1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh bến tre

112 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Ngành Chăn Nuôi Của Tỉnh Bến Tre
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 307,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiềm năng sản xuất của ngành chăn nuôi củaBến Tre còn rất lớn, tuy nhiên do những diễn biến vềgiá cả trên thị trường vài năm trở lại đây có nhiềuvấn đề phức tạp, không ổn định và nhiều b

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ NGÀNH CHĂN NUÔI TRONG PHÁT

TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TẠI TỈNH BẾN TRE

1.1 /

Sản lượng vật nuôi trên thế giới và Việt Nam 11.2 / Điều kiện Tự nhiên – Kinh tế – Xã hội ảnh hưởng đến chăn nuôi

1.3/ Vai trò ngành chăn nuôi trong phát triển Kinh tế –Xãhội tại Bến Tre 6

CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI

TỈNH BẾN TRE

2.1 / Sốlượng các loại vật nuôi tại tỉnh Bến Tre 122.2 /

Chất lượng giống vật nuôi 132.3 /

2.4 /

Thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT

TRIỂN NGÀNHCHĂN NUÔI CỦA TỈNH BẾN TRE

37

3.1 /

Một số dự báo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng 383.2 / Xây dựng hệ thống giống vật nuôi có chất

lượng cao đáp ứng

nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng

nội địa và xuất khẩu

41 3.3/

Chương trình thức ăn chăn nuôi

45

Trang 3

KẾT LUẬN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU



1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI :

Việt Nam là một nước nông nghiệp nằm trong khuvực Đông Nam Châu Á là một vùng khí hậu nhiệt đới,nóng ẩm quanh năm, có tiềm năng và truyền thốngchăn nuôi tương đối phát triển, là một trong nhữngngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Cũng như cả nước, Bến Tre là một tỉnh nông nghiệpthuộc đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhấtnước, đất đai màu mỡ, cây trái xanh tươi, nguyên liệudành cho chăn nuôi hết sức dồi dào, lao động cần cùsiêng năng và sống tập trung ở vùng nông thôn (80% )

do đó tiềm năng phát triển ngành chăn nuôi của BếnTre hết sức thuận lợi

Đã từ lâu, Bến Tre - cũng như các miền tây là mộttrong những tỉnh có số lượng chăn nuôi hàng hóa lớncung cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh, tham gia một phầnvào việc xuất khẩu thịt cho thị trường Nga (qua Công tyVissan của Thành phố Hồ Chí Minh )

Tiềm năng sản xuất của ngành chăn nuôi củaBến Tre còn rất lớn, tuy nhiên do những diễn biến vềgiá cả trên thị trường vài năm trở lại đây có nhiềuvấn đề phức tạp, không ổn định và nhiều bất trắc.Mặt khác, thiên tai, dịch bệnh là một trở ngại lớn do sựphát triển của ngành chăn nuôi ; vấn đề con giống vậtnuôi và thức ăn chăn nuôi, v.v… Đặc biệt là thị trườngtiêu thụ sản phẩm vật nuôi thương phẩm đang cónhững bất hợp lý lớn, là những rào cản khiến chongành chăn nuôi tỉnh phát triển chậm lại so với tốc độcủa những thập niên trước đây

Để hội nhập vào thị trường kinh tế cũng như mởrộng thị trường trong nước, giúp cho ngành chăn nuôi

4

Trang 5

của Tỉnh Bến Tre phát triển trở thành một ngành sảnxuất hàng hóa có quy mô sản lượng lớn, có giá trị kinhtế cao Tăng thu nhập cho người lao động và góp phầnđóng góp ngày càng lớn hơn cho ngân sách, ngành

5

Trang 6

chăn nuôi Bến Tre cần phải có những chuyển biếnlớn mang tính cách mạng, đổi mới sản xuất và côngnghệ, tổ chức tốt việc thu mua, chế biến và tiêu thụsản phẩm, định hướng thị trường v.v Nhằm nâng caohiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sựphát triển chung về kinh tế - xã hội của tỉnh.

Từ mục đích đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài " Một số giải pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi của Tỉnh Bến Tre".

2- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

♦Nghiên cứu hiện trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh

♦Đề ra các giải pháp chiến lược phát triển

♦Kiến nghị về các chính sách của Chính Phủ và Nhà

nước địa phương đối với ngành chăn nuôi

3- PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

Tập trung nghiên cứu về chăn nuôi bò, heo và gia cầm

4- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

♦Sử dụng số lượng chuyên ngành của ngành nông

nghiệp, ngành chăn nuôi của Bến Tre

♦Kế hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh từ 1995 - 2000 và 2000

- 2005

♦Các tài liệu kinh tế, chăn nuôi trong nước và thế giới

♦Phương pháp nghiên cứu : Duy vật biện chứng, lịch sử và phân tích thống

ke

â 5 - KẾT CẤU :

Chương 1 : Vai trò của ngành chăn nuôi trong phát

triển kinh tế - xã hội

Bến Tre

Chương 2 : Hiện trạng ngành chăn nuôi tại Tỉnh Bến Tre.

