PHẦN MỞ ĐẦU1 - TÍNH CẤP THIẾT VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI : Trong báo cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại Đại HộiĐảng Toàn quốc lần thứ VIII đã nêu phương hướng và giảipháp để phát tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN VĂN THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG 1/ KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC XÂM NHẬP
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
2.2 Xâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất ở nước
2.2.2 – Hoạt động lắp ráp Tr: 8 2.2.3 – Hoạt động sản xuất tại chỗ Tr: 8
2.2.5 – Đầu tư trực tiếp 100% vốn Tr: 8
2.3 Xâm nhập thị trường thế giới thông
qua các khu kinh tế đặc biệt
3/ CHỌN LỰA PHƯƠNG THỨC XÂM NHẬP
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp Tr: 11
CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1/ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP TRÊN THẾ GIỚI
Tr: 13
2/ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ GIÀY DÉP TRÊN THẾ GIỚI
Tr: 16
Luận Aùn Thạc Sỹ
Trang : 2
Trang 3- Nga và Cộng đồng các quốc gia độc lập Tr: 19
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GIÀY
Tr: 21
Luận Aùn Thạc Sỹ
Trang : 3
Trang 4DÉP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG 4 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNG GIÀY DÉP Ở TP HỒ CHÍ MINH 1/ CÁC GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ
TRƯỜNG VÀ XÂM NHẬP VÀO CÁC THỊ
TRƯỜNG TIỀM NĂNG TRONG THỜI GIAN
TỚI
1.1 Xây dựng chiến lược xâm nhập thị
trường theo phương thức sản xuất từ trong nước
1.3 Đầu tư đổi mới công nghệ có trọng điểm Tr: 59
1.4 Nghiên cứu nắm vững tình hình thị trường Tr: 59
1/ TÌNH HÌNH CHUNG VỀ NGÀNH GIÀY DÉP Ở
VIỆT NAM1.1 Sơ lược quá trình phát triển của ngành Tr: 2 2
giày dép
Tr: 2 2
3
3 1.2.2 – Trình độ kỹ thuật công nghệ Tr: 2
6 1.3.2 – Về thị trường xuất khẩu Tr: 2
0 2.2.2 - Thị trường và kim ngạch xuất khẩu
giày dép
Tr: 3 1 2.2.3- Tình hình cung ứng nguyên phụ liệu Tr: 3
4 2.3.4 -Kết quả sản xuất kinh doanh của một
số doanh nghiệp
Tr: 3 6 trong ngành giày dép tại Tp.Hồ chí Minh
2.3 Phân tích chiến lược kinh doanh của một sốdoanh nghiệp
Tr: 3 7 2.3.1 – Công ty giày Hiệp Hưng Tr: 3
7
2 2.3.3 – Công ty sản xuất hàng tiêu dùng
Trang 51.5 Huy động vốn đầu tư cho ngành giày dép Tr: 60
1.6 Tổ chức – qui hoạch nghề làm giày dép thủ công
Tr: 60
Trang 61.7 Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giày dép Tr: 61
2/ CÁC GIẢI PHÁP VỀ MARKETING – MIX
CHO SẢN PHẨM GIÀY DÉP XUẤT
KHẨU Ở TP HỒ CHÍ MINH
Tr: 62
2.1.1 – Chính sách về công tác thiết kế mẫu mã Tr: 63 2.1.2 – Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu Tr: 64 2.1.3 Duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm Tr: 64 2.1.4 – Bao bì, nhãn hiệu và uy tín sản phẩm Tr: 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tr: 72
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1
- TÍNH CẤP THIẾT VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI :
Trong báo cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại Đại HộiĐảng Toàn quốc lần thứ VIII đã nêu phương hướng và giảipháp để phát triển và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nước
ta theo hướng CNH - HĐH cũng như hoà nhập với nền kinh tế Thếgiới : " phát triển nhanh một số ngành công nghiệp có lợi thế,có sức cạnh tranh trên thị trường , hướng mạnh về xuất khẩu ", " Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và làtrọng điểm của kinh tế đối ngoại Tạo thêm mặt hàng xuất khẩuchủ lực Nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thịtrường " (*)
Thực hiện phương hướng chỉ đạo đó , các năm qua , ngànhcông nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày dép của nước ta nóichung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng đã có nhiều bước phát triển, giày dép trở thành một trong những nhóm ngành hàng xuấtkhẩu quan trọng , kim ngạch xuất khẩu lớn, chất lượng sảnphẩm ngày càng tăng và theo đánh giá chung của các chuyêngia kinh tế cả trong và ngoài nước thì giày dép của Việt Namlà một trong những nhóm ngành hàng có năng lực cạnh tranhtrên thị trường quốc tế trong giai đoạn hiện nay Cụ thể theo sốliệu của Hiệp hội Da giày Việt Nam và Bộ Công nghiệp - Năm
1990 kim ngạch xuất khẩu giày dép có 14,4 Triệu USD, đến năm1996õ đạt 529 Triệu USD , năm 1997 đạt 964 Triệu USD , năm 1998đạt 1.000 Triệu USD , năm 1999 theo số liệu của Tổng Cục HảiQuan đã đạt 1.403 Triệu USD tăng hơn 40% so với năm 1998 Mụctiêu phấn đấu mà ngành giày dép đặt ra là đến năm 2000 sẽxuất khẩu 1.500 đến 1.800 Triệu USD, đến năm 2005 xuất khẩuđược 2.500 Triệu USD và năm 2010 xuất khẩu 4.000 Triệu USD Nghĩa là tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân phải là25% /năm Với tốc độ phát triển như hiện nay và mục tiêu
Trang 8phấn đấu của ngành đã nêu, với những thuận lợi về lợi thếcạnh tranh trên thị trường thế giới của nhóm hàng ngành giàydép , tuy nhiên để duy trì được tốc độ phát triển hàng năm25% không phải là một điều đơn giản và dễ dàng nếu khôngcó một
(*) Trích văn kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ VIII Trang 35, 90 – NXB Chính Trị Quốc Gia.
