn nhất (cm)
3.2601121.000.0004.0003.000.000 –3.500.0001,6 – 1,7 triệu
770.00030.000 – 40.000300.000
1.1601.700 (2.000)
50 (100)70
1.6472.523
600 (11 loài rong câu)
15-2075-78
(Nguồn : Bài giảng Kinh tế Thủy sản – Trường Đại học Thủy sản)
II.1.2.3 Nguồn nhân lực.
Việt Nam, với số dân gần 80 triệu người, được đánhgiá là nước có nguồn nhân lực dồi dào so với cácnguồn lực khác Người Việt Nam khéo tay, cần cù, thôngminh, có thể tiếp thu nhanh chóng và áp dụng sáng tạonhững công nghệ kỹ thuật mới Giá cả sức lao độngViệt Nam nói chung còn tương đối thấp so với khu vực vàthế giới Tuy nhiên, trình độ dân trí thấp, dân số tăngnhanh làm gia tăng lao động không có việc làm, trởthành gánh nặng cho xã hội
Riêng trong nghề cá, theo số liệu thống kê củangành thủy sản năm 1995, số dân ở vùng triều là4,410.893 người, vùng đầm phá – 766.607 người, ở tuyếnđảo –
Trang 32136.472 người Mức độ tăng dân số ở khu vực ven biển caohơn mức trung bình của cả nước Lao động nghề cá năm
1999 thu hút 3.580.000 người Ngoài ra, còn hàng triệunông dân vừa sản xuất nông nghiệp vừa nuôi trồngthủy sản ở các tỉnh nội đồng Với đặc điểm luôn luônhoạt động trên biển nên ngư dân ít được học hành,
Trang 33trình độ văn hóa phần lớn chưa phổ cập chương trìnhphổ thông cơ sở Trình độ nghề nghiệp được đào tạo theokiểu “cha truyền con nối”, chủ yếu học tập theo lối kèmcặp, hướng dẫn trực tiếp trong quá trình sản xuất trênbiển Đời sống của ngư dân nghèo nàn, cuộc sống bâpbênh và rủi ro cao.
II.1.2.4 Nguồn vốn.
Đây là yếu tố sản xuất kém lợi thế của Việt Nam.Trong thời kỳ đổi mới, do thực hiện chính sách huy độngcác nguồn lực trong nước, đặc biệt là các nguồn lực trongdân, kết hợp với tranh thủ các nguồn lực quốc tế, nênnguồn vốn đầu tư của kinh tế Việt Nam nói chung, thủyhải sản nói riêng đã tăng nhanh qua các kỳ kế hoạch.Trong thời kỳ 1986–1990 mức đầu tư bình quân năm là170.640 triệu đồng, trong 5 năm 1991–1995 là 565.868 triệuđồng/năm, và thời kỳ1996–1998 đạt 1.370.900.triệuđồng/năm, tăng 803,38% so với giai đoạn 86–90 Đầu tư chothủy sản có mức tăng nhanh hơn mức tăng chung của cảnước
BẢNG 3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỦA NGÀNH THỦY SẢN TRONG CƠ CẤU KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆT NAM
Chỉ tiêu* Đơn vị 1996 Năm 1997 1998 97/96 98/97 So sánh
GDP, cả nước Tỷ 213833 231264 244596 108,2 105,8 Trong đó: đồng
5477 5530 5768 101 104,3 Thủy sản Tỷ
đồng
Tổng vốn đầu tư
đồng 67489,3 79204,6 75579,7 117,4 95,42
hội
Trong đó:
Tỷ đồng 496,1 731,5 851,6 147,5 116,42Thủy sản
Tổng vốn đầu tư
XDCB
Tỷ đồng
30522,4 38077,5 40793,3 124,8 107,1 Trong đó:
đồng 137,4 429,1 508,6 312,3 118,5
Lao động nghề
cá
1000 người 3030 3120 3350 103 107,4
(Nguồn:- Niên giám Thống kê, 1998, 1999; Bộ Thủy sản)
* Chỉ tiêu giá trị theo giá so sánh 1994.
Trang 34Tuy nhiên, nếu cân đối với yêu cầu phát triển ngànhthủy sản thì mức đầu tư đã đạt được chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn.