Chương 3 : Một số giải pháp chiến lược nhằm phát

triển chăn nuôi của Tỉnh Bến Tre

Trang 7

- -CHƯƠNG I VAI TRÒ NGÀNH CHĂN NUÔI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI

TỈNH BẾN TRE

* * *

Trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thếgiới cho dù là các quốc gia phát triển có nền côngnghiệp hiện đại hoặc các quốc gia đang phát triển đềukhông thể thiếu ngành chăn nuôi, vì nó không nhữngtrực tiếp cung cấp thực phẩm cao cấp, giàu protein vànăng lượng cho hoạt động sống của con người mà nócòn là một nền kinh tế hết sức quan trọng gắn liềnvới trồng trọt và công nghiệp chế biến Đặc biệt đốivới các nền kinh tế đang phát triển, cơ sở hạ tầngnông thôn chưa hoàn chỉnh, nông nghiệp là ngành sảnxuất chủ yếu thì chăn nuôi càng có vị trí chiến lượcquan trọng, nó cung cấp một phần sức kéo và phânhữu cơ cải tạo, nâng cao độ phì của đất, tăng năngxuất cây trồng, tận dụng phế phẩm, phụ phẩm củangành trồng trọt mà con người không sử dụng được hoặc

ít sử dụng : tấm, cám gạo, bắp, khoai mì, thân bắp, bãmía, mật phế, cá tạp vv…

Chăn nuôi ngày nay là một ngành sản xuất chínhcủa nhiều quốc gia trên thế giới, nó đem lại nguồn thunhập lớn cho đất nước, đồng thời gòp phần nâng caothu nhập và hiệu quả kinh tế cho nhiều ngành kinh tếkhác

1.1- Sản lượng vật nuôi trên thế giới và Việt Nam :

Sản lượng và tiêu thụ các sản phẩm vật nuôi trên thế giới hiện nay như sau :

Trang 8

Tổng số thịt thương phẩm : 202.650.000 tấn

Trong đó :

- Thịt heo : 83.600.000 tấn ( 41,2% tổng sản lượng thịt)

- Thịt bò, trâu, dê, cừu : 67.510.000 tấn (33,31% tổng sản lượng thịt)

Trang 9

- Thịt gia cầm : 51.250.000 tấn (25,3% tổng sản lượng thịt).Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn sản xuất 109 triệu

tấn bò sữa (đạt 18,16kg sữa/ người/ năm)

Bảng 1 : Sản lượng vật nuôi tại một số nước trong khu vực và Việt Nam

Nguồn : ASIAN FOCUS PROCEEDINGS FAO 1999

Một số xu hướng về sự phát triển ngành chăn nuôi trên thế giới trong

thời gian tới :

Sau năm 2000 dưới áp lực của tình hình gia tăng dânsố, lao động, bảo vệ môi trường và tiềm năng về đấtđai của một số nền kinh tế lớn trên thế giới, các nhàkhoa học đã có một số dự đoán như sau :

+ Các quốc gia phải hạn chế dần mức độ tăngtrưởng của ngành chăn nuôi do sản lượng vật nuôiquá lớn như : Trung Quốc, trong khi đó diện tích

Trang 10

trồng trọt và sản lượng thức ăn hạt cốc tăng chậmhơn, khiến cho nền an ninh lương thực của quốc gia đôngdân nhất thế giới này bị đe dọa Một số các quốc giaChâu Á khác sẽ phải nhập thêm nguyên liệu thức ănđể phục vụ chăn nuôi trong nước (Đài Loan phải nhậphạt cốc từ Hoa Kỳ cho ngành chăn nuôi trong nướchàng triệu tấn/ năm).

+ Các quốc gia có ngành chăn nuôi khá ổn định dogiải quyết tạm đủ thức ăn cho đàn gia súc, gia cầmlà : các nước thuộc khu vực Tây Âu, Nam Mỹ,Hunggary

+ Các nước có khả năng tăng mạnh sản lượngthức ăn hạt, do đó chăn nuôi phát triển và có tốcđộ tăng trưởng cao là : Bắc Mỹ, Nga, Cadacxtan, Tân TâyLan

Ngoài ra, áp lực về bảo vệ môi trường sẽ làmtăng chi phí giá thành sản phẩm vật nuôi tại các nướccó qui mô chăn nuôi tập trung lớn như : Mỹ, Canada, cácnước Châu Âu Mặt khác, dịch bệnh lớn trên đàn giasúc - gia cầm cũng làm cho tốc độ phát triển củangành chăn nuôi giảm

Bảng 2 : Tình hình xuất nhập khẩu thịt heo :

ĐVT : Tấn

TT Xuất

khẩu

Nhập khẩuNước XK Số lượng Nước XK Số lượng

1 Hoa Kỳ 474.000 Hoa Kỳ 287.000

2 Hàn Quốc 70.000 Hàn Quốc 77.000

3 Đan Mạch 470.000 Nhật Bản 773.000

4 Ba Lan 200.000 Nga 444.000

5 Trung quốc 150.000 Hồng Công 178.000

6 Pháp 140.000 Singapore 26.000

7 Hunggary 85.000 Bungari 35.000

Trang 11

8 Rumani 50.000

Nguoàn : SLTK, FAO - 1999

Trang 12

Đối với Việt Nam : Ngành chăn nuôi đã có nhữngphát triển tương đối khá và có tốc độ tăng trưởngnhanh Tuy nhiên, sản phẩm chăn nuôi của Việt Namchủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa, xuất khẩu chưađáng kể Chất lượng sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩnquốc tế : Hàm lượng dinh dưỡng thấp, vệ sinh thựcphẩm kém giá thành sản xuất quá cao do đó tính cạnhtranh trên thị trường quốc tế thấp.

Tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi hàngnăm của nước ta là : 5,7% đối với đàn heo, 2,2% đốivới bò và 3,1% đối với đàn gia cầm Trong tương lai, dođời sống, thu nhập của các tầng lớp dân cư ngày càngđược nâng cao, nhu cầu về thực phẩm cao cấp ngàycàng lớn sẽ tác động làm cho tốc độ tăng trưởng củangành chăn nuôi phát triển nhanh hơn Để thực hiệntốt vai trò của mình trong nền kinh tế, ngành chăn nuôicủa Việt Nam không những phải vươn lên để đáp ứngnhu cầu thực phẩm tiêu dùng nội địa mà còn phảitiến tới xuất khẩu sản phẩm để cân đối cung - cầu,đảm bảo sự ổn định mặt bằng giá cả, giữ vững vàtăng dần tốc độ tăng trưởng Chính vì vậy, ngoài việcnghiên cứu, đầu tư về mặt kỹ thuật, phát triển sảnxuất, ngành chăn nuôi phải thật sự chú trọng hơn đếnviệc tìm hiểu, nghiên cứu thị trường tiêu thụ sảnphẩm, vì quá trình lưu thông hàng hoá chính là giai đoạncuối của một chu kỳ sản xuất, nó lại trở thành tiềnđề cho chu kỳ sản xuất kế tiếp, bảo đảm cho hoạt độngsản xuất diễn ra liên tục Với quan điểm, nhận thứcvấn đề như vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu sự phát triểncủa ngành chăn nuôi trên cả hai lĩnh vực : sản xuất vàtiêu thụ

Khẳng định về vị trí, vai trò của ngành chăn nuôi của nước ta, Nghị quyết 6

Trang 13

- Bộ Chính trị TW Đảng ngày 10/11/1998 trong phần phươnghướng phát triển nông nghiệp có đề cập : Trong chănnuôi phải chú trọng công tác giống, chế biến và thịtrường xuất khẩu Trong phương hướng nhiệm vụ và chủtrương biện pháp đẩy mạnh chăn nuôi của Bộ nôngnghiệp và phát triển nông thôn cũng đề

Trang 14

ra mục tiêu cụ thể : Ngành chăn nuôi trong kế hoạch

2005-2010 phải đạt tỷ trọng trên 30% giá trị sản phẩm nông nghiệp

Qua nghiên cứu, lợi thế so sánh của Việt Nam vềsản phẩm hàng hóa của ngành chăn nuôi còn rấtthấp trên thị trường quốc tế Trong khi một số nướctrong khu vực như :Trung Quốc có sản lượng thịt bình quânnăm đạt 39,8 kg/ người; Thái Lan: 25,7 kg/người; Philippin:

24,9 kg/ người Đồngthời, đó cũng là các nước có tổng sản lượng thịthàng hoá rất cao, thì Việt Nam mới đạt được chỉ tiêu18,8 kg/ người/ năm, chưa bằng 50% số thịt bình quân/người và xấp xỉ 3% so tổng sản lượng thịt thương phẩmhàng năm của Trung Quốc Đây chính là các đối thủcạnh tranh khá nặng ký đối với sản phẩm ngành chănnuôi của Việt Nam trên cả thị trường quốc tế và quốcnội Năm 1997, gà con của Thái Lan và năm 1999 trứnggà của Trung Quốc tràn qua biên giới đã làm phá sảnhàng loạt các Công ty giống gia cầm, của Việt Nam làmột bài học đáng ghi nhớ để chúng ta có định hướngthích hợp cho chiến lược phát triển ngành chăn nuôitrong những năm sắp tới

Trong bối cảnh chung ngành chăn nuôi của cảnước, là một tỉnh nông nghiệp, Bến Tre có nhữngđiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hết sức thuận lợinhưng cũng không ít khó khăn cho việc phát triểnngành chăn nuôi một cách toàn diện, vững chắc vàcó hiệu quả

1.2- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi tỉnh Bến Tre :

Về điều kiện tự nhiên :

Bến Tre có diện tích tự nhiên gần 2.300km2; dân số1.302.000 người, trong đó có gần 80% dân cư thuộc khu

Trang 15

vực nông nghiệp - nông thôn Diện tích gieo trồng lúatrên 100.000 ha, sản lượng lúa : 355.500 tấn Diện tíchtrồng mía :

12.500 ha, sản lượng 794.000 tấn mía cây Sản lượng dừa đạt 213 triệu trái/ năm Trái cây các loại khoảng 300.000 tấn đến 330.000 tấn, diện tích trồng bắp

Trang 16

khoảng 10.000 ha, có sản lượng 40.000 tấn/ năm Nghềnuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đạt 81.000 tấn.Ngoài ra, với địa hình sinh thái đa dạng, nguồn nước dồidào phong phú, khí hậu nóng ấm quanh năm và tươngđối ôn hòa là môi trường lý tưởng cho đời sống củanhiều loại sinh vật, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi chosự phát triển cho một nền nông nghiệp toàn diện nóichung và chăn nuôi nói riêng.