Trang 9chiến lược hợp lý Nhất là trong khi Tp.Hồ Chí Minh là một trungtâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, một đầu mối giao lưulớn nhất nước
Là một trung tâm công nghiệp , Tp.Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng31% tổng sản lượng cả nước và chiếm 80% sản lượng toàn khuvực Đông Nam Bộ , giày dép chiếm 60% tổng sản lượng cảnước Tp.Hồ Chí Minh cũng đã xác định công nghiệp da giày làngành mũi nhọn của mình và hướng phát triển đến năm 2010sẽ sản xuất 165 triệu đôi giày dép Để góp phần thực hiệnđược các mục tiêu của ngành và Tp.Hồ Chí Minh, tôi đã chọn
đề tài : " MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂM NHẬP
THỊ TRƯỜNG VÀ TĂNG CƯỜNG
XUẤT KHẨU GIÀY DÉP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH " để
làm luận án tốt nghiệp, với mục đích mong muốn cho lãnh đạocác doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh nhóm hàng này ở Tp.HồChí Minh thực hiện được mục tiêu phát triển của Tp.Hồ Chí Minh,góp phần bảo đảm được chỉ tiêu phấn đấu của ngành, chủđộng trong sản xuất, giữ vững tốc độ tăng trưởng, tạo thêm uytín cho sản phẩm của Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồngthời bản thân doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường , tăngthêm kim ngạch xuất khẩu , tăng thu nhập, tạo thêm việc làmcho người lao động , và trên hết là đóng góp công sức để ViệtNam trở thành một nước CNH - HĐH vào năm 2020
2
- PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI :
Do nhiều điều kiện hạn chế, đề tài này chủ yếu phân tích tìnhhình sản xuất và xuất khẩu giày dép và các chiến lược xâmnhập thị trường ở một số doanh nghiệp lớn tại Tp.Hồ Chí Minhtừ năm 1993 đến năm 1998 Trên cơ sở đó đề ra các giải phápmở rộng thị trường xuất khẩu hiện tại cũng như đẩy mạnh việcxâm nhập thị trường tiềm năng trong thời gian tới
Kết cấu nội dung đề tài gồm 4 chương , 72 trang, 24
bảng số liệu CHƯƠNG I : Một số vấn đề lý
luận về xâm nhập thị trường thế giới
Trang 10CHƯƠNG II : Tình hình sản xuất và tiêu thụ
giày dép trên thế giới
CHƯƠNG III : Thực trạng sản xuất và xuất khẩu giày dép tại Tp.Hồ Chí Minh CHƯƠNG IV : Một số giải pháp đẩy mạnh xâm nhập thị trường và tăng cường xuất khẩu giày dép
Trang 11- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Việc nghiên cứu được kết hợp phân tích lý thuyết với thựctiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dựa vào cácphương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thu thập tài liệuqua điều tra thực tế tại các doanh nghiệp, tại Hiệp Hội Da Giày ,Cục Thống kê và nhiều nguồn khác - phương pháp tổng hợp vàphân tích thống kê, diễn dịch và qui nạp
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức có hạn nên luận ánkhông tránh khỏi các thiếu sót Kính mong Thầy , Cô và tất cảcác vị có quan tâm đến đề tài này đóng góp để nó hoànchỉnh hơn và giúp cho các doanh nhiệp có thể thành công tronghoạt động sản xuất - kinh doanh nhóm hàng Giày - Dép
Trang 12( ENTRY STRATEGIES TO WORLD MARKET )
Chiến lược xâm nhập thị trường thế giới là hệ thống
những quan điểm, những mục tiêu định hướng , những phương
thức để xâm nhập thị trường thế giới và các chiến lược
marketing để đưa sản phẩm của mình xâm nhập vào thị trường
thế giới một cách có hiệu quả
Theo khái niệm này các doanh nghiệp cần phải :
- Xây dựng hệ thống quan điểm , mục tiêu định hướng xâm
nhập thị trường thế giới, nhằm đề ra phương hướng phát
triển và các mục tiêu cần đạt ở các giai đoạn của quá
trình xâm nhập thị trường thế giới cho doanh nghiệp mình
- Chọn phương thức xâm nhập thị trường hợp lý nhất
- Xây dựng chiến lược marketing hỗn hợp cho từng giai đoạn
phát triển của doanh nghiệp
Trong khi giải quyết các vấn đề trên Doanh nghiệp cần
thiết phải dựa vào định hướng phát triển của quốc gia, của
ngành , của địa phương, nhằm bảo đảm cho sự phát triển nhịp
nhàng và cân đối, phù hợp với sự phát triển chung của ngành
và cả đất nước Trong quá trình chọn lựa phương thức xâm nhập
thị trường hợp lý, doanh nghiệp cần phải cân nhắc và
Trang 13phân tích kỹ lưỡng các nhân tố ảnh hưởng như đặc điểm thịtrường cần xâm nhập, đặc điểm của sản phẩm, tiềm lực củadoanh nghiệp vv Chiến lược marketing hỗn hợp là biểu hiện cụthể cho sự linh hoạt của doanh nghiệp trước các sự thay đổi trongngắn hạn của thị trường cần xâm nhập để thích ứng với tìnhhình mới Các chiến lược của marketing hỗn hợp như sản phẩmnào , phân phối ra sao , giá cả bao nhiệu vv đều hướng vềngười tiêu thụ và chịu ảnh hưởng quan trọng của môi trườngkinh tế, chính trị, cạnh tranh Như vậy, chiến lược marketing hỗnhợp cho thị trường mục tiêu cùng với chiến lược xâm nhập thịtrường thế giới tạo thành chiến lược kinh doanh trong dài hạn theomục tiêu đã định
2 - PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI.
