Sơ đồ 1: BÁNH XE CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH Danh mục sản phẩm Thị trường mục tiêu Marketing Tài chính MỤC TIÊU và kiểm soát Nghiên cứu và triển khai Kinh nghiệm về việc hãng sẽ cạnh tranh n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HÀ THỊ MINH CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH VÀ NGÀNH XÂY DỰNG
Chương này đề cập đến những nền tảng lý thuyết chủ yếu được dùng để phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng tại các công ty TNHH xây dựng, từ đó thiết kế chiến lược cạnh tranh Nội dung chương 1 bao gồm cơ sở lý luận về chiến lược cạnh tranh và ngành xây dựng.
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra thườngxuyên và ngày càng trở nên quyết liệt Như quy luật đấu tranh sinh tồn củagiới tự nhiên, cạnh tranh được xem là động lực phát triển của nền kinh tế Tuynhiên, cạnh tranh trong kinh doanh không phải là hoạt động tự phát mà thường đitheo một phương thức riêng được mỗi doanh nghiệp vạch ra Đó chính là chiến lượccạnh tranh Trước khi đi vào chi tiết vấn đề này, việc tìm hiểu các khái niệm cơbản sau là cần thiết
• Cạnh tranh (Competition)
Sự đối nghịch giữa các doanh nghiệp kinh doanh trên cùng một thị trường đểgiành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân doanhnghiệp thường là cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chấtlượng hàng hóa tốt nhất
• Chiến lược (Strategy)
Cách thức theo đó doanh nghiệp cố gắng thực sự để có một sự khác biệt rõràng so với đối thủ cạnh tranh, tận dụng các sức mạnh liên hiệp của mìnhnhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng
• Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy)
Theo Michael E Porter, chiến lược cạnh tranh là sự kết hợp giữa các kết quảcuối cùng (mục tiêu) mà doanh nghiệp đang tìm kiếm và các phương tiện(chính sách) nhờ đó doanh nghiệp cố gắng đạt đến mục tiêu trên Sau đâylà một công cụ để tóm lược các lĩnh vực trong chiến lược cạnh tranh của doanhnghiệp
Sơ đồ 1: BÁNH XE CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
Danh mục sản phẩm
Thị trường mục tiêu
Marketing
Tài chính MỤC TIÊU và
kiểm soát
Nghiên cứu và triển khai
Kinh nghiệm về việc hãng sẽ cạnh tranh như thế nào
Các tiêu về nhuận, thị phần, trách nhiệm xã hội
Tiêu thụ
Phân phối
Mua vật tư
Lao động
Sản xuất
Như vậy, hoạch định chiến lược cạnh tranh không chỉ được hiểu trong giới hạn của
việc xây dựng một chiến lược “đặc thù” hay “chuyên sâu”, mang tính chất đơn
lẻ để đạt đến một mục tiêu nhất định, mà với ý nghĩa tổng quát hơn, chiếnlược cạnh tranh chính là một mô hình tổng thể về việc doanh nghiệp sẽ cạnhtranh như thế nào, mục tiêu là gì và những chính sách cần có để thực hiệnmục tiêu đó Vì thế, chiến lược cạnh tranh phải là một chiến lược tổng hợp, cótính chất đa chiều và liên quan đến tất cả các hoạt động chủ yếu nhằm đạtđược mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp
1.2 MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH
Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược cạnh tranh là liên hệ công ty vớimôi trường Mặc dù môi trường liên quan rất rộng, bao gồm tất cả các lực
Luận văn Thạc
2
Trang 3lượng kinh tế lẫn xã hội, nhưng mảng quan trọng nhất vẫn là ngành kinh tế nơicác hoạt động cạnh tranh của công ty đang diễn ra hay còn gọi là môi trườngngành Phân tích cấu trúc ngành mang tính chiến lược rất hữu ích trong việc
quản trị chiến lược của công ty Sau đây là “Mô hình 5 áp lực cạnh tranh” của
Michael E Porter_một phương pháp phân tích ngành rất quan trọng khi xây dựngchiến lược cạnh tranh Theo M.E.Porter, hiện trạng cạnh tranh trong một ngành phụ
thuộc vào năm lực lượng cơ bản sau:
• Nguy cơ đe dọa của các nhà cạnh tranh tiềm năng
Luận văn Thạc
3
Trang 4• Sức mạnh mặc cả của người mua.
• Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp
• Sản phẩm thay thế
• Mức độ cạnh tranh của các đối thủ đang hoạt động trong cùng ngành
Toàn bộ năm lực lượng này kết hợp với nhau xác định cường độ cạnh tranh vàmức lợi nhuận của ngành Áp lực cạnh tranh càng mạnh thì khả năng sinh lời vàtăng giá hàng của các công ty đang hoạt động càng bị hạn chế Một tác lựccạnh tranh mạnh được xem là một nguy cơ làm giảm lợi nhuận Tuy nhiên, một táclực cạnh tranh yếu có thể là một cơ hội tạo cho công ty khả năng kiếm lờinhiều hơn Do đó, để cạnh tranh một cách hữu hiệu, công ty phải cố gắng tranhđấu tìm một vị trí tốt nhất có khả năng bảo vệ công ty chống lại các áp lựccạnh tranh, hay ít nhất cũng có thể ảnh hưởng và tác động đến chúng theohướng có lợi cho công ty Nói cách khác, công ty cần cố gắng giảm áp lựccạnh tranh càng nhiều càng tốt và đặc biệt là các áp lực quan trọng Chìa khóathành công nằm ở khả năng khác biệt của các công ty trong việc giải quyếtmối liên hệ với các lực lượng đó
1.3 CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
1.3.1 Lợi thế cạnh tranh
Để có thể tồn tại cũng như đối phó với các lực lượng cạnh tranh, công ty phảitạo được lợi thế cạnh tranh Việc gia tăng lợi thế cạnh tranh sẽ góp phần làmgiảm áp lực cạnh tranh đối với công ty Lợi thế cạnh tranh được định nghĩa lànhững thế mạnh hay năng lực phân biệt của công ty mà khách hàng xem trọngvà đánh giá cao vì chúng tạo ra giá trị cao cho khách hàng Thích ứng với cạnhtranh đòi hỏi phải sáng tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh một cách nhạy bén
và chính xác Công ty có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua nhiều khía cạnh
khác nhau:
• Tích lũy tài sản vô hình
Tài sản vô hình là nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất và là chìa khóacủa công ty để thích nghi với môi trường kinh doanh Đây chính là lòng tin củakhách hàng đối với công ty cũng như với sản phẩm và dịch vụ, là giá trịmà công ty đã cố gắng tích lũy qua một quá trình lâu dài Tài sản vô hìnhkhó tích lũy, có khả năng đa dụng và là đầu vào, đầu ra trong các hoạtđộng kinh doanh nên là lợi thế cạnh tranh hiệu quả nhất Tài sản vô hình cóthể được tích lũy bằng cách trực tiếp (quảng cáo ) và gián tiếp (tích lũyqua hoạt động hằng ngày bằng chính giá trị của sản phẩm) Việc tích lũy tàisản vô hình qua cách gián tiếp có thể sẽ lâu hơn cách trực tiếp nhưngthường đáng tin cậy và vững chắc hơn
• Chu kỳ sử dụng khí giới cạnh tranh
Trong bất cứ tuyến thị trường hay sản phẩm nào, khí giới cạnh tranh thích hợpthay đổi theo thời gian Thông thường sản phẩm được xem là khí giới ưu tiênnhất, sau đó đến các dịch vụ phụ và sau cùng là giá cả Vì vậy công tycần tập trung khai thác khí giới lợi hại nhất là sản phẩm và các dịch vụ phụ.Trong hầu hết các ngành công nghiệp, cạnh tranh về giá được xem là biệnpháp nghèo nàn nhất vì làm giảm khả năng sinh lời, ngoại trừ một sốtrường hợp cần thiết Tuy nhiên, đối với các công ty mới thành lập hay muốnxâm nhập thị trường mới, thường áp dụng chu kỳ khác hẳn, khởi hành từgiá sau đó đến sản phẩm rồi mới đến dịch vụ Do vậy, công ty cần chú ýchọn lựa chu kỳ sử dụng khí giới cạnh tranh thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranhhữu hiệu nhất
• Tập trung vào các yếu tố then chốt (KFS)
Yếu tố then chốt (Key factors for success) là các yếu tố quan trọng nhất tạonên sự thành công của một công ty, khi chúng được kiểm soát và sử dụngmột cách có hiệu quả Như vậy, tập trung vào các yếu tố then chốt chínhlà tập trung tất cả các nguồn lực vào một lĩnh vực riêng biệt nào đó màcông ty xác định có cơ hội để đạt được lợi thế chiến lược có ý nghĩa nhất so
Trang 5với các đối thủ cạnh tranh Từ đó, công ty sẽ đưa ra các định hướng cơ bảncho hoạt động của mình Tuy nhiên, việc xác định các yếu tố then chốt chothành công không phải bao giờ cũng dễ dàng Về cơ bản, có hai cách tiếpcận Cách thứ nhất là phân tích, mổ xẻ thị trường một cách đầy sức tưởngtượng để từ đó xác định các lĩnh vực then chốt Cách thứ hai là phát hiện ranhững điểm gì làm phân biệt giữa công ty thành công và công ty thất bạitrên thị trường, sau đó phân tích sự khác biệt này giữa chúng Việc xác địnhtập trung một cách có hiệu quả toàn bộ nguồn lực của công ty vào cácyếu tố then chốt sẽ đem lại ưu thế cạnh tranh thực sự cho công ty.