Bến Tre có nhiều nhà máy và cơ sở chế biến nôngsản và hải sản Nếu tính chung sản lượng bắp, tấmcám, mật rỉ đường, bánh dầu dừa, hèm bia, bã rượu,xác nha, cá tạp v.v có thể dùng vào việc chế biếnthức ăn chăn nuôi thì Bến Tre có đủ nguyên liệu chosản xuất hàng trăm ngàn tấn thức ăn cho gia súc, giacầm mỗi năm

* Về điều kiện kinh tế - xã hội :

Nhìn chung, Bến Tre vẫn là một tỉnh nghèo so với khuvực đồng bằng sông Cửu Long, cơ sở hạ tầng nôngthôn chưa hoàn chỉnh, mức độ cơ giới hoá trong sảnxuất nông nghiệp chưa cao Trừ một số vùng sản xuấtnông sản hàng hoá tập trung như mía, dừa, nhãn Cònlại phần lớn các vùng nông thôn vẫn ở trong trạngthái sản xuất nhỏ lẻ, manh mún theo kiểu tự cấp tựtúc là chủ yếu Năng suất cây trồng, vật nuôi thấp.Mỗi năm Bến Tre có khoảng 20.000 - 25.000 người bướcvào độ tuổi lao động làm tăng thêm áp lực về việclàm đối với xã hội Hiện tại, mức thất nghiệp là 17%trong độ tuổi lao động, chưa tính số ngày nông nhàn giữavụ, phần lớn người lao động không có việc làm và coinhư bán thất nghiệp, do đó chương trình giải quyết việclàm và dạy nghề tại chỗ ở Bến Tre đang phát triểnmạnh Trong hoàn cảnh đó, chăn nuôi đang có xuhướng trở thành một ngành sản xuất thu hút một số

Trang 17

lượng khá lớn lao động ở nông thôn góp phần xóa đóigiảm nghèo và tăng thêm thu nhập cho người nông dân.

1.3- Vai trò ngành chăn nuôi trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre

:

Trang 18

Vai trò ngành chăn nuôi của tỉnh Bến Tre được thể hiện các mặt sau :

Một l à : Là nguồn thu nhập khá lớn của dân cưtại các vùng nông thôn, đóng góp một phần đáng kểvào ngân sách Thông thường, chăn nuôi ở gia đình chủyếu là tận dụng phụ phế phẩm sau chế biến nông sảnvà thực phẩm, chi phí đầu tư không quá lớn nên hầuhết các hộ nông dân đều tổ chức chăn nuôi với quinhỏ Tính trên toàn tỉnh, giá trị sản lượng của ngànhchăn nuôi lên tới hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm

Bảng 3 : Cơ cấu giá trị sản lượng của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp tại Bến Tre 1996 - 2000

Chỉ tiêu ĐVT Thực

hiện

1996 1997 1998 1999 Ước

2000 Tổng giá trị sản

Trồng trọt % 72,60 70,3

0 70,30 69,80 69,10 Chăn nuôi % 27,40 29,7

0 29,70 30,20 30,90

Nguồn : Cục thống kê Bến Tre, 2000 (giá SS 1995)

Như vậy, tỷ trọng giá trị sản lượng của ngành chănnuôi trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp củatỉnh Bến Tre cao hơn mức bình quân chung của cả nước(Hiện nay mới đạt được 22%)

Trang 19

địa bàn nông thôn, lao động không có việc làm thườngxuyên Mặt khác, sự gia tăng dân số, lao động hàngnăm ở khu vực nông thôn là rất lớn áp lực về việclàm đối với xã hội ngày càng gia tăng.

Bảng 4 : Dân số và lao động của Bến Tre 1996 2000

-STT Chỉ tiêu ĐVT 1996 1997 1998 1999 Ươ

ùc 200

1 Dân số Ngươ

øi

1.283.8

23

1.288.6

69

1.293.47

6

1.302.7

88

1.316.3

54

2 Số người

trong độ

tuổi lao

Người

768.152

791.373

815.152

840.840

868.564

3 Số lao động

có việc

làm thường

xuyên

Người

631.979

642.899

653.880

679.647

687.052

4 Số lao động

được giải

quyết việc

làm/năm

Người

18.000

21.152

23.554

29.208

20.000

5 Tỷ lệ thất

Nguồn : Cục thống kê Bến Tre 1999

Rõ ràng việc phát triển chăn nuôi mạnh mẽ và cóhiệu quả sẽ có tác dụng làm giảm áp lực về thấtnghiệp và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ởnông thôn

Ba

l à : Ngành chăn nuôi góp phần tích cực vào sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn Do tính chất hoạt động, ngành chăn nuôi

19

Trang 20

ngày càng đòi hỏi phải đầu tư kỹ thuật cao cho việcchế biến thức ăn gia súc,

20

Trang 21

chế biến thực phẩm và bảo vệ môi trường Do đó,chính yêu cầu cần thiết của quá trình phát triển nềnkinh tế Bến Tre đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phải vươnlên, đóng vai trò là một ngành kinh tế đi tiên phongtrong quá trình cơ giới hóa, tự động hóa hiện đại hóasản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Bốn la ø : Quá trình đổi mới nền kinh tế đã từngbước cải thiện đời sống nhân dân, nhu cầu tiêu dùngthực phẩm có nguồn gốc từ động vật ngày càng tăng.Bến Tre là một tỉnh có điều kiện rất thuận lợi đểphát triển chăn nuôi hàng hóa vừa có nhiệm vụ cungcấp thực phẩm giàu protein bồi bổ sức khỏe, trí tuệ,nâng cao chất lượng lao động xã hội, vừa góp phầnđảm bảo tính cân đối trong nông nghiệp nói riêng vàtrong nền kinh tế nói chung