Để xâm nhập thị trường thế giới thì có nhiều phương thức ,trong đó các phương thức thường được sử dụng là sản xuất trongnước , sản xuất ở nước ngoài và xâm nhập tại các đặc khukinh tế hay khu thương mại tự do
2.1 - Xâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất trong nước :
Theo phương thức này, các doanh nghiệp sản xuất hàng ởtrong nước, sau đó xuất khẩu để xâm nhập vào thị trường thếgiới, tùy thuộc vào sản phẩm, qui mô và trình độ của doanhnghiệp mà doanh nghiệp sẽ chọn hình thức xuất khẩu là trựctiếp hay gián tiếp cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp
2.1.1 - Xuất khẩu trực tiếp ( Direct Exporting )
Xuất khẩu trực tiếp là doanh nghiệp có một hệ thốngphân phối , tiêu thụ hàng của mình ở nước ngoài Các doanhnghiệp có qui mô lớn có kinh nghiệm về kinh doanh ngoại thương, có sản phẩm truyền thống nổi tiếng trên thị trường thế giớithường áp dụng hình thức này vì nó mang lại lợi nhuận lớnnhưng nó cũng đòi hỏi rất nhiều điều kiện khắt khe khác
2.1.2 - Xuất khẩu gián tiếp ( Indirect Exporting )
Trang 14Xuất khẩu gián tiếp là doanh nghiệp có sản phẩm muốnxuất khẩu phải dựa vào một tổ chức trung gian để xuất khẩuvà tổ chức tiêu thụ hàng cho doanh nghiệp mình Thường cácdoanh nghiệp có qui mô nhỏ, ít kinh nghiệm, phải áp dụngphương thức này Để xuất khẩu gián tiếp các doanh nghiệpthường dùng các cách sau :
Trang 152.1.2.1 - Xuất khẩu thông qua ủy thác ( Export Commission House )
Tổ chức được ủy thác xuất khẩu thường là đại diện chongười mua nước ngoài tại nước của nhà xuất khẩu - Tổ chứcủy thác xuất khẩu hoạt động vì lợi ích của người trả hoa hồngủy thác và của nhập khẩu Ủûy thác xuất khẩu thường ápdụng khi các doanh nghiệp chuyên sản xuất và không có điềukiện tổ chức hoặc nghiệp vụ xuất nhập khẩu
2.1.2.2 Xuất khẩu qua các môi giới ( Export Broker )
Các nhà hoặc tổ chức môi giới hoạt động thông qua việcliên kết giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu Họ có thểhưởng tiền hoa hồng môi giới cả bên bán lẫn bên mua Thôngqua môi giới mà người mua và bán gặp nhau và giải quyết cungcầu
2.1.2.3 - Xuất khẩu thông qua các công ty quản
trị
xuất khẩu: ( Export Management Company)
Khi một doanh nghiệp có qui mô nhỏ ít kinh nghiệm trongkinh doanh xuất khẩu có thể xuất sản phẩm của mình thông quacác công ty quản trị xuất khẩu Các công ty này hoạt động nhưmột công ty tư vấn và thực hiện các dịch vụ liên quan đến xấtnhập khẩu Mọi giao dịch công ty đều lấy danh nghĩa của nhàxuất khẩu và chỉ hưởng hoa hồng
2.1.2.4 - Xuất khẩu thông qua các nhà (hãng )
xuất khẩu : ( Export Merchants)
Các nhà xuất khẩu hay hãng xuất khẩu thường đóng trụsở tại các nước xuất khẩu để mua hàng của các người hoặcdoanh nghiệp sản xuất sau đó xuất khẩu Các nhà sản xuấthay doanh nghiệp chuyên sản xuất có thể thông qua các nhàxuất khẩu để thâm nhập thị trường thế giới Các nhà xuấtkhẩu thực hiện toàn bộ nghiệp vụ xuất và chịu tất cả rủi ro vềviệc xuất khẩu của mình
2.2 - Xâm nhập thị trường thế giới từ việc sản xuất ở nước ngoài :
Trang 16Một số quốc gia trên thế giới qui định việc nhập khẩu rấtkhó khăn như qui định hạn ngạch hoặc thuế và nhiều qui địnhkhác, gặp trường hợp đó doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuấtngay tại nước cần xâm nhập thị trường để tránh các qui địnhkhó khăn đó, hoặc do muốn tận dụng các lợi thế về tàinguyên , gía lao động rẻ để giảm giá thành sản phẩm , tăng
Trang 17khả năng cạnh tranh vv Để xâm nhập thị trường từ việc sản xuất tại nước ngoài các doanh nghiệp có thể áp dụng một số hình thức như :
2.2.1 - Liên doanh với các tổ chức sản xuất nước sở tại ( Joint-venture)
Nhằm tận dụng các ưu thế thị trường , về sự hiểu biết tìnhhình kinh doanh trong nước và các lợi thế khác như vốn , kỹ thuậtcủa các doanh nghiệp trong nước sẵn có, các doanh nghiệp cóthể xâm nhập thị trường qua liên doanh Vì liên doanh là liênkết kinh doanh - sản xuất mà cả hai hay nhiều bên đều cóchung sở hữu , điều hành doanh nghiệp theo mức độ vốn gópliên doanh mà một bên có thể có ưu thế hơn về việc đề raphương án kinh doanh
- sản xuất và các chiến lược phát triển có lợi cho phía mình hơn
2.2.2 - Hoạt động lắp ráp sản phẩm ( Assemly Operations )
Một số doanh nghiệp tổ chức các cơ sở lắp ráp sảnphẩm hoàn chỉnh ở nước ngoài bằng cách chỉ xuất linh kiệnrời, nhằm tiết kiệm chi phí và lách né các qui định khắt khe củaviệc nhập khẩu một số sản phẩm hoàn chỉnh Tại các nướccó nhiều qui định khó khăn về nhập khẩu và có nguồn laođộng dồi dào , giá lao động rẻ Việc tổ chức lắp ráp có thểtận dụng các lợi thế này để giảm chi phí sản xuất và xâmnhập thị trường thuận lợi hơn
2.2.3 - Hợp đồng sản xuất tại chỗ ( Contract Manufacturing ).