• Hoàn thiện các sản phẩm hiện hữu và phát triển sản phẩm mới
Tốc độ hoàn thiện các sản phẩm hiện hữu là một trong những nguyênnhân thành công trong cạnh tranh Nếu như hoàn thiện liên tục là một yếu tốquan trọng trong cạnh tranh thì tốc độ hoàn thiện có ý nghĩa rất lớn nhằm
Trang 6không ngừng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và khẳng định “giá trị”
của sản phẩm Tuy nhiên, bên cạnh các sản phẩm cũ, công ty cũng cầnliên tục phát triển các sản phẩm mới Rất nhiều công ty trên thế giới trongthời gian qua đã giảm chu kỳ phát triển sản phẩm mới xuống chỉ còn ít hơnmột nửa thời gian so với trước đây Công ty nào có tốc độ phát triển sảnphẩm mới nhanh và thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng có thể trởthành đối thủ cạnh tranh dẫn đầu thị trường, khi đó áp lực sản phẩm thaythế và đối thủ tiềm ẩn sẽ không còn đáng kể đối với công ty
• Cá nhân hóa sản phẩm
Chỉ có các công ty có sự năng động cao mới có thể linh hoạt trong việc thayđổi và tạo ra các sản phẩm phù hợp với những nhu cầu đa dạng đang đượccá nhân hóa của khách hàng Khi mức sống ngày càng cao, nhu cầu kháchhàng ngày càng có xu hướng cá nhân hóa thì sự thành công của các công
ty là có được sản phẩm và dịch vụ phù hợp với các nhu cầu rất khác biệt
của khách hàng Do đó, công ty cần phải “cắt lát” và “tái cắt lát” thị
trường, xác định được một hay nhiều loại khách hàng trong toàn bộ thị trườngvà tập trung mọi nỗ lực của công ty vào việc đáp ứng cho các nhóm kháchhàng khác nhau Như vậy, việc hiểu rõ tường tận mong muốn của kháchhàng chính là cơ sở cho việc cá nhân hóa sản phẩm thành công
• Quan tâm đến khách hàng
Chiến lược dựa trên khách hàng là cơ sở cho mọi chiến lược Quan tâm đếnnhững yêu cầu và phản ứng nhanh chóng để thỏa mãn nhu cầu của kháchhàng sẽ dẫn đến nhiều lợi thế và thực sự là một yếu tố rất quan trọngtrong lợi thế cạnh tranh Cụ thể như việc tổ chức tốt nguồn thông tin từkhách hàng sẽ giúp công ty xác định chính xác các nhu cầu và thị hiếu củakhách hàng, hiểu rõ được những sai sót của bản thân sản phẩm để nhanhchóng khắc phục Và thú vị nhất là các ý kiến phản hồi từ khách hàngcó thể trở thành ý tưởng cho những thành công sau này của công ty
• Phân phối sản phẩm theo đơn đặt hàng
Rút ngắn thời gian từ khi nhận được đơn đặt hàng đến khi giao sản phẩm chokhách hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thu hút và giữ vững khách hàng,góp phần làm giảm chi phí và giá cả cạnh tranh Điều này càng quan trọngđối với các sản phẩm theo mùa hoặc có tính thời trang
• Điều chỉnh hoạt động marketing
Thị trường luôn thay đổi và thay đổi rất nhanh nên việc điều chỉnh các hoạtđộng marketing cho phù hợp với những thay đổi của thị trường có hiệu quảrất lớn trong cạnh tranh
1.3.2Các chiến lược cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản là chi phí thấp hoặckhác biệt hóa Kết hợp hai hình thức này với phạm vi hoạt động của công ty sẽ
hình thành nên ba chiến lược cạnh tranh chung: chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung.
• Chiến lược chi phí thấp
Mục tiêu của chiến lược này là công ty tạo ra sản phẩm và dịch vụ với chiphí thấp nhất so với đối thủ cạnh tranh Do chi phí thấp, công ty có thể bánsản phẩm với giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh mà vẫn giữ nguyên mức lợinhuận Trong trường hợp đối thủ cạnh tranh bán ở cùng mức giá thì các công
ty có chi phí thấp hơn sẽ đạt được mức lợi nhuận cao hơn Mặt khác, nếu xảy
ra chiến tranh giá cả khi ngành kinh doanh đi vào giai đoạn trưởng thành thìcông ty có chi phí thấp hơn sẽ chịu đựng cạnh tranh tốt hơn Ngoài ra chiến lượcchi phí thấp giúp công ty dễ dàng chịu đựng được khi có sức ép tăng giá củacác nhà cung cấp
• Chiến lược khác biệt hóa
Mục tiêu của chiến lược này là đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo
ra sản phẩm được xem là duy nhất, độc đáo hay thỏa mãn nhu cầu kháchhàng bằng cách thức riêng mà các đối thủ cạnh tranh không đạt được
Chính khả năng này đã cho phép công ty định giá vượt trội cho “sản phẩm”,
Trang 7phát triển doanh thu và đạt tỷ suất lợi nhuận trên trung bình Giá “vượt trội”
này thường cao hơn nhiều so với giá sản phẩm của công ty theo chiến lượcchi phí thấp và được khách hàng chấp nhận vì họ tin rằng sản phẩm có chấtlượng cao Do vậy, sản phẩm được định giá trên cơ sở thị trường, ở mức màthị trường chấp nhận
• Chiến lược tập trung
Khác với hai chiến lược trên, chiến lược tập trung chỉ nhằm đáp ứng nhu cầucho một phân khúc thị trường nào đó, được xác định thông qua yếu tố địalý, đối tượng khách hàng hay tính chất sản phẩm Công ty có thể thực
Trang 8hiện chiến lược này thông qua hai phương thức chi phí thấp hay khác biệt hóa.
Nói cách khác, công ty thực hiện chiến lược chi phí thấp hay khác biệt hóachỉ trong phân khúc thị trường đã chọn, nằm đạt được lợi thế cạnh tranh Sựkhác biệt hóa sản phẩm trong chiến lược tập trung ở mức cao hay thấp tùythuộc vào việc công ty theo con đường chi phí thấp hay khác biệt hóa
Ba loại chiến lược nêu trên tuy có những yêu cầu khác nhau nhưng đều chungmột mục đích là tạo nên các loại hàng rào khác nhau để chống đỡ và làmgiảm áp lực cạnh tranh đối với công ty Theo M.E.Porter, để lựa chọn chiến lượccạnh tranh thích hợp, công ty cần căn cứ vào lợi thế cạnh tranh của riêng mình,đó chính là vũ khí quan trọng nhất giúp công ty vượt qua các đối thủ cạnh tranhvà thành công
1.4 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
Như phần trên đã trình bày, cấu trúc ngành giữ vai trò rất quan trọng trongquá trình xây dựng chiến lược cạnh tranh Phân tích môi trường ngành giúp công
ty hiểu rõ được các áp lực cạnh tranh Tuy nhiên cấu trúc ngành luôn thay đổivà là những thay đổi căn bản Do vậy, sự tiến hóa của ngành có tầm quantrọng đặc biệt trong việc xây dựng chiến lược Trước khi đi vào giai đoạn xâydựng chiến lược, việc tìm hiểu ảnh hưởng vòng đời phát triển ngành đối vớichiến lược là rất cần thiết
• Ảnh hưởng của vòng đời phát triển ngành
Vòng đời phát triển ngành trải qua bốn giai đoạn phát triển và tại mỗi giaiđoạn, bản chất cạnh tranh cũng sẽ khác nhau Đó là giai đoạn giới thiệu, tăng
trưởng, bảo hòa và suy thoái Ở giai đoạn giới thiệu, công ty có thể sử dụng chiến lược xây dựng thị phần và chiến lược chi phí thấp Trong giai đoạn tăng trưởng các công ty cần củng cố vị thế cạnh tranh bằng các chiến lược
marketing, chiến lược sản phẩm, và nếu có thể phát triển và mở rộng thị
trường Vào giai đoạn trưởng thành, công ty có thể lựa chọn chiến lược khai
thác tối đa lợi nhuận, chiến lược tập trung khác biệt hóa, chiến lược gặt hái
ngay hay chiến lược thanh lý và rút lui khỏi ngành Cuối cùng là giai đoạn suy thoái, các chiến lược tập trung củng cố thị trường, chiến lược thu hoạch và
chiến lược chuyển hướng kinh doanh cần được vận dụng Mô hình vòng đờiphát triển ngành chỉ mang tính chất tổng quát Trong thực tế mô hình nàykhông nhất thiết phải trải qua đủ bốn giai đoạn nêu trên Công ty cần nghiêncứu kỹ các giai đoạn phát triển ngành để có thể xây dựng các chiến lượccạnh tranh thích hợp và thành công
• Xây dựng chiến lược cạnh tranh
Theo M.E.Porter việc xây dựng chiến lược có thể được thể hiện dưới hìnhthức so sánh các điểm mạnh và điểm yếu của công ty, đặc biệt là nhữngkhả năng nổi bật để tìm ra các cơ hội và rủi ro trong môi trường kinh doanh.Các nguyên tắc phân tích môi trường giúp công ty có được đề cương xácđịnh một cách có hệ thống những điểm mạnh và điểm yếu chủ chốt củacông ty, khi xét tương đối với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở này, công tycó thể xác định chiến lược cạnh tranh thích hợp và thành công Các chiếnlược cạnh tranh chung cũng như một số phương pháp khai thác lợi thế cạnh tranhđã trình bày ở phần trên thể hiện cách tiếp cận tổng quát đối với việcxác định vị trí chiến lược thành công cho công ty Quy trình quản trị chiến lược
cạnh tranh bao gồm ba giai đoạn chính sau: thiết kế chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược.
1.5 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XÂY DỰNG
Xây dựng cơ bản là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng củanền kinh tế quốc dân Với chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho cácngành, lĩnh vực của nền kinh tế thông qua hoạt động đầu tư vốn, thiết kế vàsản xuất xây lắp, xây dựng cơ bản giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội Và để có một cái nhìn tổng quát về ngành xây dựng,việc tìm hiểu đặc điểm riêng của ngành là rất cần thiết
Trang 91.5.1 Đặc điểm kinh tế cơ bản của thị trường ngành xây dựng
1.5.1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và quá trình sản xuất xây dựng
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh vàtheo nghĩa rộng là tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngành sản xuấtnhư chế tạo máy, công nghiệp, vật liệu sản xuất, năng lượng, hóa chất, luyệnkim và lẽ dĩ nhiên là của ngành xây dựng đóng vai trò tổ chức cấu tạo côngtrình ở khâu cuối cùng để đưa chúng vào hoạt động Với những nét đặc trưng
trên, sản phẩm xây dựng thường có các tính chất sau:
• Là những công trình, vật kiến trúc được xây dựng và sử dụng tại địa điểm quiđịnh, cố định tại điểm xây dựng và thường được phân bổ trên nhiều nơi của lãnh thổ
Trang 10• Thường có kích thước lớn, kết cấu phức tạp đòi hỏi chi phí chế tạo lớn, thờigian xây dựng kéo dài, tồn tại qua nhiều năm và khó sửa đổi.