Năm l à : Ngành chăn nuôi có vai trò làm động lựcthúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển Tại BếnTre ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chủyếu là chế biến nông sản, thủy hải sản Trong đó cónhiều cơ sở chế biến dầu dừa, nước mắm, xay xát gạo,thuỷ sản xuất khẩu, đường, bánh kẹo v.v… Các loại chếbiến từ nông sản lại trở thành chính phẩm phục vụ chochế biến thức ăn gia súc cho ngành chăn nuôi Phầnlớn những cơ sở chăn nuôi có qui mô lớn tại Bến Trelà những hộ gia đình có nhà máy xay xát gạo, chế biếnđường, làm nha và các cơ sở chế biến thực phẩmkhác Những phế phẩm loại bỏ sau chế biến nông sảnnếu có bán ra ngoài thị trường cũng không có giá trịđáng kể nhưng sử dụng chúng để chuyển sang chănnuôi thì sẽ đem lại cho các cơ sở sản xuất này hàngtrăm triệu đồng mỗi năm

Như vậy, chăn nuôi đã nghiễm nhiên trở thành mộtcông đoạn kế tiếp của công nghiệp chế biến, nâng caothu nhập cho rất nhiều cơ sở chế biến nông sản, thủyhải sản, chăn nuôi đã làm nhiệm vụ như nhà máychế biến khổng lồ tiêu thụ những nguyên vật liệu rẻ

Trang 22

tiền nhất để cho ra những sản phẩm có giá trị nhấtphục vụ cho con người.

Đồng thời chính những vật phẩm của ngành chănnuôi sau khi chế biến, phần chủ yếu là thực phẩmtiêu dùng, một bộ phận còn lại được dùng làmnguyên liệu cho công nghiệp : da để làm giày, sừnglàm thủ công mỹ nghệ,

Trang 23

xương được chế tạo thành bột xương cho tổ hợp khẩuphần thức ăn gia súc Có thể nói chăn nuôi là mộtngành sản xuất không thể thiếu được trong nền kinh tếnói chung và trong hệ thống các ngành chế biến nôngsản thực phẩm nói riêng tại Bến Tre.

Sáu l à : Đối với trồng trọt, chăn nuôi càng có vaitrò quan trọng trong việc cung cấp một phần sức kéo vàphân bón hữu cơ Nhiều vùng chuyên canh cây ăn tráivà cây rau màu không thể thiếu nguồn phân hữu cơđể chăm bón cho cây, nâng cao năng suất cây trồngmột cách ổn định, kéo dài vòng đời kinh tế của cácloại cây lâu năm Mặt khác, rất nhiều phế phẩm, phụphẩm của ngành trồng trọt phải loại bỏ sau khi thuhoạch nếu không được gia súc sử dụng thì không nhữngmất đi một nguồn thu nhập lớn mà còn tốn công xửlý như đối với nguồn rác thải Ngược lại, sau khi đượcngành chăn nuôi chế biến để dùng làm thức ăn giasúc, các phế, phụ phẩm đó sẽ tạo nên một loại sảnphẩm cao cấp có giá trị kinh tế cao Trong lĩnh vực này,chăn nuôi có vị trí như một ngành sản xuất bổ sungluôn luôn tồn tại song song cùng ngành trồng trọt

Bảy l à: Chăn nuôi có vai trò góp phần bảo vệmôi trường môi sinh Cùng với đà tiến bộ của khoa họckỹ thuật, việc áp dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiếncó hệ thống trang thiết bị điện hiện đại trong chế biếnthức ăn gia súc, chế biến thực phẩm và xử lý nướcthải theo hình thức chăn nuôi công nghiệp của các trangtrại lớn đang dần hình thành ở Bến Tre đã góp phầnlàm sạch môi trường môi sinh Mặt khác, với khả năngbẩm sinh và hệ thống tiêu hóa đặc biệt, một số loàiđộng vật có thể được dùng để tiêu diệt các loại sâubọ có hại cho cây trồng thay cho hóa chất độc hại TạiBến Tre nhiều vùng trồng cây ăn trái được khuyếnkhích nuôi gà thả vườn với mật độ thích hợp đã làmgiảm sâu rầy, tăng năng suất cây trồng rõ rệt Việc

Trang 24

nuôi vịt đàn trong ruộng lúa theo một qui trình nhất địnhcũng đem lại kết quả tương tự.

Tóm lại trong nền kinh tế của Việt Nam nói chung vàBến Tre nói riêng, chăn nuôi có một vai trò vô cùngquan trọng Dù cho quá trình đô thị hóa đang phát triểnnhanh nhưng trong một tương lai lâu dài nữa, nông nghiệpvẫn là một

Trang 25

trong những ngành kinh tế chủ yếu, trong đó ngành chănnuôi là một ngành kinh tế chiến lược có vị trí trọngyếu trong nền kinh tế của tỉnh, nó góp phần giảiquyết một loạt các vấn đề đang đặt ra cho sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của Bến Tre: nâng cao thunhập của ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm tạichỗ cho lao động nông nghiệp nông thôn trong điềukiện đất đai canh tác giảm dần và dân số tăng cao.Tuy nhiên, ngành chăn nuôi của tỉnh trong những nămqua chưa phát huy được hết vị thế của nó trong nền kinhtế cũng như chưa tận dụng được tiềm năng hết sức tolớn về nguyên liệu, lao động và điều kiện thiên nhiên