Các nhà doanh nghiệp muốn xâm nhập vào một thị trườngcó thể hợp đồng với các doanh nghiệp sở tại để sản xuấtsản phẩm của mình Theo cách này các doanh nghiệp thườngcăn cứ vào giá lao động và nguồn nguyên liệu sẵn có thườnglà rẻ để hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở nướcmà doanh nghiệp muốn xâm nhập thị trường Tuy cách này cónhiều thuận lợi và ít rủi ro , nhưng có khả năng doanh nghiệp
Trang :
10
Trang 18sẽ tạo thêm đối thủ cạnh tranh khi hợp đồng sản xuất chấmdứt
2.2.4 - Nhượng bản quyền (Licensing )
Tại một thị trường có nhiều hạn chế sự xâm nhập nhưthuế nhập khẩu quá cao, hạn ngạch nhập quá ít vv một doanhnghiệp có thể nhượng bản quyền về phương thức sản xuất
, các phát minh, sáng chế, hoặc nhãn hiệu của mình cho một doanh nghiệp khác ở thị trường đó để doanh nghiệp này sản xuất sản phẩm của mình nhằm tiêu thụ tại nội địa hay
Trang :
10
Trang 19xuất sang các thị trường khác Thường chỉ có các doanh nghiệplớn nổi tiếng về công nghệ tiên tiến hay nhãn hiệu mới áp dụng phương thức này
2.2.5 - Đầu tư trực tiếp 100% vốn vào sản xuất kinh doanh (Direct Investment )
Đối với một doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong kinhdoanh quốc tế , có thực lực mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thịtrường, có thể đầu tư trực tiếp vào thị trường muốn xâm nhậpthông qua việc lập các cơ sở sản xuất kinh doanh 100% vốn củamình tại thị trường đó Việc đầu tư trực tiếp như thế có nhiềurủi ro hơn hợp đồng hay liên doanh sản xuất Nhưng có lợi thế làdoanh nghiệp có quyền chọn các chiến lược thích hợp , tạo cácsản phẩm phù hợp yêu cầu thị trường và kiểm soát toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh
2.3 - Xâm nhập thị trường thế giới thông qua các khu vực kinh tế đặc biệt :
Tại nhiều nước trên thế giới hiện nay đều có lập cácđặc khu kinh tế, các khu chế xuất, hay khu vực tự do thương mại,nhằm nhiều mục đích khác nhau, nhưng tựu trung là vì mục tiêuphát triển của đất nướùc , do đó tại các khu vực kinh tế đặcbiệt này Chính Phủ các nước thường cho các doanh nghiệp hưởngmột số chế độ ưu đãi về thuế và các thuận lợi về thủ tụccũng như những điều kiện kinh doanh khác để khuyến khích vàthu hút đầu tư Cho nên các doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh cao và vốn lớn có thể xâm nhập vào thị trường thếgiới bằng việc tổ chức sản xuất tại các khu vực kinh tế đặcbiệt để hưởng các ưu đãi và tận dụng được các lợi thế đượccác nước tạo ra ở đó
Trang : 19
Trang 20chọn một phương thức phù hợp nhằm xác định yếu tố nào làquyết định, là chính hay thứ yếu, trên cơ sở nắm vững yêu cầuvà ưu nhược điểm của mỗi phương thức Và một khi chọn đượcphương thức xâm nhập thị trường thế giới phù hợp và cóchiến lược marketing hỗn hợp đúng thì là nhân tố quyết định bảođảm cho doanh nghiệp thành công
Sau đây ta sẽ xem xét cụ thể một số yếu tố ảnh hưởûngđến việc chọn phương thức xâm nhập thị trường thế giới
3.1 - Tình hình thị trường cần xâm nhập :
Trang : 20
Trang 21Việc nghiên cứu và nắm vững đặc điểm tình hình của thịtrường cần xâm nhập là yêu cầu không thể thiếu được khitiến hành kinh doanh đối với các doanh nghiệp Thông quanghiên cứu thị trường mà doanh nghiệp xác định được thị trườngmục tiêu, thị trường có triển vọng nhất cho việc xâm nhập củadoanh nghiệp, qua nghiên cứu cũng xác định được đối thủ cạnhtranh hiện tại và tương lai Đồng thời có một chiến lược xâmnhập thị trường phù hợp nhất khi đã nắm vững đặc điểm tìnhhình kinh tế, chính trị, xã hội văn hoá, hệ thống luật pháp .tại thị trường đó Tóm lại, đặc điểm và tình hình thị trường cầnxâm nhập là yếu tố quan trọng cần xem xét trước khi chọnphương thức xâm nhập
3.2 - Các đặc điểm của khách hàng :
Một trong các yếu tố ảnh hưởng quan trọng không kémđến việc chọn phương thức xâm nhập thị trường thế giới làđặc điểm của của khách hàng Các đặc điểm như thị hiếutiêu dùng , tập quán mua sắm, thu nhập dân cư , dân số vàmật độ dân cư tại các vùng lãnh thổ , điều kiện sinh hoạt ,các phản ứng khác nhau về quảng cáo vv đều có ảnhhưởng quan trọng tới việc chọn cho doanh nghiệp một chiến lượcxâm nhập thị trường thích hợp
3.3 - Đặc điểm của các trung gian :
Các trung gian thường chọn các loại sản phẩm mà khi bánhọ được hưởng nhiều hoa hồng hơn, họ thích chọn các loại sảnphẩm dễ bán hơn, và đối với các doanh nghiệp có sản phẩmđã nổi tiếng thường dễ dàng trong việc chọn các trung gian tiêuthụ với các điều kiện thuận lợi cho mình hơn là các doanh nghiệpmới hoặc sản phẩm mới chưa có tiếng tăm gì Do vậy trongquá trình xâm nhập thị trường thế giới cần cân nhắc đến đặcđiểm này
3.4 - Đặc điểm của sản phẩm :
Trang 22Tùy theo đặc điểm của sản phẩm mà chọn chiến lượcxâm nhập thị trường thế giới cho phù hợp , thí dụ sản phẩm cóyêu cầu kỹ thuật cao và giá trị lớn cần có đội ngũ chuyênviên kèm theo hướng dẫn sử dụng Hoặc sản phẩm mau hỏngđòi hỏi việc tổ chức bán phải làm sao đến tay người tiêu dùngnhanh nhất, đối với sản phẩm có tính thời trang hoặc có tínhchuyên dùng vv lại có các yêu cầu khác nhau nữa , chính vìthế mà tùy theo đặc điểm của sản phẩm doanh nghiệp sẽ chọnchiến lược xâm nhập thị trường khác nhau cho phù hợp
3.5 - Năng lực và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp :
Trang 23Tùy theo khả năng và điều kiện hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp như khả năng huy động vốn , năng lực và trình độsản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh trên thịtrường, các thuận lợi hoặc khó khăn khi sản xuất kinh doan vv mà doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh khác nhau Thường thìmột doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa, trình độ kỹ thuật sảnxuất ở mức trung bình, khả năng tài chính có nhiều hạn chế thìthường không thể xâm nhập thị trường thế giới bằng chiến lượctổ chức sản xuất sản phẩm ở nước ngoài như các tập đoàn đaquốc gia được Với tiềm lực mạnh của các công ty đa quốc gia,họ có thể chủ động chọn nhiều phương thức xâm nhập thịtrường thế giới hơn là các công ty có tiềm lực yếu hơn
Tóm lại : Để có thể thành công trong việc xâm nhập thịtrường thế giới , ngoài việc xác định đúng mục tiêu địnhhướng xâm nhập thị trường trên cơ sở có một hệ thống quanđiểm khoa học và phù hợp với thực tiễn , cần phải chú ý cácyếu tố ảnh hưởng để chọn được một phương thức thích hợp đểxâm nhập thị trường Bên cạnh đó, một chiến lược marketinghỗn hợp đúng cũng sẽ góp phần làm cho chiến lược xâm nhậpthị trường trở thành hiện thực
Và như ta biết, với việc thực hiện thành công một chiến lượcxâm nhập thị trường sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp mởrộng phạm vi hoạt động kinh doanh, tăng thêm khả năng tiêuthụ sản phẩm , tận dụng các lợi thế về tài nguyên , lao độngvà những thuận lợi khác tại thị trường cần xâm nhập, nhằmtăng năng lực sản xuất cho doanh nghiệp, kéo dài chu kỳ sốngcho sản phẩm của mình và tăng thêm lợi nhuận, tạo điều kiệntích luỹ để phát triển ngày càng vững mạnh hơn
Trang 24CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ HÀNG GIÀY DÉP TRÊN THẾ GIỚI
1
- TÌNH HÌNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP TRÊN THẾ GIỚI
1.1 - Về công nghệ :
Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, lĩnh vực khoa học
công nghệ của nhân loại đã có những tiến bộ vượt bậc
Cùng với sự phát triển một cách nhanh chóng của công nghệ
thông tin, tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới Tự động
hoá trong sản xuất ngày càng phổ biến hơn
Đối với công nghệ sản xuất giày dép trên thế giới
cũng không tách rời sự tiến bộ chung đó Nếu như trước đây
người ta sản xuất giày dép bằng lao động thủ công là chính,
sau đó sự ra đời các máy móc như máy may , cắt ,ép việc
sản xuất đã phát triển nhanh chóng hơn cùng với các xí
nghiệp, công ty được trang bị hiện đại, phong cách quản lý khoa
học đã cho ra đời hàng loạt các sản phẩm chất lượng đồng đều
và ngày càng tốt hơn Ví dụ, trước đây để cắt nguyên liệu từ
việc phải dùng tay và dao cắt, đã có máy cắt , xén dùng tay,
đến máy cắt dùng điện thì nay người ta dùng tia nước, dùng tia
laser, với sự lập trình từ trước bởi hệ thống máy vi tính hiện đại
Hoặc như việc khâu mũ giày , đây là giai đoạn tốn nhiều lao
động, nhiều thời gian và công sức nhất vì rất phức tạp , nhất
là khi có nhiều mẫu mã khác nhau Một số doanh nghiệp đã
giải quyết vấn đề này bằng cách đặt các nước đang phát
triển, các nước có giá nhân công rẻ để gia công cho họ Một
Trang 25số doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh thì giải quyết bằngviệc đầu tư cho các loại máy khâu tự động, sử dụng các phầnmềm đã lập trình theo mẫu thiết kế từ trước với hình ảnh ,màu sắc , đường viền của mũi
Trang 26giày được thao tác hoàn toàn chính xác theo mẫu đã có, vàcũng rất dễ dàng khi cần thay đổi mẫu mã cho phù hợp vớithị hiếu , nhu cầu của khách hàng Trong việc chế tạo đế giàycũng vậy, công nghệ ngày nay cho phép sản xuất các loại đếgiày theo kích cỡ phù hợp với ngón chân, các loại đệm lót, đếtrong , đế ngoài theo nhiều công nghệ mới như ép đúc, ép phun,làm cho chất lượng ngày càng cao Riêng đối với ngành sảnxuất các loại thiết bị máy móc chuyên dùng trong ngành sảnxuất giày dép , da và các loại phụ liệu làm giày dép hiện đangcó sự chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển ở ChâuÂu , Châu Mỹ sang các nước Đông Á như Hàn Quốc, Thái Lan,Đài Loan và một số nước đang phát triển khác nhằm tận dụngcác lợi thế của các nước này về giá nhân công rẻ, tàinguyên thiên nhiên phong phú và gần với thị trường tiêu thụcác loại máy móc thiết bị Đặc biệt các loại nguyên phụ liệudùng cho sản xuất giày dép như da thuộc, vải giả da, cao su,chất dẻo, keo dán, dây kéo, khuy nút vv Các nước phát triểnđều chuyển việc sản xuất sang các nước đang phát triển đểvừa giảm chi phí sản xuất, vừa tránh các công đoạn sản xuấtgây ô nhiễm cho môi trường sống Có thể nói hiện nay cácloại máy móc thiết bị có công nghệ thật hiện đại thì các nướccông nghiệp phát triển mới sản xuất, còn lại hầu hết cácmáy móc thiết bị có trình độ công nghệ trung bình trong việcsản xuất giày dép đều do các nước như Hàn Quốc, Đài Loanthực hiện Do đó các nước mới phát triển sản xuất hàng giàydép như Việt Nam sẽ có nhiều bất lợi khi phải mua lại máy mócthiết bị của họ với giá cao, làm cho giá thành sản phẩm tăng,dẫn tới khả năng cạnh tranh trên thị trường giảm, hoặc phảiphụ thuộc vào họ qua hình thức gia công Để có thể khắc phụcđiều này đòi hỏi sự lỗ lực từ nhiều phía, nhiều ngành , dưới sựlãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ cũng như lãnhđạo của các nước địa phương , sao cho việc đầu tư vào máy móc
Trang 27thiết bị có chiều sâu, trên cơ sở tích lũy từ nội lực là chủyếu, cộng với việc đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiêntiến hiện đại và với tinh thần cần cù sáng tạo, thông minh củadân tộc ta sẽ giúp cho công nghiệp Việt Nam nói chung vàngành sản xuất giày dép nói riêng theo kịp trình độ khu vực vàthế giới trong một ngày gần đây.