• Tính chất cá biệt cao, đa dạng về công dụng, cách thức cấu tạo và cả phương pháp chế tạo
• Liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong quá trình xây dựng và sử dụng,mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vàquốc phòng
Từ tính chất đặc biệt này của sản phẩm xây dựng, quá trình sản xuất xây dựng cũng mang nhiều đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau:
• Tình hình và điều kiện sản xuất thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa
điểm và giai đoạn xây dựng Do vậy, tổ chức sản xuất xây dựng phải chú ýtăng cường tính cơ động và linh hoạt, thích ứng với từng địa điểm và giai đoạncụ thể như phải lựa chọn phương án, hình thức tổ chức sản xuất, vận chuyển,vùng hoạt động, lợi dụng và liên kết tối đa với lực lượng xây dựng tại chỗ đểgiảm chi phí khi lập giá đấu thầu
• Thời gian xây dựng công trình thường kéo dài làm cho chu kỳ sản xuất xây dựng lớn hơn chu kỳ sản xuất công nghiệp, dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn
trong khối lượng thi công dở dang Ngoài ra, các doanh nghiệp xây dựng dễ gặpphải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian như biến động kinh tế, khoa học kỹthuật, thiên nhiên làm gia tăng chi phí sản xuất và giá thành công trình Dođó, các doanh nghiệp cần chọn lựa trình tự thi công hợp lý, phối hợp khéo
léo giữa các hạng mục công trình nhằm hạn chế tối đa “thời gian chết”, chú
ý nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án xây dựng, phương thức thanh toánvà kiểm tra chất lượng công trình, nhất là khi soạn thảo hồ sơ đấu thầu…
• Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia phải cùng kéo
đến hiện trường thi công trên một diện tích có hạn để thực hiện phần việctheo một trình tự nhất định về thời gian và không gian Đặc điểm này đòi hỏicác đơn vị phải có trình độ tổ chức, phối hợp cao, coi trọng công tác chuẩn
bị và thiết kế tổ chức thi công, liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị tổngthầu (thầu chính) và các thầu phụ
• Quá trình sản xuất xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, địa chất làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực của các tổ chức
xây dựng không được sử dụng điều hòa theo bốn quí, chất lượng công trình bịthay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần sắp xếp, chọn lựa phương pháp thi công hợplý, đẩy nhanh tiến độ, quan tâm đến nhân tố rủi ro của thời tiết khi đấuthầu
• Sản xuất xây dựng còn bị tác động bởi lợi nhuận chênh lệch do điều kiện
của địa điểm xây dựng đem lại Cùng một loại công trình nhưng nếu được đặttại nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu, máy móc thiết bị cho thuê và lựclượng nhân công thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí và thu được lợinhuận cao hơn
Tất cả các đặc điểm trên ảnh hưởng đến mọi khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh xây dựng nói riêng và đến lý thuyết kinh tế thị trường áp dụng cho lĩnhvực xây dựng nói chung
1.5.1.2 Đặc điểm kinh tế cơ bản của thị trường ngành xây dựng
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của sản phẩm và quá trình sản xuất xâydựng, thị trường xây dựng được hiểu là nơi gặp gỡ giữa sự chào hàng về khảnăng và kết quả xây dựng của các doanh nghiệp (bên cung_người bán sảnphẩm xây dựng) và nhu cầu xây dựng của các chủ đầu tư (bên cầu_người muasản phẩm xây dựng) nhằm đi đến ký kết hợp đồng xây dựng giữa người mua
và người bán công trình Thị trường ngành xây dựng có những đặc điểm chính
sau:
• Sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, không thể sản xuất hàng loạt, không
có thời gian lưu kho và chưa được sản xuất ra (xây dựng) khi đặt hàng vàchào hàng
Trang 11• Quá trình mua bán đã xảy ra trước lúc bắt đầu giai đoạn sản xuất thông qua
việc đấu thầu và ký kết hợp đồng xây dựng, sau đó được tiếp tục thôngqua các đợt thanh toán trung gian cho đến khi bàn giao công trình và quyếttoán cuối cùng Việc tiêu thụ sản phẩm xây dựng được tiến hành trực tiếpgiữa người bán và người mua (chủ đầu tư) và không qua khâu trung gian
• Người mua (chủ đầu tư) thường là các chủ doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ
nên chưa phải là người tiêu dùng ở cấp cuối cùng, chỉ trừ trường hợp
người mua công trình chỉ để sử dụng cho sinh hoạt và không phải để kinhdoanh (ví dụ nhà ở)
• Số người tham gia quá trình mua bán sản phẩm xây dựng thường lớn (không
phải hai người) Ý định của người mua (chủ đầu tư) quyết định chất lượng,giá cả của sản phẩm và quyết định cả người bán sản phẩm (tức chủ
Trang 12thầu xây dựng) Người mua phải tạm ứng trước một số tiền cho người bán dùng để sản xuất sản phẩm (xây dựng công trình).
• Quy luật cạnh tranh trong thị trường xây dựng xảy ra phổ biến dưới hình thức đấu thầu.
• Quá trình cung và cầu trong xây dựng xảy ra tương đối không liên tục như các
ngành khác nên hoạt động xây dựng chỉ xảy ra một cách gián đoạn và phụthuộc vào chu kỳ khủng hoảng kinh tế Thị trường xây dựng phụ thuộc chặtchẽ vào thị trường đầu tư, nhất là vào lãi suất tín dụng và mức thu lợi đạtđược của đầu tư
• Không có giá cả thống nhất cho sản phẩm xây dựng nên các chính sách và
chiến lược giá thường khó linh hoạt và không quan trọng bằng các ngànhkhác
• Marketing được tiến hành cá biệt cho từng trường hợp đấu thầu và không
tiến hành hàng loạt Quảng cáo xây dựng thực hiện chủ yếu thông qua cácthành tích công trình đã đạt được Ngoài ra chiến lược ngoại giao có vai trò đặcbiệt quan trọng trong hoạt động tìm kiếm khách hàng và nghiệm thu công trình
• Vai trò của Nhà nước đối với ngành xây dựng tương đối lớn hơn so với các
ngành khác vì liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường vàngân sách Nhà nước đầu tư cho các công trình phục vụ công cộng tương đốicao
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng nói riêng và của thị trường xâydựng nói chung có tác động không nhỏ đến quá trình tổ chức sản xuất vàquản lý ngành Việc tìm hiểu các đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp xây dựngcó một tầm nhìn chiến lược trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là tronghoạt động đấu thầu cạnh tranh
1.5.2Tình hình hoạt động ngành xây dựng TP.HCM
1.5.2.1Vai trò của ngành xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân
Trong thời gian qua, xây dựng là một trong những ngành kinh tế quốc dân có tốcđộ tăng trưởng khá cao (giai đoạn 1995-1998 là 25%) nên những dịch vụ có liênquan đến xây dựng đều có cơ hội phát triển mạnh Các dự án đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài cũng như trong nước đã thực hiện một khối lượng xây dựng cơbản rất lớn, đó là những tác nhân góp phần nâng cao cả về chất lượng lẫnsố lượng cho lĩnh vực xây dựng nước ta
Có thể nói, xây dựng là lĩnh vực chịu tác động mạnh nhất từ sự tăng trưởngvới tốc độ cao của nền kinh tế Từ năm 1992 đến nay, lĩnh vực xây dựng luôncó tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tốc độ phát triển GDP Cũng giống như ởnhiều nước, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, các nước đều có nhu cầu rấtlớn về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình công nghiệp… Trong giaiđoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nước ta chỉ tập trung đầu tư xây dựngngành công nghiệp nặng mà quên mất nhu cầu tiêu dùng nói chung, trong đócó nhu cầu về nhà ở của nhân dân Do đó, khi chuyển sang cơ chế mới vàcùng với sự cải thiện về đời sống kinh tế của các hộ gia đình, nhu cầu nhà ởtheo đó tăng lên rất nhanh Điều này trở thành nhân tố thúc đẩy sự pháttriển của lãnh vực dịch vụ xây dựng Một nhân tố khác cũng góp phần đángkể vào sự phát triển của lĩnh vực xây dựng nước ta là hoạt động đầu tư trựctiếp của nước ngoài
Như vậy, lĩnh vực dịch vụ xây dựng không chỉ chịu ảnh hưởng của sự phát triểnkinh tế mà còn có vai trò tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung và sựphát triển của các ngành cụ thể trong nền kinh tế Ngành xây dựng đã tạocông ăn việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến lao động Dovậy, tiến đến hội nhập với khu vực, thế giới và mở cửa hoàn toàn trong lĩnhvực dịch vụ xây dựng, cần đánh giá thực chất năng lực hiện tại của các doanhnghiệp xây dựng để có thể đề ra các chính sách và biện pháp hỗ trợ thiếtthực Mặt khác, phải có các chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh để trong
Trang 13một thời gian nhất định, các doanh nghiệp nước ta tự vươn lên, đủ sức cạnh tranhvới các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường Việt Nam và vươn ra thị trườngthế giới.