ưu đãi Đó chính là một sự lãng phí tài nguyên hết sứcđáng tiếc Vai trò ngành chăn nuôi của tỉnh chưa đượcnhận thức đầy đủ chưa có sự đầu tư đúng mức Do đó,mặc dù có một bước phát triển về kỹ thuật, côngnghệ nhưng xét về thực chất, ngành chăn nuôi vẫncòn ở trong tình trạng tự cấp tự túc, sản phẩm chủyếu là tiêu dùng nội địa, tính cạnh tranh trên thịtrường quốc tế thấp xuất khẩu không đáng kể, hiệuquả kinh tế rất thấp, lỗ lã, rủi ro nhiều Đặc biệt, giáthành sản xuất trong chăn nuôi công nghiệp còn rấtcao, trong khi đó việc thu mua, chế biến sản phẩm chănnuôi chưa được chú ý đúng mức đã kìm hãm tốc độtăng trưởng của ngành chăn nuôi

Nhận thức đầy đủ vị trí vai trò và những nguồn lựctài nguyên: thức ăn, môi trường, lao động v.v củangành chăn nuôi cũng như xác định cơ cấu hợp lý củacác loài vật nuôi là một vấn đề có ảnh hưởng rấtlớn có tính quyết định của các định hướng chiến lược:Đầu tư tài chính công nghệ, môi trường, sản xuất, chếbiến và tiêu thụ sản phẩm … Chính vì vậy, để cónhững quyết sách đúng đắn nhằm phát triển ngànhchăn nuôi, việc nghiên cứu một cách toàn diện vaitrò của nó đối với nền kinh tế nói chung và trong

Trang 26

nông nghiệp nói riêng là một vấn đề cần được xemxét hết sức khách quan và nghiêm túc.

Trang 27

CHƯƠNG II:

HIỆN TRẠNG NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI

TỈNH BẾN TRE

2.1- Số lượng các loại vật nuôi tại tỉnh Bến Tre :

Ngành chăn nuôi tại tỉnh Bến Tre có các loại vật

nuôi phổ biến là heo, bò và gia cầm

Bảng 5 : Số lượng các loại vật nuôi tạm Bến Tre

260 272 286 302 318

2 Đàn trâu

1.000con

3 Gia cầm 1.00

0con

4.300

4.423

4.560

4.700

4.800Trong đó :

Gà 1.00

0con

2.606

2.780

2.867

2.954

3.000

Vịt 1.00

0con

1.694

1.643

1.693

1.746

1.800

Nguồn : trung tâm giống gia súc - gia cầm tỉnh Bến Tre

So sánh với cả nước và khu vực, Bến Tre có số

đầu con gia súc / người thuộc vào loại khá so với khu vực và bằng mức bình quân chung của cả nước

Theo số liệu của Cục Khuyến

nông năm 1999: Cả nước có :

18.132.084 con heo

Trang 28

Trong đó :

Phía Bắc : 11.578.547

con Phía Nam :

6.553.537 con Bến Tre

: 302.000 con

Nguồn: Cục Khuyến nông, 1999

2.2- Chất lượng giống vật nuôi:

Chất lượng giống vật nuôi có vị trí hết sức quantrọng có tính quyết định đến hiệu quả kinh tế củangành chăn nuôi vì nó ảnh hưởng rất lớn đến năngsuất, chất lượng sản phẩm và giá cả tiêu thụ vật nuôihàng hóa

♦Giống heo :

Tại Bến Tre, mặc dù đã có khá nhiều giống heocó chất lượng tốt, tỷ lệ nạc cao được nhập vào để cảithiện quầy thịt góp phần nâng cao hiệu quả kinh tếtrong chăn nuôi Tuy nhiên, do những biến động về giácả thị trường và chính sách đầu tư, đàn heo giống nạcchưa được phổ biến sâu rộng và chiếm một tỷ lệ rấtnhỏ so với tổng đàn

Bảng 6 : Chất lượng các loại giống heo tại Tỉnh Bến Tre

lượng

Tỷ lệ

%/tổng

Tỷ lệ nạc/quầ

3 Heo lai ngoại

nhiều đời (trên

Trang 29

Nguoàn : Trung taâm gioáng gia suùc – gia caàm Beán Tre 1999

Trang 30

Qua bảng trên chúng ta thấy trong lĩnh vực về côngtác giống, việc tồn tại trên 50% giống heo địa phươngcó tỷ lệ nạc quá thấp đã khiến cho ngành chăn nuôitỉnh bị mất đi phần lợi nhuận không nhỏ do chênhlệch giá tiêu thụ sản phẩm thịt nạc và mỡ Mặt khác,

do không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, mức độ thiệt hạisẽ tăng lên kìm hãm quá trình sản xuất và lưu thôngsản phẩm chăn nuôi

Vấn đề là phải tăng tỷ lệ nuôi heo có tỷ lệ nạccao bao gồm nhóm heo 100% máu ngoại và lai trên 70%máu ngoại Lợi ích thì đã quá rõ do mỗi tạ heo giống nạccó giá cao hơn heo địa phương khoảng 100.000đ, nhưng đâylại là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn vì nó liên quanđến một loạt các giải pháp : kỹ thuật, công nghệ, đầu

tư, tổ chức sản xuất – tiêu thụ sản phẩm và các chínhsách tài chính Ngay từ đầu những năm 1990, chươngtrình nạc hóa đàn heo của tỉnh đã được hoạch định baogồm các nội dung sau :