II.2 NHU CẦU VỀ SẢN PHẨM THỦY HẢI SẢN:
Trang 35Thế giới đang chuyển sang sử dụng ngày càng nhiều hải sản.Nhu cầu tiêu dùng thủy sản ngày một gia
tăng, do các đặc điểm chất lượng và dinh dưỡng, cũng như do tăng dân số và phát triển kinh tế, nâng cao
mức sống cộng đồng Trong cơ cấu nhu cầu, 60% sản lượng hải sản của thế giới được dùng làm thực phẩm cho con người, 40% còn lại là nguyên liệu để chế biến các sản phẩm kỹ thuật như: bột cá, dầu cá Ở các nước khác nhau, cũng như ở các khu vực, mức tiêu
dùng thủy hải sản có sự chênh lệch
II.2.1 Nhu cầu trong nước của Việt Nam.
Tiêu dùng thủy hải sản của Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng Mức tiêu thụ bình quân đầu người (đã trừnguyên liệu xuất khẩu) năm 1980 đạt 10,2
kg/người/năm; năm 1995 được 14,4 kg/người/năm và
năm 1998 khoảng 15,5 kg/người/năm.Hiện nay, ước tính 70% sản lượng thủy hải sản của Việt Nam phục vụ tiêu dùng trong nước Cơ cấu tiêu thụ giữa sản phẩm ăn tươivà chế biến cũng đã có thay đổi Tỷ trọng ăn tươi
không qua chế biến năm 1990 chiếm 72% lương tiêu thụ;năm 1995 còn 60,85%; năm 1998 còn 50% hàng thủy sản Ngoài ra, một nhu cầu khác đã xuất hiện và đượcdự đoán có hướng gia tăng là tiêu dùng hàng thủy sản nhập khẩu, do mức thu nhập của một bộ phận dân cư tăng lên và họ có nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm thủy sản mà trong nước không có
II.2.2 Nhu cầu thế giới.
Giá thực tế của sản phẩm thủy sản (loại có chất
lượng cao và trung bình) trên thế giới đã gia tăng suốt trong khoảng từ năm 1980 trở lại đây,trong khi sản lượngthương mại cũng tăng nhanh chóng, chứng tỏ rằng nhu cầu về thủy sản thế giới ngày càng tăng (trừ trườnghợp các loài cá nổi cỡ nhỏ, sản phẩm cá nước ngọt nuôi và đánh bắt ở những vùng mà thương mại chưa phát triển hoặc quá thưa dân) Quan hệ cung – cầu
thủy sản trên thế giới thể hiện sự thiếu hụt nguồn cung cấp
Cơ cấu tiêu thụ các mặt hàng cũng thay đổi Xu hướng thị trường thủy sản tươi sống gia tăng đặc biệt ở khu vực Đông Á (Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông…) Các mặt hàng sống có nhu cầu cao và tăng nhanh là tôm hùm, cua biển, cá vược, cá mú, cá chình, cá chép, sò điệp Các mặt hàng tươi là cá ngừ, cá hồi Hàng thủy sản đông lạnh giảm nhanh ở thị trường Mỹ,
Trang 36Tây Aâu và Nhật Bản; xu hướng còn tiếp tục giảm Đồ hộp thủy sản nhìn chung có xu hướng giảm nhưng chủ yếu là cá hộp, trong khi nhu cầu về tôm hộp, thịt cua hộp, trứng cá hộp… lại tăng nhanh Hàng thủy sản nấuchín cũng có xu hướng tiếp tục giảm Bột cá chăn nuôi biến động rất lớn, phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng khai thác cá cơm và cá trích của Peru và Chile.
Trang 37BẢNG 4 CƠ CẤU NHU CẦU THỦY SẢN CỦA THẾ GIỚI
29,6 Hàng thủy sản đông 24, 21,5
Hàng Thủy sản
nấu chín, ăn liền 10,6 7,2
(Nguồn: Bộ Thủy sản)
Như vậy, về mặt nhu cầu của thế giới, cơ hội thâmnhập của thủy sản nước ta vào thị trường quốc tế làhoàn toàn hiện thực Tuy nhiên thị trường xuất nhập khẩuthực phẩm cũng có những thử thách mới Các nướcnhập khẩu có nhiều quy định về an toàn vệ sinh thựcphẩm và yêu cầu về chất lượng tiêu dùng ngày càng caohơn
II.3 HIỆN TRẠNG NGÀNH, DOANH NGHIỆP VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH.