1.5.2.2 Tình hình hoạt động ngành xây dựng TP.HCM
TP.HCM là một trung tâm kinh tế-văn hóa và chính trị quan trọng của nước ta Vớidiện tích tự nhiên chiếm 0,6% và dân số là 6,5% so với cả nước nhưng đã đạtđến 18% tổng sản phẩm xã hội, 15,9% thu nhập quốc dân và 29% sản lượngcông nghiệp so với cả nước Nằm trong khu vực được xác định là vùng tam giáctrọng điểm phát triển của phía Nam bao gồm TP.HCM-Đồng Nai-Bà Rịa Vũng Tàu,TP.HCM chính là trung tâm phát triển của hành lang phía Nam, có vai trò rất lớntrong việc tạo điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật trong toàn khu vực miền Nam.Trong lãnh vực quản lý xây dựng, tổng vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn thànhphố trong 25 năm qua (1975-1999)
Trang 14đã đạt khoảng 129.486 tỉ đồng (tính theo giá trị thực tế hàng năm) được chia ra
theo Bảng1 Vốn đầu tư xây dựng bắt đầu tăng vọt từ năm 1991 từ khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường, đồng thời vốn đầu tư trực tiếp của nướcngoài cũng tăng cao sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành (1987), chiếmkhoảng 1/3 tổng vốn đầu tư trên địa bàn Tốc độ phát triển ngành tăng đều
ở giai đoạn 1995-1998 là 25%, nhưng chựng lại ở năm 1999 là 2,86% Trong đógiá trị sản xuất của khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài giảmrõ rệt, từ 47% (1996/1995) xuống còn 23% (1997/1996), 12,8% (1998/1997) và đặcbiệt tăng trưởng âm: -6,95% (1999/1998) Đây là tình hình chung của cả khu vực,tác động xấu đến hoạt động ngành xây dựng thành phố nói riêng và nền kinhtế nước ta nói chung
Banû g 1 : VỐN ĐẦU TƯ XDCB TPHCM GIAI
1991
1975- 1995
Tổng số 8.00
0
37.00 0
18.64 5
22.96 0
23.98 4
18.89 7
Ngu
onà
voná trong nước
7.800
29.000
11.935
14.211
15.767
12.578Ngu
onà voná nước ngoaiø 200 8.000 (Nienâ gi6.710 8.749 8.217 6.319
a m ù Thoná g kê TPHCM 1999)
Trong năm 1999, GDP của TP.HCM tăng 10% so với năm 1998, trong khi tốc độtăng trưởng bình quân từ năm 1996 đến năm 1999 là 14% chứng tỏ nền kinhtế đang có xu hướng phát triển chựng lại Mặt khác, cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính trong khu vực (1997-1998) đã tác động rất lớn đến ngành xây dựng GDPngành xây dựng thành phố năm 1999 tăng 12,4% so với năm 1998 (giai đoạn1996-1999 tăng bình quân 18,8%) cho thấy ngành đang trong giai đoạn bão hòa Tình hình hoạt động sản xuất xây dựng của các đơn vị hiện nay rất khó khăn dothị trường xây dựng bị thu hẹp, nhất là các đơn vị chuyên thi công các công trìnhkiến trúc như cao ốc, văn phòng cho thuê, khách sạn, nhà máy… nhiều dự án
bị ngưng trệ giữa chừng, có dự án tuy đã giải tỏa mặt bằng xong, có giấyphép xây dựng nhưng chưa được khởi công gây lãng phí cho chủ đầu tư và xã hội.Các công trình có giá trị lớn khởi công trong thành phố hầu như không có, cácđơn vị xây dựng vẫn tập trung chủ yếu vào các công trình chuyển tiếp, phầnlớn nằm ngoài thành phố như ở các khu chế xuất, khu công nghiệp… (khu vựctỉnh Bình Dương, Biên Hòa, Vũng Tàu…) Tình trạng thiếu vốn, bị chiếm dụng vốn,công trình đưa vào sử dụng nhưng bên A chưa thanh toán… ảnh hưởng trực tiếpđến hoạt động của các công ty xây dựng
Banû g 2 : GIÁ
TRỊ NGANØ H XA
YÂ
D Ư NÏ
G TPHCM GIAI ĐOANÏ
9.939.9 60
11.316.3 37
11.640.0 54
– Quốc doanh 3.000.7
48 3.736.271 4.795.261 5.514.617 6.241.638– Ngoaiø quocá
doanh
2.752.469
3.572.272
4.334.453
5.032.706
4.764.010– Đầu tư nước
ngoài 88.908 606.650 (Niên giám Thống kê TPHCM 1999)810.246 769.014 634.406
Về cơ cấu thành phần kinh tế, các doanh nghiệp xây dựng quốc doanh giữ vai tròchủ đạo, chiếm khoảng 50% giá trị sản xuất toàn ngành, các doanh nghiệpngoài quốc doanh (các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân…)đóng góp 40% giá trị sản xuất và còn lại là các doanh nghiệp đầu tư nước
Trang 15ngoài (các công ty liên doanh, 100% vốn nước ngoài) chiếm 10% giá trị Đây là
ba đối thủ cạnh tranh chính trong thị trường ngành xây dựng hiện nay
Có thể nói thị trường xây dựng TP.HCM đang trong giai đoạn phát triển rất khókhăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Tốc độ tăng trưởng củatoàn ngành giảm, phần lớn nguồn vốn đầu tư phụ thuộc vào bên ngoài, cơ cấuvốn đầu tư chưa thật ổn định… Tất cả những yếu tố trên đã tác động tiêucực đến hoạt động sản xuất toàn ngành Vì vậy, để có thể tồn tại và pháttriển trong điều kiện hiện nay, các công ty xây dựng cần xác định chiến
Trang 16lược nâng cao khả năng cạnh tranh, đặc biệt đối với các công ty TNHH xâydựng, hạt nhân phát triển của ngành xây dựng Việt Nam.
Tóm lại, doanh nghiệp muốn thành công phải xây dựng chiến lược cạnh
tranh_mọât chiến lược tổng hợp nhằm tạo ra vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược là liên hệ doanh nghiệp với môi trường xung quanh, đặc biệt là môi trường ngành Tuy nhiên, việc xây dựng chiến lược cạnh tranh không thể khả thi nếu bỏ qua giai đoạn tìm hiểu vòng đời phát triển ngành Đây chính là những nền tảng cơ bản trong việc hoạch định chiến lược cạnh tranh Và trước khi đi vào phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng tại các công ty TNHH xây dựng TPHCM, việc tìm hiểu khái quát về ngành xây dựng là rất cần thiết, đặc biệt là các đặc điểm kinh tế của thị trường ngành Những đặc trưng cơ bản này có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành, nhất là trong đấu thầu cạnh tranh.
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG TP.HCM
Chương này gồm hai nội dung chính Phần thứ nhất giới thiệu khát quát và phân tích thực trạng đấu thầu cạnh tranh tại các công ty TNHH xây dựng Phần thứ hai tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động xây dựng tại các công ty TNHH xây dựng TP.HCM Cụ thể là phân tích môi trường vĩ mô, vi mô và nội bộ ngành, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược cạnh tranh ở chương 3.
2.1 HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CẠNH TRANH
2.1.1 Vai trò của đấu thầu đối với doanh nghiệp xây dựng
Một trong những vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệpxây dựng trong cơ chế thị trường là phải tạo được lợi thế cạnh tranh để có thểký kết nhiều hợp đồng xây dựng đạt lợi nhuận cao với các chủ đầu tư côngtrình Vì thế, hoạt động tìm kiếm hợp đồng có thể xem là một trong những hoạtđộng chủ yếu, có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng.Nếu hoạt động này đạt được kết quả tốt, nghĩa là doanh nghiệp có nhiều hợpđồng thì các hoạt động khác của doanh nghiệp như sản xuất thi công xây lắp,tài chính, bàn giao công trình… mới có điều kiện thực hiện
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể ký kết hợp đồng xây dựngkhi doanh nghiệp thắng trong đấu thầu hay được chủ đầu tư lựa chọn (khôngthông qua đấu thầu) để giao thầu trực tiếp Chính vì vậy, đấu thầu xây dựng làmột phương thức lựa chọn nhà thầu phổ biến trong thực tế Trong đấu thầu, cácnhà thầu tức các doanh nghiệp xây dựng cạnh tranh nhau để thắng thầu.Thông thường, các doanh nghiệp trúng thầu là những doanh nghiệp chào hàng(dự thầu) với giá cả xây dựng hợp lý và thỏa mãn tốt nhất những điều kiệncủa chủ đầu tư (thời gian xây dựng, năng lực kỹ thuật và tài chính, chất lượngcông trình ) Đấu thầu còn thể hiện cao tính cạnh tranh của thị trường xây dựnggiữa bên mời thầu và các bên dự thầu
Vấn đề quan trọng đặt ra cho các doanh nghiệp xây dựng tham gia đấu thầu làlàm thế nào để thắng thầu Đây là mục tiêu duy nhất, quyết định sự tồn tạivà phát triển của các doanh nghiệp trên thị trường Thông thường, với tỉ suất
thắng thầu ở một đơn vị xây dựng “thiện chiến” là 10-12% (có nghĩa là phải
Trang 17tham gia đấu thầu 8-10 cuộc mới “hy vọng” thắng một cuộc), hoạt động đấu
thầu cạnh tranh thực sự là một thách thức lớn đối với nhà thầu Vì vậy, để cóthể thắng thầu, các doanh nghiệp xây dựng chẳng những cần có thực lực cạnhtranh mà còn phải có chiến lược và chiến thuật đấu thầu hiệu quả
2.1.2Nội dung hoạt động đấu thầu
Trang 18Trên thế giới, ở các nước có nền kinh tế thị trường, việc đấu thầu mua sắmthiết bị vật tư và xây dựng công trình từ lâu đã trở thành thông lệ và đượcxem như một thủ tục, một thể thức phổ biến Phương thức đấu thầu quốc tế
hiện nay được tiến hành theo những chế định của tổ chức FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn_Fédération Internationle des Ingéniecurs Conseils) Theo
tính chất, đấu thầu có thể áp dụng cho ba loại công việc chính sau: đấu thầucông tác giám định và tư vấn (bao gồm các công việc khảo sát, lập dự ánđầu tư xây dựng, thiết kế, soạn thảo hồ sơ đấu thầu, giám sát và điều khiểnquá trình thi công ); đấu thầu mua sắm thiết bị và vật tư xây dựng công trình
và đấu thầu thực hiện thi công xây lắp công trình (Phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu liõnh vực đấu thầu xây dựng công trình).
2.1.2.1 Nguyên tắc đấu thầu
Với mục tiêu thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấuthầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án, hoạt
động đấu thầu cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau: mỗi cuộc đấu thầu đều
phải được thực hiện với sự tham dự của một số nhà thầu có đủ năng lựcđể hình thành một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ Điều kiện đặt ra và thông tincung cấp cho các đơn vị ứng thầu phải ngang bằng nhau, nhất thiết không cósự phân biệt đối xử
• Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ: các nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu
đấu thầu với các thông tin chi tiết, rõ ràng và có hệ thống về quy mô,khối lượng, qui cách, yêu cầu chất lượng của công trình hay hàng hóa dịch vụcần cung ứng, về tiến độ và điều kiện thực hiện
• Nguyên tắc đánh giá công bằng: các hồ sơ đấu thầu phải được đánh giá
một cách không thiên vị, theo cùng một chuẩn mực và bởi một hội đồng
xét thầu có đủ năng lực và phẩm chất Lý do để “được chọn” hay “bị loại”
phải được giải thích đầy đủ nhằm tránh sự ngờ vực
• Nguyên tắc trách nhiệm phân minh: khống chế các nghĩa vụ, quyền, quyền
lợi của các bên liên quan được đề cập và chi tiết hóa trong hợp đồng, vớiphạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở từng phần việc đều được phân định rạchròi để không một sai sót nào không có người chịu trách nhiệm
• Nguyên tắc “ba chủ thể”: thực hiện dự án theo thể thức “Đấu thầu quốc tế”
luôn luôn có sự hiện diện đồng thời của ba chủ thể: chủ công trình, nhà
thầu và kỹ sư tư vấn Trong đó, “kỹ sư tư vấn” hiện diện như một nhân tố
đảm bảo cho hợp đồng luôn được thực hiện nghiêm túc đến từng chi tiết, mọisự bất cập về kỹ thuật và tiến độ được phát hiện kịp thời, những biện
pháp điều chỉnh được đưa ra đúng lúc Đồng thời, “kỹ sư tư vấn” cũng là nhân tố hạn chế tối đa những mưu toan thông đồng hoặc thỏa hiệp “châm chước” gây thiệt hại cho chủ đầu tư.