• Phát động phong trào nuôi heo giống nạc, chủ yếu là cung

cấp các loại giống heo có gốc Âu, Mỹ như : Landrace,Duroc, Yorshire,…

• Phổ biến chương trình gieo tinh nhân tạo “làm tươi máu” đàn

heo – dùng tinh heo đực giống ngoại gieo tinh cho đàn náigiống tại các địa phương

• Nhập 100 heo giống gốc từ Nhật Bản cho trại giống quốc

doanh nhằm xây dựng trại hạt nhân cung cấp giống heocho chăn nuôi trong tỉnh

Chương trình được tiến hành trong 3 năm (1992-1995)nhưng kết quả không đạt được mục tiêu đề ra Một sốkết quả ban đầu rất hạn chế, đó là :

• Bước đầu đặt nền móng cho quá trình nạc hóa đàn heo

bằng việc đưa một số heo giống nạc có chất lượng cao

Trang 31

về tỉnh để thuần hóa, nuôi dưỡng và cung cấp đượcmột số heo giống tốt cho một số vùng như: trại giốngquốc doanh, vùng ven thị xã.

• Tập cho người chăn nuôi có nhận thức ban đầu và làm

quen với kỹ thuật gieo tinh nhân tạo

Trang 32

• Xây dựng được một trại giống heo có qui mô 100 heo nái

sinh sản, tạo cơ sở để nâng cấp trại giống sau nầy

Tuy nhiên, “chương trình nạc hóa đàn heo” dù hếtsức đúng đắn và thiết thực, đã không thành công :80% heo giống mới nhập về trại đã chết hoặc bị loạithải do không đạt được các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật.Trạm thụ tinh nhân tạo ngừng hoạt động do không tiêuthụ được sản phẩm

Chất lượng và chủng loại giống trâu b ò :

Qua điều tra của Sở nông nghiệp – phát triển nôngthôn 1999, các giống trâu bò hiện có trên địa bàntỉnh như sau :

Bảng 7 : Chất lượng và chủng loại giống trâu bò tại Bến Tre

á lượn

Tăngtrọng/con/năm (kg)

Tỷ lệ

% so tổng đàn

3 Bò địa phương

Đây là giống bò được nuôi để phục vụ cho mục đíchsử dụng sức kéo và giết thịt Trong cùng điều kiệnnuôi dưỡng, chúng có thể cho năng suất gấp 1,5 đến 2lần so với giống bò địa phương Chất lượng thịt bò laiSind rất cao do có hàm lượng Protein cao, quày thịt cómàu đỏ tươi màu anh đào do có nhiều sắt, rất hợp thị

Trang 33

hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước Mặt khác,với loại vật nuôi dễ tính như bò có đặc tính tiêu hóađược các loại thức ăn thô xanh từ 60% đến

Trang 34

85% khẩu phần và các loại phụ phẩm, phế phẩm trongquá trình chế biến nông sản Với một tỉnh có tiềmnăng về chăn nuôi bò như Bến Tre thì số lượng và chấtlượng đàn bò hiện có quá ít ỏi và lãng phí.

Các loại giống gia cầm :

Ngoại trừ một số loại vịt siêu trứng và gà tàuthả vườn giống mới (Tam Hoàng, Lương Phượng, TL95,…)chiếm khoảng 10% tổng đàn (khoảng 400.000 con) thìchủ yếu vẫn là các loại giống cũ đã nuôi khá lâu đời

ở Bến Tre như : Gà tạp giao, vịt Bắc Kinh, vịt Hà Lan cổlùn, vịt Anh Đào, vịt đàn,… Các loại gia cầm nầy cóđặc tính dễ nuôi, rất thích hợp với việc nuôi thả tự do,khéo nuôi con, giỏi kém mồi và cho quầy thịt săn chắcthơm ngon Tuy nhiên năng suất thịt và trứng rất kém,thời gian nuôi dưỡng kéo dài, lợi nhuận rất thấp Gầnđây, Trung tâm giống gia súc – gia cầm của tỉnh vàtrung tâm khuyến nông có cung cấp và giới thiệu mộtsố con giống mới cho năng suất cao, chủ yếu là gà tàuhướng thịt, vịt hướng trứng nuôi theo hình thức báncông nghiệp, nhưng do thị trường biến động quá lớnnên người chăn nuôi lại trở về với phương pháp nuôitruyền thống, tự cấp, tự tùc là chủ yếu, vì nuôi gà, vịttheo phương pháp công nghiệp đòi hỏi đầu tư rất lớn,rủi ro cao hơn rất nhiều so với chăn nuôi gia súc khác.Tóm lại, trên đây chúng ta đã xem xét một sốnét cơ bản tình hình chăn nuôi của tỉnh Tuy nhiên, yếutố tác động có tính quyết định đến hiệu quả củangành chăn nuôi trước mắt cũng như lâu dài lại làcác hoạt động có tính chất dịch vụ : cung cấp thức ăn,thú y, công tác chuyển giao kỹ thuật cho người chănnuôi, tiêu thụ sản phẩm và vai trò của Nhà nước trongquản lý, định hướng sản xuất, dự báo, thông tin, v.v…nhằm giúp cho người chăn nuôi có đủ điều kiện sản

Trang 35

xuất và tiêu thụ sản phẩm do mình làm ra đạt được hiệuquả cao nhất.