1.2 - Về quốc gia sản xuất giày dép :
Trang 28Trong những năm đầu thế kỷ 20, việc sản xuất giày déptrên thế giới tập trung chủ yếu ở các nước công nghiệp hàngđầu như Ý, Đức , Mỹ , Pháp Sau đó thêm Liên Xô (cũ ), Nam
Tư, các nước Đông Âu , Ấn Độ Đến những năm gần đây thìviệc sản xuất giày dép trên thế giới đã có nhiều thay đổi ( xem số liệu bảng 1 )
Qua số liệu ở bảng 1 ta thấy : Trong 20 năm từ 1975 đến
1995 tỷ trọng sản lượng giày dép được sản xuất ở các nướccông nghiệp Aâu – Mỹ chiếm trong tổng sản lượng giày dép củathế giới ngày càng có xu hướng giảm dần ( Đức 2,4% trong năm
1975 giảm còn 1,6
% trong năm 1995 , Mỹ 6,6% giảm còn 2,6% , Liên Xô và ĐôngAâu từ 23,9% giảm còn 19,6% .) Trong khi đó các nước đangphát triển, đặc biệt ở Châu Á thì tỷ trọng sản xuất giày déptrong tổng sản lượng giày dép thế giới lại có xu hướng ngàycàng tăng ( Trung Quốc chiếm 3,6% tăng lên 9,7% , Hàn Quốc từ0,5% tăng lên 5,1% , Đài Loan từ 0,4% tăng lên 2,4% )
Điều đó phản ánh xu hướng chuyển dịch trong sản xuấtgiày dép trên thế giới từ các nước công nghiệp phát triểnsang các nước công nghiệp mới và các nước đang phát triểnkhác, đặc biệt là các nước ở Châu Á như Trung Quốc, HànQuốc và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á như Thái Lan,Indonesia và Việt Nam Nguyên nhân là do ngành sản xuất giàydép đòi hỏi sử dụng nhiều lao động, vì vậy khi giá nhân côngngày càng tăng tại các nước công nghiệp phát triển thì lợi thếcạnh tranh về giá cả sản phẩm sẽ không còn nữa, nên cácnước này chuyển sang kinh doanh máy móc, thiết bị sản xuấtgiày dép để tận dụng lợi thế công nghệ, kỹ thuật hoặc chỉtập trung sản xuất các loại giày dép cao cấp, đòi hỏi kỹthuật cao Theo xu hướng phát triển đó, các nước như Thái Lan,Indonesia và Việt Nam trong những thập niên 70, tỷ trọng sảnxuất giày dép chiếm trong tổng sản lượng giày dép thế giới
Trang 29hầu như không đáng kể thì đến thập niên 90 sản phẩm giàydép của các nước này đã có mặt trên thị trường thế giớingang bằng hoặc nhiều hơn các nước có truyền thống sản xuấtgiày dép trên thế giới như Đức, Pháp, Nam Tư , Thổ Nhĩ Kỳ vv và theo số liệu của UNIDO, sản lượng giày dép của các nướccông nghiệp phát triển trong những năm 70 của thế kỷ nàychiếm đến 66% thì đến thập niên 90 chỉ còn 30% Còn càcnước đang phát triển
Trang 30chiếm đến 70% Đặc biệt Trung Quốc chiếm gần 40% sản lượnggiày dép thế giới Sản lượng giày dép xuất khẩu trên thị
trường thế giới ở bảng 2 cho thấy rõ điều này hơn :
Số liệu ở bảng 2 cho thấy : Hiện nay Trung Quốc là mộtnước có lượng giày dép xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới Sovới Ý - Aán Độ và EU là các gia cũng có số lượng giày dépxuất khẩu tương đối lớn thì Trung Quốc vượt trội
Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp kíchthích sản xuất, kết quả dẫn đến nhiều ngành sản xuất trongđó có sản xuất giày dép phát triển rất nhanh chóng Năm
1997 sản lượng giày dép của Trung Quốc đã xấp xỉ 5 tỷ đôi,xuất khẩu được hơn 2,5 tỷ đôi, và đến 1998 con số đó đã là 6,5tỷ đôi, xuất khẩu được 3,2 tỷ đôi Trong đó cơ cấu giày dépxuất khẩu của Trung Quốc tương đối đều ở các loại giày da,giày thể thao , giày vải , sandal và dép các loại trong lúc ViệtNam chủ yếu tập trung ở giày thể thao, dép
2
- TÌNH HÌNH TIÊU THỤ GIÀY DÉP TRÊN THẾ GIỚI :
2.1 - Tình hình chung của các nước :
Việc tiêu thụ giày dép của các nước trên thế giới phụthuộc vào nhiều yếu tố khác nhau , như trình độ phát triển kinhtế, vùng lãnh thổ, thời tiết, thị hiếu, thói quen Ngoài ra lượngtiêu thụ giày dép còn phụ thuộc vào chính sách kinh tế của cácnước cũng như dân số tại các nước đó Theo số liệu của TổChức Phát Triển Công Nghiệp của Liên Hiệp Quốc ở Bảng 3cho thấy : Lượng giày dép tiêu thụ nhiều tại các nước có dânsố đông như Trung Quốc , EU, Mỹ, Aán độ, Nhật bản, Hàn quốcvv Nhưng lượng tiêu thụ bình quân lại cho thấy : các nước cónền kinh tế phát triển luôn tiêu thụ cao hơn các nước khác Vídụ bình quân một người ở Mỹ hoặc Canada tiêu thụ từ 6 đến 6,5đôi/năm, hoặc ở EU, Singapore, Uùc
, Hàn Quốc trung bình từ 4 đến 5 đôi/năm Trong lúc các nướcnhư Aán độ , Indonesia, Việt Nam chỉ đạt trung bình 0,4 đến 0,8
Trang 31đôi/năm Bên cạnh đó các nước Châu Á bị ảnh hưởng bởikhủng hoảng tài chính nên tình hình tiêu thụ có giảm sút , việcnhập khẩu giày dép giảm so với năm trước Số liệu ở Bảng
4 phản ánh tình hình nhập khẩu giày dép một số nước chothấy số lượng tiêu thụ có tăng nhưng không đáng kể , như ởMỹ chẳng hạn , so với năm 96 lượng nhập khẩu tăng 3,76% đếnnăm 98 chỉ tăng 0,9% so với năm 98, trong năm 99 lượng
Trang 32giày dép nhập khẩu vào Mỹ chỉ tăng có 0,6% Hoặc như Ý ,năm 97 so với 96 tăng 18,7% nhưng năm 99 so với 98 chỉ tăng 5,5%