• Nguyên tắc bảo lãnh, bảo hành và bảo hiểm thích đáng: để bảo vệ quyền
lợi chính đáng và công bằng cho cả chủ đầu tư và nhà thầu, các điều kiệnvề bảo lãnh, ký quỹ dự thầu, bảo hành công trình, bảo hiểm cần đượctuân thủ nghiêm ngặt nhằm giúp dự án được thực hiện một cách an toàn vàthành công
2.1.2.2 Hình thức đấu thầu chủ yếu
• Đấu thầu rộng rãi
Hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Đây là hình
thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu Bên mời thầu thông báo côngkhai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đạichúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Thông thường nhà thầu nào cógiá dự thầu thấp nhất sẽ được chọn
• Đấu thầu hạn chế
Chủ đầu tư chỉ mời một số nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, kỹ
thuật, chuyên môn tham dự Hình thức này được áp dụng khi chỉ có một sốnhà thầu đáp ứng được yêu cầu của gói thầu hay do tình hình cụ thể củagói thầu
Trang 19• Chỉ định thầu
Chủ đầu tư chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để
thương thảo hợp đồng Sự lựa chọn này có thể dựa trên uy tín, quan hệ ngoạigiao hay chính năng lực của nhà thầu
2.1.2.3 Quy trình đấu thầu
Toàn bộ thể thức, trình tự đấu thầu xây dựng có thể chia làm ba giai đoạn chínhsau:
Sơ đồ 2: QUY TRÌNH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
Trang 20GIAI ĐOẠN SƠ TUYỂN
GIAI ĐOẠN NHẬN ĐƠN THẦU
GIAI ĐOẠN MỞ VÀ ĐÁNH GIÁ ĐƠN THẦU, XÉT THẮNG THẦU
• Giai đoạn sơ tuyển
Giai đoạn sơ tuyển có mục đích lọc lấy nhiều nhà thầu đã được đánh giá sơbộ là đủ năng lực ứng thầu Số lượng nhà thầu cần đủ lớn để đảm bảotính cạnh tranh nhưng phải đủ nhỏ để tạo ra sự quan tâm thích đáng trong mọiđơn vị ứng thầu Trong một số trường hợp, khi chủ công trình nắm vữngthông tin về các nhà thầu khả dĩ tham gia đấu thầu thì có thể đi tắt, bỏqua giai đoạn sơ tuyển và bước ngay vào giai đoạn nhận đơn dự thầu
• Giai đoạn nhận đơn thầu
Chủ công trình, hay thuê một đơn vị tư vấn, chuẩn bị văn kiện đấu thầu gửiđến cho các ứng thầu đã được sơ tuyển Văn kiện đấu thầu gồm ba nội dung
chính: các nội dung về hành chính, pháp lý; các nội dung về kỹ thuật và các nội dung về thương mại, tài chính Trong bộ văn kiện này, phần thuyết
minh về kỹ thuật là quan trọng nhất, phải được soạn thảo rất công phu đểcùng với bảng kê số lượng làm cơ sở chủ yếu cho các ứng thầu tính toángiá thầu công trình, còn gọi là giá hợp đồng
• Giai đoạn mở và đánh giá đơn thầu, xét thắng thầu
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình đấu thầu để chọn ra đơn vị thắngthầu với giá cả hợp đồng đưa ra thấp nhất, đảm bảo các yêu cầu về mặtkỹ thuật, thương mại và điều kiện trong văn kiện đấu thầu Tuy nhiên, việctrao thầu cũng có thể dành cho đơn vị đạt được yêu cầu về tiến độ, phươngán thi công hay các tiêu chuẩn về chất lượng, tài chính, uy tín lâu năm tạocho đơn vị một lợi thế cạnh tranh về chi phí, hiệu quả tốt hơn
2.1.3Nhận xét lợi thế cạnh tranh trong đấu thầu
Dựa vào quy trình đấu thầu xây dựng, các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếutố sau để nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu
• Giai đoạn sơ tuyển
Đây là giai đoạn đầu tiên nhưng rất quan trọng, đặc biệt đối với hình thứcđấu thầu hạn chế và chỉ định thầu Như đã nêu trên, việc chọn lựa các đơn
vị ứng thầu chủ yếu dựa vào năng lực nhà thầu gồm nhiều yếu tố như: uytín, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, chất lượng, khả năng tài chính, kinhnghiệm Bên cạnh đó, việc chọn lựa nhà thầu còn có thể thông qua cácquan hệ ngoại giao giữa chủ đầu tư và nhà thầu Chính vì vậy, lợi thế cạnhtranh phải được tạo nên thông qua một quá trình lâu dài trước đó, quan trọng
nhất là việc tích lũy “tài sản vô hình” Giá trị tài sản vô hình của doanh
nghiệp càng cao thì doanh nghiệp càng có ưu thế trên thị trường Ngoài ra,doanh nghiệp nên duy trì và mở rộng quan hệ ngoại giao với mọi đối tác,
nhất là các “khách hàng tiềm năng” Tất cả các yếu tố này sẽ góp phần
tạo nên một giá trị cao cho doanh nghiệp và các chủ đầu tư sẽ không quên
“nhớ”ùù đến doanh nghiệp khi tổ chức đấu thầu.
• Giai đoạn nhận đơn thầu
Nếu như ở giai đoạn sơ tuyển, lợi thế cạnh tranh đạt được thông qua một quátrình, thì ở giai đoạn này, doanh nghiệp phải giành lấy ưu thế dựa vào nỗ lựctrong một thời gian xác định Đó là công tác chuẩn bị hồ sơ dự thầu Đâylà công việc rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại trong đấuthầu và cả hiệu quả kinh doanh của đơn vị Các nhà thầu phải dốc toàn
1 0
Trang 21bộ sức lực chuẩn bị hồ sơ thật cẩn thận, đầy đủ, chính xác và sáng tạotrong một khoảng thời gian nhất định Phần nội dung hành chính và pháp lýkhông được phép thiếu sót Quan trọng nhất vẫn là các điều khoản kỹ thuật.Các nhà thầu cần khảo sát trước hiện trường và lập hồ sơ rất công phu,làm cơ sở cho việc tính toán giá thầu và hoạch định tiến độ thi công mộtcách chính xác Ngoài ra, để gia tăng lợi thế cạnh tranh, nhà thầu có thể đềnghị thêm về kỹ thuật, các phương án thay thế thích hợp
1 0
Trang 22với chi phí kèm theo Điều này thể hiện năng lực và sự quan tâm của nhàthầu với dự án Sau cùng là các nội dung về thương mại và tài chính Giá dựthầu phải được tính toán thật chính xác kèm theo thuyết minh và biểu giá chitiết dựa trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật Giá chào thầu phải đủ thấp để giànhđược công trình, nhưng vẫn phải đủ cao để thu được lợi nhuận Điều này thể
hiện “nghệ thuật” cạnh tranh giá của nhà thầu Điều kiện về tài chính và
thanh toán cũng là một lợi thế cạnh tranh Một nhà thầu với tiềm lực tài
chính mạnh, điều kiện thanh toán “dễ chịu” cho phía chủ đầu tư cũng góp phần
tạo nên ưu thế cho nhà thầu
• Giai đoạn mở và đánh giá đơn thầu, xét thắng thầu
Đây là giai đoạn chọn ra đơn vị thắng thầu Chủ đầu tư quyết định nhà thầudựa trên kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu Tiêu chuẩn xét thầu chủ yếu làgiá cả, ngoài ra còn có thể là chất lượng kỹ thuật, tiến độ thi công, điềukiện tài chính Chính vì vậy, các nhà thầu cần cố gắng tối đa trong việcchuẩn bị tốt mọi chi tiết của hồ sơ dự thầu Một văn kiện đấu thầu đượcsoạn thảo chu đáo và nghiêm túc không những đem lại kết quả cho nhà thầu
mà còn tạo được một “ấn tượng” tốt đối với phía chủ đầu tư, đem đến những
cơ hội ứng thầu trong tương lai
2.1.4Thực trạng hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), nước ta bắt đầu thực hiện chính sáchđổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thịtrường cùng với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Quy luậtcạnh tranh của nền kinh tế thị trường bắt đầu từng bước được hình thành Tronglĩnh vực xây dựng đã bắt đầu xuất hiện một công nghệ mới, đó là phươngthức đấu thầu Nhằm làm cho hoạt động đấu thầu xây dựng đi vào nề nếp, tạođiều kiện tự do cạnh tranh lành mạnh trên thị trường xây dựng, Chính phủ đã ban
hành Quy chế đấu thầu Trước hết là Nghị định 43/CP ngày 16/07/1996, sau đó được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 93/CP ngày 23/08/1997 Đến ngày 04/09/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế đấu thầu mới, Nghị định 88/1999/NĐ_CP Trong đó có phần qui định cụ thể cho hoạt động đấu thầu xây dựng ở Chương IV_Đấu thầu xây lắp Đây là quy chế áp dụng đối với các dự
án đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam
Qua gần bốn năm thực hiện quy chế đấu thầu, theo Nghị định 43/CP, 93/CP và naylà Nghị định 88/CP của Chính phủ có thể thấy rõ phương thức đấu thầu đã từngbước thay thế phương thức chỉ định thầu, mang nhiều tiềm ẩn tiêu cực trong nềnkinh tế thị trường Trong thời gian qua, hầu như các dự án sử dụng vốn Nhà nướcđều được áp dụng phương thức đấu thầu Ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nơitính chất của nền kinh tế thị trường thể hiện rõ nét nhất, việc áp dụng phươngthức này là điều tất yếu Tính hiệu quả của công tác đấu thầu cũng được thểhiện rõ Từ khi áp dụng Nghị định 43/CP đến tháng 2/1999, chỉ tính các gói thầulớn do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 96 gói thầu với giá trúng thầu là2.390 triệu USD so với giá dự kiến ban đầu là 2.782 triệu USD, giảm được 392 triệuUSD tương đương 14,09% Các dự án khác ở các bộ, ngành, địa phương nhờ ápdụng phương thức đấu thầu, giá trúng thầu đều giảm so với giá được duyệt Cụthể như các dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thẩm định đã có giá trúngthầu giảm từ 15%-20% ở lĩnh vực giao thông vận tải, 10%-30% ở ngành điện Trên điạ bàn TPHCM,khoảng 1.200 gói thầu đã được đấu (không kể hàng loạtnhững gói thầu nhỏ được chỉ định thầu, hay những công trình tự làm) thông quagiá xét thầu và giá giao thầu đã tiết giảm bình quân 6%, cá biệt có nhữnggói thầu giảm đến 20% Bên cạnh việc giảm giá thầu, chất lượng sản phẩmxây dựng đã được đảm bảo và phù hợp hơn, thời gian thực hiện hợp đồng cũngngắn hơn dự kiến, các điều kiện về tài chính và thương mại cũng như các điềukiện khác trong hợp đồng được các bên tôn trọng Song điều đáng ghi nhận nhấtlà năng lực đội ngũ nhà thầu trong nước từng bước được nâng cao, bắt kịp trìnhđộ phát triển của các nước trong khu vực và thế giới
22
Trang 23Tuy nhiên, do đấu thầu là một công nghệ mới nên việc áp dụng vào thực tếcòn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Quy chế đấu thầu chưa thật rõràng, cụ thể, thủ tục thực hiện còn nhiều rườm rà và rất tốn kém làm ảnhhưởng đến thời gian, chất lượng và chi phí công trình Việc tổ chức đấu thầu
ở một số nơi chỉ mang tính “hình thức”, chưa thực sự nghiêm chỉnh, công minh