Ngành Thủy sản là một hệ thống hoạt động và quản lý nhiều khâu sản xuất kinh doanh bao gồm khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, thương mại thủy sản vàdịch vụ thủy sản Các khâu này khác nhau về kỹ
thuật và tính chất của sản xuất, nhưng lại đòi hỏi
tuân thủ tính hệ thống về công nghệ
Ngành thủy sản Việt Nam mang tính nhân dân rõ nét Nghề cá ở khu vực nhân dân chiếm 99% số lượng lao động, hơn 90% sản lượng khai thác và 95% sản lượng
nuôi trồng của toàn ngành Nhưng riêng trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu, kinh tế quốc doanh lại chiếm phần chủ đạo Do đặc điểm trên, các doanh nghiệp
thuộc ngành đều có qui mô nhỏ và vừa, phân bố rải dọc theo chiều dài đất nước, sử dụng lao động tại chỗ.Vượt qua thời kỳ sa sút 1976 – 1980, từ năm 1981 đến nay, ngành thủy sản Việt Nam cùng với cả nước tiến hành đổi mới, thực hiện cơ chế tự cân đối, tự trang
trải, chuyển theo hướng kinh tế thị trường và tích cực mở rộng thị trường trong cũng như ngoài nước Trong 20 năm qua, ngành thủy sản đã phát triển không ngừng, tăng trưởng cả về năng lực sản xuất, sản lượng, giá trị nói chung và xuất khẩu nói riêng; bước đầu làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển, góp
phần tạo việc làm và nâng cao đời sống của hàng
triệu người sống bằng nghề cá; góp phần ổn định và
20
Trang 38phát triển kinh tế đất nước Kết quả đã đạt được của ngành thể hiện trong bảng 5 từ năm 1981 đến nay,
ngành thủy sản Việt Nam cùng với cả nước tiến hành đổi mới, thực hiện cơ chế tự cân đối, tự trang trải,
chuyển theo hướng kinh tế thị trường và tích cực mở rộng thị trường trong cũng như ngoài nước Để nghiên cứu tiềm năng về xuất khẩu thủy hải sản, cần phải đánh giá toàn bộ hoạt động của các lĩnh vực khác nhau trong ngành
20
Trang 39Như đã nói ở trên, ngành thủy sản là một ngành kinh tế – kỹ thuật phức tạp Sự tăng trưởng của một bộ phận này không thể tách rời khỏi qui mô và chất
lượng của bộ phận khác Để nghiên cứu tiềm năng về xuất khẩu thủy hải sản, cần phải đánh giá toàn bộ hoạt động của các lĩnh vực khác nhau trong ngành
II.3.1 Khai thác hải sản:
Tổng sản lượng hải sản khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục, bình quân đạt 6,6%/năm Riêng giai đoạn 1991 –1995 tăng 7,5%/năm, giai đoạn 1996 – 1999
tăng 5,9%/năm Tổng sản lượng khai thác hải sản bao gồm đánh bắt gần bờ và đánh bắt xa bờ
Do phát triển tự phát, ồ ạt và không có cơ chếquản lý thống nhất, lực lượng phương tiện đánh bắt gầnbờ đã phát triển quá mức với tổng số 67.500 chiếc(công suất nhỏ hơn 95 CV) dẫn tới việc khai thác cạn kiệtnguồn lợi hải sản gần bờ Đầu năm 1980, năng suất laođộng nghề cá đạt khoảng 3 tấn/lao động, năng suất khaithác đạt 1 tấn/1CV, đến nay năng suất đó giảm xuốngcòn 2 tấn/lao động; 0,6 – 0,65 tấn/1CV, thậm chí vùng bắcmiền Trung chỉ còn 0,2 – 0,3 tấn/1CV
Việc đầu tư đánh bắt xa bờ tuy đã được chú ý pháttriển trong ba năm gần đây nhưng chỉ mới giải quyếtkhâu đóng tàu, phát triển đội tàu; còn các vấn đềkhác liên quan đến đánh cá xa bờ hầu như vẫn chưađược tổ chức đồng bộ Hiện nay tổng số tàu khai thác
xa bờ của toàn ngành là 5.564 chiếc trên tổng số103.000 chiếc của cả ngành, chiếm tỷ trọng 5,4% Theobáo cáo của Viện nghiên cứu hải sản, qua điều tra trên1.000 chiếc tàu đủ năng lực đánh bắt xa bờ thì cókhoảng 70% tàu đánh bắt ở vùng nước sâu khoảng 30m.Điều này chứng tỏ, rất ít tàu đánh cá Việt Nam vươn ravùng nước sâu 50m trở lên, khu vực rất rộng thuộc vùngđặc quyền kinh tế Việt Nam để đánh bắt Trong năm 1999,sản lượng khai thác hải sản xa bờ đạt 242.560 tấn (bằng19,83% tổng sản lượng khai thác), trong đó sản lượng xuấtkhẩu là 36.384 tấn (chiếm 15% tổng sản lượng đánh bắt
xa bờ) đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu 130 triệu USD
BẢNG 6 CƠ CẤU SẢN PHẨM KHAI
THÁC HẢI SẢN THEO VÙNG LÃNH THỔ NĂM 1998
39