Thậm chí như EU lượng nhập khẩu giảm 2,5 - 2,7% Riêng Trung Quốc ( như phân tích ở phần xuất khẩu, lànước có lượng giày dép xuất khẩu lớn nhất thế giới ) mặc dùcũng có nhập khẩu hàng năm tăng hơn 9%, nhưng chủ yếu lànhập hàng cao cấp, hàng thời trang nhưng chủ yếu đáp ứng thịhiếu của số ít người tiêu dùng, nên ta thấy lượng nhập hầunhư không đáng kể so với sản lượng và phần xuất khẩu củaTrung Quốc Qua số liệu nhập khẩu giày dép của một số nước
ta thấy Mỹ, EU, Nhật và Đức là các thị trường có dung lượngtiêu thụ lớn và là thị trường tiềm năng cho các nước có xuấtkhẩu giày dép
2.2 - Tình hình tiêu thụ của một số thị trường chủ yếu :
Như đã trình bày ở phần trên , số liệu Bảng 4 cho thấyhàng năm Mỹ nhập khẩu xấp xỉ 1,5 tỷ đôi giày dép , EU nhậpkhẩu 700 đến 800 triệu đôi, hoặc Nhật Bản nhập trên 300 triệuđôi là các thị trường có sức tiêu thụ lớn mà các nước xuấtkhẩu giày dép đều phải quan tâm
2.2.1 - Thị trường Mỹ :
Trong những năm qua, mức sản xuất và xuất khẩu giàydép tại Mỹ đang có hiện tượng giảm sút ( số liệu Bảng 1 vàBảng 2 ), trong lúc đó lượng giày dép mà Mỹ nhập khẩu vào lạirất lớn ( Bảng 4 ) Hiện nay theo số liệu của Hiệp hội côngnghiệp giày Mỹ thì Mỹ nhập khẩu hàng giày dép của trên 60nước Số liệu ở Bảng 5 cho thấy kim ngạch nhập khẩu giàydép bình quân hàng năm của Mỹ trong thời gian 5 năm từ 1994đến 1998 là 13 tỷ USD Có nghĩa Mỹ là thị trường tiềm năng tolớn cho các nước xuất khẩu giày dép Trong đó Trung Quốcvẫn là nước xuất khẩu giầy dép hàng đầu vào Mỹ, kế đếnlà Bazil , Ý, Indonesia Riêng Việt Nam , nếu như trong năm
Trang 331994 chỉ xuất được có 40.000 đôi sang đến năm 1995 xuất300.000 đôi đạt kim ngạch 3 triệu USD thì đến năm 1998 xuấtkhẩu đạt kim ngạch trên 50 triệu USD Như vậy ngoài Trung Quốc,Hàn Quốc và Đài Loan , các nước trong khu vực ASEAN như Idonesia,Thailan sẽ là các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam khixuất giày dép vào Mỹ Về chủng loại giày dép tiêu thụ tại Mỹ ,số liệu ở Bảng 6A bà 6B cho thấy : hàng năm Mỹ nhập khẩuxấp xỉ 1,5 tỷ đôi giày dép các loại Trong đó các
Trang 34loái giaøy deùp phi cao su chieâm ñeân 83%, coøn caùc loái giaøy deùp cao
su vaø vại chư chieâm 17%
Veă caùc nöôùc, Trung Quoâc laø nöôùc maø Myõ nhaôp giaøy deùpvaøo nhieău nhaât ( naím 97: 1.018.531.000 ñođi, naím 98:1.082.538.000 ñođi chieâm tyû tróng 70% trong toơng soâ giaøy deùpnhaôp khaơu) Trong luùc Vieôt Nam chư ñát coù 0,23% soâ löôïng nhaôpkhaơu cụa Myõ Ñieău ñoù coù nghóa laø Myõ laø thò tröôøng tieđu thúgiaøy deùp raât to lôùn , nhöng ñeơ cánh tranh vôùi caùc ñoâi thụ mánhnhö Trung Quoâc , Indonesia , Thalan, Ñaøi Laon vv khođng phại laøñieău ñôn giạn Veă chụng loái, tyû tróng caùc loáïi giaøy deùp nöõchieâm tređn 36% keâ ñeân laø giaøy theơ thao chieâm 16 - 18 % , coøngiaøy cao su/ vại vaø giaăy cho thanh thieâu nieđn chieâm 14 - 16% ,ñađy cuõng laø caùc maịt haøng maø Vieôt Nam sạn xuaât vaø xuaâtkhaơu vôùi soâ löôïng lôùn Neâu nhö naím 94 Vieôt Nam chöa phại laønhaø cung öùng giaøy deùp quan tróng cho thò tröôøng naøy thì trongnaím 98 ñaõ laø nöôùc ñöùng vò trí thöù 12 , ñeân naím 99 vöôït leđn vòtrí thöù 11 trong toơng soâ hôn 60 nöôùc vaø vuøng laõnh thoơ xuaât khaơugiaøy deùp vaøo Myõ Ñieău naøy cho thaây tieăm naíng cụa ngaønhgiaøy deùp Vieôt Nam noùi chung vaø TP.Hoă Chí Minh noùi rieđng tái thòtröôøng tieđu thú to lôùn naøy Vôùi mođ hình phaùt trieơn veă xuaâtkhaơu giaøy deùp nhö Indonesia, hó ñaõ xuaât sang Myõ haøng naím 70trieôu ñođi, ñát kim ngách tređn 1tyû USD thì Vieôt Nam phaân ñaâuñát haøng traím trieôu USD laø chuyeôn trong taăm tay neâu nhö coùmoôt chieân löôïc xuaât khaơu hôïp lyù
2.2.2 - Thò tröôøng lieđn minh Chađu Ađu (EU)
Vôùi moôt coông ñoăng cụa 15 nöôùc , dađn soâ khoạng 320Trieôu ngöôøi , thu nhaôp bình quađn cao ( xaâp xư 20.000 USD/ ngöôøi/naím ) , möùc tieđu thú giaøy deùp bình quađn 4,3 ñođi/ngöôøi (naím 96) ,nhö vaôy thò tröôøng EU haøng naím tieđu thú khoạng 1,3 - 1,5 tyû ñođigiaøy deùp, ñađy laø moôt thò tröôøng tieđu thú lôùn Caùc nöôùc thaønhvieđn nhö Ñöùc, Phaùp, YÙ , Tađy Ban Nha coù truyeăn thoâng sạn xuaâtgiaøy deùp ôû trình ñoô kyõ thuaôt cao hieôn ñang sạn xuaât cung caẫp
Trang 35cho các nước thành viên khác và xuất khẩu đi khắp thế giới.Tuy nhiên trong năm 97 sản lượng giày dép của EU sản xuấtgiảm 1,5% , trong đó Pháp, Đức , Ý , Anh giảm sản lượng , chỉ cóTây Ban Nha và Bồ Đào Nha là tăng Về khối lượng xuất khẩu ,