dẫn đến việc trao công trình cho nhà thầu đã được chỉ định trước Hiện tượngthông đồng nâng giá công trình, hiện tượng đặt giá tranh thầu thấp nhưng đến khithắng thầu lại đề nghị chỉnh giá cao hơn lúc đầu, chi phần trăm cho bên A đểđược nhận thầu, bán thầu để hưởng chênh lệch… Tất cả những yếu tố trênđã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, gia tăngcác tiêu cực khác trong ngành
23
Trang 242.1.5Một số kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của Tập đoàn xây dựng Hyundai (Hàn Quốc)
Trong việc đấu thầu xây dựng các công trình quốc tế, Hyundai đã rất thànhcông Đây là kinh nghiệm quý giá cho các nhà thầu xây dựng Việt Nam và thếgiới mà ông Romusup, Phó giám đốc Tập đoàn xây dựng Hyundai đã báo cáo
tại Stanford-Nayang Executive Programme–Singapore 1995 Xin trích lược một vài nét
tiêu biểu minh họa cho đề tài
Khái niệm về ngành xây dựng
Ngành công nghiệp lớn nhất nhưng đa số hàng ngàn thành viên là nhữngdoanh nghiệp vừa và nhỏû cạnh tranh với nhau Ngành xây dựng có nhiềuđặc trưng liên quan đến các ngành công nghiệp dịch vụ và chế tạo, đượcđịnh hướng khuyến khích hoàn toàn
Bí quyết thành công
Phân tích S.W.O.T (những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa) là công cụrất hữu hiệu và cần thiết trong việc nghiên cứu môi trường hoạt động, làm
cơ sở cho mọi định hướng chiến lược của doanh nghiệp
Một số kinh nghiệm quản lý hoạt động đấu thầu xây dựng
• Đối với công tác đấu thầu, công ty cần điều tra trước vị trí xây dựng (sơđồ vùng, thông tin về điều kiện tự nhiên, địa lý, thổ nhưỡng…), vị trí dịch vụcó ích (điện, gas, nước, vệ sinh, cống rãnh, đường sắt, đường cao tốc, MRT…),điều kiện tại chỗ (các văn phòng xây dựng, hiệp hội lao động, nhà thầuđịa phương, nguồn vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị… )… Kết quả điềutra này rất có ích cho việc soạn thảo hồ sơ dự thầu và công tác thi công saunày
• Trong hồ sơ dự thầu, công ty cần nghiên cứu về những điểm đặc biệt củadự án, phác thảo phương án có thể thay thế hay thêm vào các bổ sung cầnthiết nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho đơn thầu
• Công ty cần thiết lập các mối quan hệ với các nhà thầu, nhà cung cấp tạiđịa điểm xây dựng để thật sự hiểu rõ về nền văn hóa địa phương, cấutrúc xã hội, những giá trị cổ truyền… Sự hòa hợp với đặc thù riêng củađịa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý xây dựngcông trình, đảm bảo sự thành công của dự án
• Chính sách quản lý nhà thầu xây dựng rất cần thay đổi theo mối quan hệvới nhà thầu chính Phương pháp quản lý nhà thầu phụ của nhà thầu chínhcòn phụ thuộc vào năng lực thi công của nhà thầu phụ Nhà thầu chính sẽchấp nhận mọi cách thức của nhà thầu phụ khi họ có thể hoàn tất côngtrình trong mọi tình huống
• Nhà thầu chính cần lập trước kế hoạch hoạt động cụ thể cho tất cả các nhàthầu phụ Sự hợp nhất ở mức độ cao trong việc điều khiển các nhà thầuphụ sẽ tạo điều kiện cho nhà thầu chính quản lý quá trình sản xuất xâydựng một cách thành công
• Nếu như nhà thầu chính thừa nhận tỉ lệ trách nhiệm giữa mình và nhà thầuphụ là 30:70 thì mỗi bên phải hoàn thành công việc không ít hơn số 30:70.Tuy nhiên, nếu nhà thầu phụ chỉ đạt 50 thay vì 70 thì nhà thầu chính phải baothêm 20 vào phần việc của mình để hoàn tất những công việc có liên quan
• Trong điều khoản về mối quan hệ thầu khoán thì nhà thầu phụ phụ thuộcvào nhà thầu chính Trong mọi trường hợp, nhà thầu chính phải chịu tráchnhiệm hoàn toàn với chủ đầu tư về những phần việc mà nhà thầu phụ đãlàm Do đó, việc quản lý và giám sát chặt chẽ các nhà thầu phụ chính làđiều kiện đảm bảo sự thành công của dự án và bảo vệ uy tín của nhàthầu chính
Trên đây là một số kinh nghiệm trong đấu thầu của Tập đoàn xây dựng Hyundai(Hàn Quốc), tuy chỉ là một vài nét phác thảo rất sơ lược nhưng chắc rằngnhững nhận xét nêu trên sẽ rất hữu ích cho các doanh nghiệp xây dựng ViệtNam trong việc tìm hiểu và vận dụng thành công
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY
TNHH XÂY DỰNG TPHCM
Trang 25Trong nền kinh tế thị trường, các công ty TNHH xây dựng đều phải thông quaphương thức đấu thầu để tìm kiếm hợp đồng Đấu thầu xây dựng vì thế trởthành hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với các công ty Tuy nhiên, donhững nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, thực trạng đấu thầu tại cáccông ty TNHH xây dựng còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế, ảnh hưởngtrực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của các công ty Hiện nay, hình thứcđấu thầu chủ yếu tại các công ty TNHH xây dựng là đấu thầu hạn chế và chỉđịnh thầu, thực hiện thông qua các quan hệ ngoại giao của công ty Đây có thểlà những dự án lớn, từng hạng mục công trình, hay công tác nâng cấp, cải tạovà sữa chữa nhỏ… Tùy thuộc vào nguồn vốn và giá trị công trình, chủ đầu tưsẽ quyết định tổ chức đấu thầu theo quy chế hay theo hình thức chào hàng cạnhtranh Tuy nhiên dù ở hình thức nào, công ty vẫn
Trang 26phải tuân theo các bước của quy trình đấu thầu và phát huy lợi thế cạnh tranh
của mình Đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, do nhiều yếu tố “khách quan tiêu cực” đã hạn chế rất nhiều đến sự tham gia đông đảo của các nhà thầu.
Sau đây là các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả côngtác đấu thầu tại các công ty TNHH xây dựng
2.2.1Các nhân tố trực tiếp
• Cơ cấu tổ chức
Ở phần lớn các công ty TNHH xây dựng đều chưa có tổ, nhóm hay phòngnghiệp vụ về đấu thầu Mỗi khi nhận được hồ sơ dự thầu, giám đốc hay phógiám đốc sẽ phân chia công việc cho các bộ phận hữu quan để chuẩn bị hồ
sơ dự thầu Cụ thể phòng hành chánh chuẩn bị các hồ sơ về hành chính vàpháp lý, phòng kế toán chuẩn bị các nội dung thương mại và tài chính vàmột vài kỹ sư sẽ chuẩn bị các nội dung về kỹ thuật và dự toán Đến thờihạn nộp thầu, hồ sơ sẽ được tổng hợp từ các bộ phận trên Cách phân chia
công việc này đã ảnh hưởng rất nhiều đến “chất lượng” của đơn thầu Các
phòng ban không bắt kịp tiến độ công việc lẫn nhau, hồ sơ thiếu tính đồngbộ và thống nhất, tính bảo mật bị vi phạm Do đó, công việc kiểm tra vàđánh giá đơn thầu nhằm điều chỉnh chiến lược cạnh tranh thích nghi khôngđược chú trọng đúng mức
• Trình độ và năng lực nhân viên
Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng đơn thầu Tại các công tyTNHH xây dựng, khả năng ngoại ngữ (Anh văn) của nhân viên còn hạn chế,nhất là trong lĩnh vực đọc hiểu nên việc nắm bắt tất cả nội dung của điềukiện sách thực sự là một khó khăn Thật không dễ dàng để thông hiểumọi điều khoản của đơn thầu (thường rất dày), soạn thảo kỹ thuật và lậpdự toán chính xác trong một thời gian ngắn xác định Đối với những công trìnhlớn, hay yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ, chi tiết kiến trúc phức tạp… bảndự toán có khi đến vài trăm trang, chi chít con số, giá thành nên mức độchính xác hoàn toàn phụ thuộc vào vào người lập Do đó, để có được mộthồ sơ đạt yêu cầu, người lập cần có nhiều kinh nghiệm thi công, hiểu biếtsâu về đơn giá, định mức và đặc biệt phải am hiểu về công trình để bóc
ra toàn bộ khối lượng công việc đến từng chi tiết, càng chính xác cao càngđạt yêu cầu cạnh tranh Nhưng tại các công ty, đa số nhân viên chuyên tráchvề lập dự toán đều không được đào tạo chính quy, đúng chuyên ngành vàcó kinh nghiệm thi công thực tế…, ảnh hưởng rất nhiều đến khối lượng vàgiá dự thầu
• Hồ sơ kỹ thuật
Hồ sơ kỹ thuật là một phần quan trọng trong đơn thầu, là căn cứ tính toángiá thầu, phương án thi công, tiêu chuẩn nghiệm thu và mức lợi nhuận côngtrình Các điều khoản kỹ thuật bao gồm các quy định về các yếu tố vậtchất cấu thành công trình, chất lượng nhân công, thiết bị chuyên dùng, trìnhtự thực hiện, kiểm tra và chất lượng tổng thể của công trình Sau giá, hồ sơkỹ thuật còn là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh hữu hiệu nhưng cáccông ty TNHH xây dựng trong thời gian qua ít quan tâm đầu tư đúng mức Việcnghiên cứu các giải pháp kỹ thuật, phương án thay thế khả thi, đề xuấtbiện pháp cải tiến… vẫn chưa được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc.Trong đó, công tác khảo sát hiện trường rất quan trọng, làm cơ sở cho việctính toán, hoạch định phương án thi công, nguồn cung cấp các yếu tố đầuvào Khảo sát còn để tìm hiểu các đặc trưng xã hội của địa phương có liênquan trực tiếp và gián tiếp đến quá trình chuẩn bị thi công sau này
• Giá
Giá là yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất của nhà thầu, nếu giá cao sẽkhông trúng thầu còn giá thấp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh củađơn vị Giá đấu thầu thường bị ép xuống thấp do hồ sơ thiết kế không đượclàm kỹ, tổng dự toán và dự toán không chính xác và thường là thiếu hụt.Giá trúng thầu bị hạn chế trong phạm vi không chuẩn xác đó đã tác động
Trang 27trực tiếp đến kết quả đầu thầu Mặt khác, để có việc làm, duy trì hoạtđộng, mặc dù bị ép giá, các nhà thầu vẫn phải cạnh tranh nhau hạ giáthật thấp để mong cơ hội trúng thầu, chấp nhận lãi ít hay không có lãi,miễn là có việc làm Không ít trường hợp nhà thầu bị thua lỗ dù đã trúngthầu Và để hạn chế tổn thất này, có nơi giảm giá thành bằng nhiềucách, ảnh hưởng đến chất lượng công trình, gây thiệt hại cho chủ đầu tư vàxã hội Tuy nhiên, do các công ty TNHH có cơ cấu gọn nhe, năng động nênviệc cạnh tranh giá thường linh hoạt hơn các đối thủ khác Giá của công tygần như giá thực tế do trực tiếp thi công hay chỉ qua một nhà thầu phụ nênvẫn đảm bảo được tính cạnh tranh Bên cạnh đó, các công ty rất ít quan tâmđến vai trò của thông tin khi lập giá đấu thầu Thông tin về các đối thủcạnh tranh, thông tin về các yếu tố đầu vào như nhân công, công nghệ,nguyên vật liệu… sẽ là cơ sở trong việc điều chỉnh các chiến lược đấuthầu thích nghi.