2.4 Dịch vụ phục vụ chăn nuôi :

Trang 36

Chăn nuôi có các loại hình dịch vụ cơ bản như sau :Cung cấp con giống ; thức ăn chăn nuôi ; thú y, thu mua,chế biến, tiêu thụ sản phẩm và chuyển giao kỹ thuật –công nghệ chăn nuôi.

Dịch vụ cung cấp giống vật nuôi :

Từ năm 1995, trại giống vật nuôi của tỉnh đã đượccủng cố lại theo hướng tập trung vào nhiệm vụ sảnxuất và cung ứng các loại giống vật nuôi, làm hạtnhân cho sự phát triển của ngành chăn nuôi trong tỉnh

Bảng 8 : Tình hình hoạt động của trại giống quốc doanh trong những năm qua ( 1995-1999 )

TT Khoản mục ĐVT 1995 1996 1997 1998 1999

1 Qui mô tổng

1.1 Heo nái sinh

2175

3000

3200

0

14400

135000

14000

+43000

2 0

Trang 37

Các loại giống heo :

- Landrace

- Duroc

- Yorshire

- Lai 2 hoặc 3 máu từ các dòng trên

Các giống heo này có tỷ lệ nạc cao từ 52% đến54%, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Tuy nhiên, về mặt sốlượng, tỷ lệ đầu heo của trại giống so với tổng đàn heocủa tỉnh chưa đạt được 1% Do đó, vấn đề nạc hóa đànheo của tỉnh nếu chỉ đặt nặng vào các chỉ tiêu vềsố con giống do trại giống trực tiếp cung cấp hàng nămthì rất khó thực hiện được chương trình mục tiêu đã định.Có người đặt vấn đề là phải đầu tư mở rộng vànâng cấp trại giống quốc doanh theo hướng tăng qui môtổng đàn lên vài ngàn heo nái sinh sản (nhu cầu về náisinh sản để cung cấp heo con cho chăn nuôi của tỉnhvào khoảng 20.000 nái: 25.000 nái ) ở những nước tiêntiến, có nền công nghiệp phát triển mạnh như Hoa Kỳ,Canada có những trại heo hạt nhân và một hệ thốngtrại nhân giống có qui mô hàng chục ngàn con Tuynhiên, trong điều kiện tài chính và thị trường như ở ViệtNam nói chung và Bến Tre nói riêng thì việc đầu tư chănnuôi tập trung như vậy chưa thể thực hiện được vì quá ưmạo hiểm về mặt tài chính (mỗi con heo nái giống ngoạikhi đầu tư nuôi công nghiệp sẽ cần một ngân khoản 10triệu VNĐ bao gồm con giống, chuồng trại xử lý nướcthải, chi phí nuôi dưỡng đến khi khai thác.v.v… chưa tínhtiền sử dụng đất) Mặt khác với một thị trường màgiá cả sản phẩm chăn nuôi đầy biến động, bất trắcnhư chúng ta thường gặp trong những năm qua thì việcmở rộng qui mô trại giống là một vấn đề hết sứcđáng lo ngại, không có tính khả thi

37

Trang 38

Cung cấp gà giống : Trại giống quốc doanh cũng

đã có cố gắng nhập và sản xuất được một số giống gà cho năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều

38

Trang 39

kiện chăn thả và tiêu thụ tại thị trường trong và ngoàitỉnh Tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, giá cả congà quá thất thường nên trong những hoạt động này,trại giống cũng đang lao đao xoay trở để tồn tại.

Tổ chức phát triển vùng giống trong dân :

Đây chính là một bộ phận của đề tài “Một sốbiện pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi của tỉnhBến Tre” do chúng tôi nghiên cứu và thực hiện có tínhchất thử nghiệm khi bắt đầu nghiên cứa nhằm xâydựng một mô hình cho hệ thống nhân giống mới chongành chăn nuôi với chi phí thấp nhất, có khả nănghoạt động hữu hiệu trong cơn lốc của cơ chế kinh tế thịtrường - mô hình này sẽ thay thế cho mô hình nhângiống tập trung kiểu cũ, đồng thời, khắc phục được tìnhtrạng hỗn loạn” trong sản xuất con giống hiện nay

+ Mục tiêu của mô hình : Qui hoạch và xây dựngmột số vùng chuyên sản xuất giống trong dân nhằmđáp ứng được nhu cầu về con giống cao sản cung cấpcho ngành chăn nuôi của tỉnh

+ Nhiệm vụ cụ thể của các vùng giống :Tiếp nhận con giống bố mẹ của trại giống gốc Congiống được giao cho các hộ gia đình có kinh nghiệm vàđủ điều kiện sản xuất con giống thương phẩm đời sauđể sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho ngườichăn nuôi trên diện rộng

- Lập danh sách thống kê các loại giống vật nuôicó phẩm chất tốt để trại giống có kế hoạch lai tạonâng cao hơn nữa chất lượng đàn giống thương phẩm

- Tập huấn kỹ thuật cho người chăn nuôi và tiếpnhận các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật do trạigiống và Trung tâm khuyến nông tổ chức trình diễn, hỗtrợ

Trang 40

- Nhân giống bố mẹ, chọn lọc và cải tạo các loạigiống địa phương, mở rộng vùng giống theo kế hoạchnhằm thay thế các loại giống cũ đã thoái hóa, kémphẩm chất bằng đàn giống mới có chất lượng cao, tiếntới có đủ con giống

Ngày đăng: 27/08/2022, 16:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w