EU bị giảm 4,4% ( xem Bảng 7) , trong đó Mỹ : 30,8% , NewZealand9,1% và Liên bang Nga : 6,8% là 3 thị trường nhập khẩu phần lớngiày dép của EU Khối lượng giày dép xuất khẩu sang EU củacác nước cũng giảm 1,9% ( năm 96 : 808 triệu đôi, năm 97 : 801triệu đôi) Nhập khẩu giày dép chủ yếu của EU
Trang 36là các nước Trung Quốc (chiếm 32,6%), Việt Nam (chiếm 17,1%),Indonesia (10,5%), Thái Lan (4,5%), Đài Loan (4,4%) Việc tiêu thụgiày dép của EU trước mắt là có giảm nhưng trong dài hạnviệc tiêu thụ của EU sẽ gia tăng theo chiều hướng dùng cácsản phẩm có tính thời trang Đây là vấn đề mà các nhà sảnxuất và xuất khẩu của Việt Nam cần lưu ý để có chiến lượcxâm nhập vào thị trường này cho thích ứng Nhất là theo quiđịnh của EU , khi sản phẩm của một nước đạt 25% tổng mứcnhập khẩu hàng năm của EU thì sản phẩm đó không còn đượchưởng ưu đãi về thuế quan
2.2.3 - Một số thị trường tiềm năng khác :
2.2.3.1 - Nhật Bản :
Với dân số khoảng 126,3 triệu , lại là nước có thu nhậpbình quân đâu người cao, năm 97 GDP khoảng 4.200 tỷ USD, mứctiêu thụ giày dép bình quân 3 - 4 đôi/năm/người nhưng do giácông lao động cao nên việc sản xuất giày dép của Nhật ngàycàng thu hẹp, và để đáp ứng nhu cầu, hàng năm Nhật phảinhập khẩu khoảng 350 triệu đôi giày dép Hiện nay Nhật Bảnnhập giày dép chủ yếu từ Trung Quốc (70% thị phần), Indonesia(10% thị phần), Đài Loan (5% thị phần), Korea (3% thị phần ) vàmột số nước khác Việc đưa hàng vào Nhật có thuận lợi dokhông bị khống chế về hạn ngạch nhưng lại đòi hỏi cao nghiêmngặt về chất lượng và một số điều kiện thương mại khác Thídụ : đế giày thể thao phải được dán bằng công nghệ keo PU,không phải công nghệ keo CR Vì vậy năm 97 Việt Nam chỉ xuấtgiày dép sang Nhật được 13 triệu USD, đến năm 98 đạt kim ngạch
27 triệu USD Với thị trường tiềm năng này , các doanh nghiệpcủa Việt Nam cần chú ý để có chiến lưọc phù hợp
2.2.3.2 - Nga và cộng đồng càc quốc gia độc lập (CIS)
Ngoài mối quan hệ lâu đời và hữu nghị với Liên xô cũ,giữa Việt Nam với CHLB Nga và cộng đồng các quốc gia độclập CIS (Commonwealth Independent States) hiện nay vẫn tồn tại
Trang :
20
Trang 37các quan hệ mật thiết trong rất nhiều lãnh vực Có thể nói,với vùng lãnh thổ gồm 300 triệu người này là một thị trườngtiềm năng lớn cho xuất khẩu giày dép Việt Nam Số liệu ởBảng 8 cho thấy trừ một số quốc gia nhỏ như ARMENIA, ESTONIA,LATVIA hay LITVA, MOLDOVA, còn lại NGA, UKAINA, UZBEKISTAN,KAZAKHSTAN đều có
Trang :
20
Trang 38kim ngạch nhập khẩu đáng kể Tuy nhiên do vấn đề thanh toáncó nhiều rủi ro nên các doanh nghiệp chưa thật mạnh dạn đưahàng vào thị trường này Trong tương lai, khắc phục được vấn đềnày thì việc xâm nhập thị trường Nga và các quốc gia độc lậpsẽ mở ra nhiều triển vọng mới cho ngành giầy dép Việt nam.
Tóm lại: Với tình hình sản xuất và tiêu thụ giầy dép trênthế giới và đặc biệt là ở một số thị trường quan trọng đốivới Việt Nam đã đặt ra cho ngành sản xuất và xuất khẩu giầydép nước ta nói chung và TP.Hồ Chí Minh nói riêng rất nhiềuvấn đề : về công nghệ, về cách tổ chức sản xuất, nghiêncứu thị trường vv để có thể đẩy mạnh được sản xuất cũng nhưxuất khẩu và xâm nhập vào các thị trường , nhằm mở ra mộthướng đi mới mẻ và vững chắc cho ngành giày dép của ta
Trang : 38
Trang 39CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
GIÀY DÉP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1
- TÌNH HÌNH CHUNG VỀ NGÀNH GIÀY DÉP Ở VIỆT NAM
1.1 - Sơ lược quá trình phát triển của ngành sản xuất giầy dép :
Vào thế kỷ 15 (1487 thời Vua Hồng Đức), tại nước ta có ba vịtổ nghề giầy dép là các cụ tổ Phạm Quý Công : tự Đức Chính,cụ tổ Nguyễn Quý Công : tự Sĩ Bân, cụ tổ Phạm Quý Công : tựThuần Chinh sinh quán tại Văn Lâm – Trúc Lâm – Tỉnh Hải Hưngđược vua cử đi tòng sứ sang Trung Quốc tìm tòi công nghệ thuộc
da và làm hài hia Khi về nước đã được vua Lê Thánh Tônphong chức Thượng Y Bộ Quốc Giám Khi về hưu ba cụ tổ đượcsắc phong danh hiệu : Bảo Hiệu Linh Phù cho cụ tổ Đức Chính, TíchKhách Linh Phù cho cụ tổ Sĩ Bân và Diên Hựu Linh Phù cho cụ tổThuần Chinh Các cụ tổ đã mang kinh nghiệm học hỏi từ TrungQuốc về tổ chức sản xuất thuộc da, làm hài Việc sản xuấtmang tính chất thủ công và sản lượng vì vậy không đáng kể.Đến thế kỷ 18 - 19 trong thời Pháp thuộc, một số cơ sở tổchức sản xuất các loại giày mang kiểu dáng Tây Aâu, theo cáchthức của Pháp để phục vụ cho nhu cầu các giới làm việc choPháp hay giới thượng lưu giàu có Đến thế kỷ 20
, trước năm 1975 ở Miền Bắc phần lớn giày dép do Liên Xôcũ và Trung Quốc cung cấp, còn trong nước chỉ có một vài cơ
Trang 40sở tổ chức sản xuất một số ít giày vải, dép cao su, giày dépnhựa mà thôi Ở Miền Nam, các cơ sở tư nhân như BATA,VINADA đã sản xuất phục vụ nhu cầu nội địa còn lại có xuấtkhẩu sang một số nước Sau ngày đất nước hoàn toàn thống