Trang 28• Khả năng tài chính
Khả năng tài chính là điểm hạn chế lớn nhất của các công ty TNHH xâydựng trong đấu thầu Vì thiếu vốn, các công ty không thể đầu tư đổi mớicông nghệ, mất lợi thế cạnh tranh trong đấu thầu Ngoài ra, các hồ sơ dựthầu đều qui định khoản bảo lãnh trong ngân hàng tương đương 10%-15% giátrị hợp đồng Với tài sản và nguồn vốn hạn chế thì các công ty TNHHthường không đủ điều kiện để dự thầu, nói chi đến thắng thầu Nếu vayngân hàng cũng rất khó khăn, nhất là với đối tượng thành phần kinh tếngoài quốc doanh như của công ty Điều kiện vay, thủ tục thế chấp phức tạp,thời gian kéo dài đã ảnh hưởng đến cơ hội dự thầu của công ty Hiện nay,với qui định thanh toán sau khi nghiệm thu từng phần công trình và giữ lại từ3%-10% giá trị công trình để bảo hành đã gây khó khăn rất nhiều đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Như vậy, các công ty TNHH phảicó một tiềm lực tài chính thật sự vững mạnh mới hy vọng cạnh tranh trong tìnhhình hiện nay
• Công nghệ
Đây cũng là điểm hạn chế của các công ty TNHH xây dựng trong đấu thầu Donguồn vốn có hạn nên việc đầu tư đổi mới công nghệ, nhất là các côngnghệ hiện đại là một thách thức lớn đối với các công ty Khi tham gia cáccông trình có quy mô lớn, các dự án đấu thầu quốc tế thì yêu cầu vềcông nghệ cao chính là một rào cản cho các công ty TNHH xây dựng củanước ta Hiện nay, các hình thức thuê mua tài chính vẫn chưa thật sự phổ biếnnhằm giúp các công ty vượt qua trở ngại lớn này
• Quan hệ ngoại giao
Chính sách ngoại giao có vai trò đặc biệt đối với các hoạt động của ngành.Trong đấu thầu, ngoại giao để tiếp cận với chủ đầu tư, mở rộng quan hệ vớicác khách hàng tiềm năng, thu thập thông tin các dự án gọi thầu, thông tinvề các đối thủ cạnh tranh… Các công ty TNHH xây dựng tuy có hạn chế vềquy mô và phạm vi hoạt động nhưng đã nỗ lực rất nhiều trong việc đẩy mạnhcác quan hệ ngoại giao với các đối tượng hữu quan Chính nhờ vậy, số lượngđơn thầu thông qua hình thức đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu của công tyngày càng tăng Đây là điểm nổi bật trong đấu thầu tại các công ty TNHHxây dựng
• Tài sản vô hình
Như đã nêu ở phần trên, tài sản vô hình chính là lợi thế cạnh tranh hiệuquả nhất đối với tất cả các doanh nghiệp Trong ngành xây dựng, do cácđặc điểm về tính chất sản phẩm mà yếu tố này rất cần được chú trọngđúng mức Đây chính là điều kiện cần để công ty được mời tham dự trongcác hình thức đầu thầu hạn chế hay chỉ định thầu Tuy nhiên, do chưa nhậnthức đầy đủ vấn đề mà các công ty TNHH ít quan tâm và đầu tư nghiêmtúc vào chất lượng công trình cũng như các dịch vụ hậu mãi Công ty chỉchú ý đến các hình thức quảng cáo thông thường mà quên mất chính sảnphẩm công trình mới là phương thức quảng cáo hiệu quả nhất đối với cáccông ty xây dựng, đặc biệt là trong đấu thầu cạnh tranh
2.2.2Các nhân tố gián tiếp
• Việc quy định “một giá” khi bán hồ sơ dự thầu là không hợp lý, gây lãng phí
và hạn chế sự tham gia của các nhà thầu Giá bán một bộ hồ sơ dự thầurất cao, thường khoảng từ 500.000VND hay 50USD lên đến vài trăm USD đốivới các gói thầu lớn
• Chưa có quy định về thời gian tối đa để phê duyệt kế hoạch đấu thầu làm
ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công ty vì khoản tiền bảo lãnh thực
hiện hợp đồng đang còn trong ngân hàng Việc thông báo kết quả đấu thầu
cần được công khai với tất cả các nhà thầu nhằm chứng minh sự công bằngcạnh tranh và minh bạch trong quá trình chọn thầu, không thể chỉ thông báocho đơn vị trúng thầu
Trang 29• Với thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu theo các quy định hiện nay là rất ít nên
khó có thể chuẩn bị tốt đơn thầu, tình hình tài chính… và đó là kẽ hở làmphát sinh tiêu cực
• Vấn đề bảo mật hồ sơ, tài liệu thông tin trong đấu thầu còn nhiều tồn tại
nhiều tiêu cực như hầu hết các thông tin về quá trình xét thầu đều bị rò
rỉ ít nhiều, có những văn bản bổ sung nội dung dự thầu nộp sau thời điểmchấm dứt xét thầu, thông tin về thành viên hội đồng xét duyệt không đượcgiữ kín…
• Theo quy chế đấu thầu, nhà thầu phải bảo lãnh thực hiện hợp đồng bằng
khoản tiền nộp trước tương đương 10%-15% tổng trị giá hợp đồng nhưng cónhiều doanh nghiệp, toàn bộ tài sản chỉ tương đương 40% giá trị công trình,trong đó tài sản cố định chiếm hết 20% cộng với 10% nộp trước thì doanhnghiệp chỉ còn 10% năng lực tài chính Vậy là bị loại Đây là khó khăn rấtlớn đối với các nhà thầu Việt Nam
Trang 30• Khoản tiền bảo hành có ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà thầu Thông
thường, sau khi nghiệm thu, chủ đầu tư giữ lại khoảng 3%-10% trị giá công trìnhcho khoản bảo hành, đề phòng tình trạng chất lượng xuống cấp Khi hết thờihạn bảo hành (thường là một năm, tùy giá trị công trình), khoản tiềntrên được trả lại cho doanh nghiệp Nhưng trên thực tế doanh nghiệp muốnnhận lại đủ phải mất thời gian khá lâu cộng thêm một ít chi phí, đặc biệtđối với các công trình có vốn ngân sách…
• Đối với các công trình đấu thầu quốc tế, hồ sơ mời thầu đều do các các
công ty tư vấn nước ngoài chuẩn bị nên thể hiện rất nhiều bất lợi cho cácnhà thầuViệt Nam Việc chia dự án thành các gói thầu quá lớn, các điềukiện dự thầu cao và khó khăn làm cho các nhà thầu nước ta không thể dựthầu độc lập nên hầu hết các nhà thầu nước ngoài đều trúng vai tròthầu chính Cụ thể như các điều kiện rất cao về tiềm lực tài chính, côngnghệ, năng lực hoạt động, kinh nghiệm …
• Chủ đầu tư không có đủ vốn để thanh toán theo đúng tiến độ hợp đồng, nợ
đọng kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà thầu,nhất là các công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách
• Trong quá trình xây dựng thường có nhiều khối lượng phát sinh chưa được đề ra
trong thiết kế và dự toán, việc qui định cứng nhắc và thiếu chi tiết trong cácvăn bản pháp lý gây khó khăn cho cả phía nhà thầu và phía nhà đầu tư
• Nhiều yếu tố bất ngờ từ nguồn gốc xã hội đổ lên đầu nhà thầu như
vấn đề hạn chế phương tiện vận tải chở hàng hóa, vấn đề ách tắc tronggiải phóng mặt bằng…
Tóm lại, đấu thầu cạnh tranh là hoạt động không thể thiếu được trong nền kinhtế thị trường Bên cạnh những ưu điểm sẵn có, hoạt động đấu thầu ở nước tavẫn còn rất nhiều vấn đề cần thay đổi, gây khó khăn không ít cho các nhàthầu và hạn chế tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Nghiên cứu kỹ hoạt độngđấu thầu chính là phương thức tìm ra chiến lược cạnh tranh hiệu quả cho các đơn
vị Tuy nhiên, do hiệu quả hoạt động đấu thầu chính là sự kết hợp toàn diện vàthống nhất kết quả của tất cả các hoạt động còn lại trong doanh nghiệp xâydựng nên việc nghiên cứu đấu thầu không thể tách rời với nghiên cứu hoạtđộng sản xuất xây dựng của doanh nghiệp Sau đây là phần phân tích thựctrạng hoạt động tại các công ty TNHH xây dựng TPHCM
2.3 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUỘC MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
2.3.1 Các yếu tố kinh tế
Cùng với chính sách đổi mới toàn diện, hướng về nền kinh tế thị trường từnhững năm 1986, Việt Nam đã gặt hái được những thành tựu ban đầu khá vữngchắc với GDP tăng dần và đạt đến đỉnh cao vào năm 1995 (9,5%/năm) Mứctăng trưởng này có tác dụng tạo nền tảng căn bản cho những bước phát triểntiếp theo, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước Nền kinh tế tăng trưởng còn là đòn bẩy, kích thích sự phát triển của cácngành công nghiệp và dịch vụ, và đó chính là cơ hội phát triển tuyệt vời chongành xây dựng nước ta Sau đây là tác động chủ yếu của các yếu tố kinh tếđến hoạt động các doanh nghiệp thể hiện qua các cơ hội và nguy cơ
Cơ hội
• Vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăng đều qua các năm
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội tăng trung bình 14,6%/năm giai đoạn1997-1999 thể hiện tốc độ đầu tư mạnh mẽ vào các ngành, trong đó nguồnvốn ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng cao (61,6%) và tăng dần qua các nămchứng tỏ sự phát triển bền vững của nền kinh tế Vốn đầu tư xây dựng cơbản tập trung mạnh nhất ở các ngành công nghiệp, vận tải, kho bãi, cơ sở hạtầng… Đây là cơ hội rất thuận lợi cho sự phát triển của ngành xây dựng nướcta
Trang 31Bảng 3: VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TOÀN XÃ HỘI GIAI
ĐOẠN 1997-1999
Nghìn tỷ đồng
% Nghìn tỷ đồng
% Nghìn tỷ đồng
20.500,00
21,3
21.000,00
20,2
Vốn đầu tư trực tiếp của
00 28,6 24.300,00(Niên giám thống kê TPHCM 25,2 18.900,00 18,2
1999)
• Lãi suất giảm
Lãi suất và xu hướng của lãi suất có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm,tiêu dùng và đầu tư, và do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của cácdoanh nghiệp Trong những năm vừa qua, lãi suất ở nước ta tương đối ổn định vàcó xu hướng giảm dần từ năm 1996 Lãi suất tín dụng hiện hành của ngânhàng Ngoại thương đối với những khoản vay VND ngắn hạn là 0,75%/tháng, vaydài hạn là 0,80%/tháng; USD là 7%/năm Lãi suất giảm sẽ gia tăng nhu cầu vayvốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
• Hệ thống thuế và mức thuế mới
Luật thuế Giá trị gia tăng (VAT) có hiệu lực thi hành trong cả nước từ ngày01.01.1999 Đây là một bước cải cách hệ thống thuế ở nước ta nhằm giảmbớt các bất hợp lý trong cách tính thuế, khuyến khích sản xuất kinh doanh vàhòa nhập với các nước trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, mức thuế VAT ởmột số ngành còn cao và phương pháp khấu trừ chưa thật hợp lý đã ảnhhưởng nhiều đến mức chi phí và thu nhập của doanh nghiệp, như các doanhnghiệp thuộc ngành xây dựng
Nguy cơ
• Tổng sản phẩm trong nước giảm
Sau một giai đoạn tăng trưởng từ 5,1% (1990) đến 9,5% (1995), mức tăng trưởngGDP ở nước ta đã bắt đầu có xu hướng giảm dần Cụ thể là năm 1996 là9,3% đến năm 1998 còn 5,8% và năm 1999 là 4,8% Đây là mức tăng trưởngthấp nhất trong giai đoạn 10 năm gần đây GDP giảm do nhiều nguyên nhân nhưhệ thống chính sách không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, hệthống ngân hàng và tài chính yếu kém…, và thêm vào đó, cuộc khủng hoảngtiền tệ Châu Á đã ảnh hưởng không ít đến mức tăng trưởng của nền kinhtế nước ta Đây chính là nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngsản xuất kinh doanh ở các ngành
• Đầu tư nước ngoài giảm
Chính sách đầu tư nước ngoài đã thu hút một nguồn vốn đầu tư đáng kể chonền kinh tế, đóng góp khoảng 10% GDP và chiếm 20% tổng số thuế Tổng sốvốn đầu tư nước ngoài tính đến tháng 9/1999 là 33,9 tỷ USD với 1.757 dự ánđang còn hoạt động Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài trong GDP từ mức15% trong năm 1995 đã giảm xuống chỉ còn 2,5% trong năm 1998 và ước đoánkhoảng 2,2% trong năm 1999 do cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực Điềunày đã tác động mạnh đến tốc độ đầu tư của các dự án và ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động của ngành xây dựng
Trang 32Vốn Số dự án
Đồ thị1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 1990-1999
9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
• Lạm phát chưa ổn định
Lạm phát cao hay thấp đều có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế.Lạm phát ở nước ta trong giai đoạn qua chưa thật ổn định Nếu như năm 1992 tỷlệ lạm phát là 17,5% giảm xuống còn 4,5% năm 1996, sau đó tăng lên 9,2% năm
1998 và đến năm 1999 là 0,1% Tỷ lệ lạm phát biến động thất thường đã ảnhhưởng xấu đến nền kinh tế Điều này chứng tỏ mặc dù đã đạt được tốc độtăng trưởng cao, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thật ổn định Đây là yếu tố đedọa đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và đặc biệt tácđộng trực tiếp đến các quyết định đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam
2.3.2 Các yếu tố luật pháp và chính trị
Cơ hội
• Sự ổn định về chính trị là một ưu thế của Việt Nam so với các nước trong
khu vực, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư từ các nước vào Việt Nam
• Sau gần 5 năm gia nhập vào ASEAN, Việt Nam đã tạo ra một môi trường khu vực tốt hơn, quan hệ song phương với các nước thành viên trong khu vực
ngày càng được cải thiện và nâng cao Hiện nay, Việt Nam đang chuẩn bị gianhập Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO) và Hệ thống toàn cầu về ưu đãithương mại cho các nước đang phát triển Chính những yếu tố chính trị này đãtạo ra những tiền đề quan trọng cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư trong vàngoài nước phát triển mạnh
• Quốc hội đang tiếp tục hoàn chỉnh các văn bản luật đã ban hành, soạn thảo các dự luật mới… nhằm tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi và
ổn định để kích thích phát triển sản xuất, tiến đến hòa nhập với quốc tế
Đối với ngành xây dựng, Nghị định 52/1999/NĐ-CP về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành ngày 08/07/1999) và Nghị định 88/1999/NĐ-CP về Quy
chế đấu thầu (ban hành ngày 04/09/1999) đã thể hiện quyết tâm của Chínhphủ trong việc cải cách môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho hoạtđộng đầu tư xây dựng ở nước ta
• Luật đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài cùng với các chủ trương, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế, những cải cách về thủ tục hành chính… đã và đang từng bước tạo điều kiện thu hút và kích thích các
doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh tại ViệtNam
• Đối với ngành xây dựng, Luật đầu tư nước ngoài (1987) đã thực sự đem lại
một vận hội lớn, thúc đẩy toàn ngành xây dựng chuyển sang một giai đoạnphát triển mới Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tập trung chủ yếu vào cácdự án công nghiệp, khách sạn-văn phòng cho thuê, xây dựng… đã đem lạimột khối lượng công việc rất lớn cho các doanh nghiệp xây dựng nước ta trongthời gian qua
8 4
6 5
Tr ie ä
u
4 6 4
2 3
2 1
1 5 8
1 1 1 9 2 6 3 4 3
7 3 34 26 2
Trang 34• Các văn bản pháp lý, các chính sách, quy định của Nhà nước chưa đồng bộ và thống nhất, hay thay đổi gây nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến
hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Luật Đất đai,các quy định về đền bù và giải tỏa chưa cụ thể, rõ ràng đã ảnh hưởng rấtnhiều đến hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay
2.3.3Các yếu tố văn hóa và xã hội
• Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 78 triệu người (theo cuộc điều tra dân sốnăm 1998), dự báo đến năm 2000 sẽ là 80 triệu người, với tốc độ gia tăng
dân số tự nhiên là 1,75% thì nhu cầu về nhà ở đang là một vấn đề cấp
thiết Dân số toàn miền Nam từ Nha Trang trở vào có khoảng hơn 31 triệungười, chiếm khoảng 40% dân số Trong đó TP.HCM có khoảng 5 triệu ngườivới mức độ di dân từ các khu vực khác đến với tốc độ cao 1,5%/năm(chỉ tính sự di dân hợp pháp, có đăng ký hộ khẩu) Đây là thành phố đôngdân nhất nước và được xem như một thị trường đầy tiềm năng về các loạihình nhà ở và các cơ sở vật chất, dịch vụ kèm theo
• Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lối sống người dân đã có những
biến đổi Một gia đình lớn bao gồm nhiều thế hệ sống chung với nhau đãdần dần được biến đổi và thay thế bằng mẫu gia đình hạt nhân Mô hình giađình mới này trung bình chỉ có cha mẹ và con cái, đang có xu hướng này cànggia tăng ở các khu vực đô thị lớn Các cặp vợ chồng trẻ, các cá nhân vì nhucầu học tập và công việc đang có khuynh hướng sống tách riêng và độc lậpvới gia đình Với lối sống và quan niệm sống như vậy sẽ làm cho nhu cầu vềcăn hộ, chung cư… tăng lên nhanh chóng
• Thu nhập khả dụng gia tăng đáng kể Theo điều tra của Tổng cục Thống kê,
nếu so với năm 1990, hiện nay có 51,77% hộ gia đình trong cả nước có mứcsống khá lên, trong đó số hộ khá ở nông thôn tăng cao hơn thành thị(nông thôn: 52,74%; thành thị: 47,26%) Mức thu nhập (khả dụng) bình quân đầungười cũng có khuynh hướng gia tăng đã ảnh hưởng đến các qui định tiêudùng, tiết kiệm và đầu tư của người dân Với một bộ phận dân cư có thunhập cao hơn bình thường làm phát sinh các nhu cầu về nhà ở cao cấp tiệnnghi, các biệt thự, nhà nghỉ ở ngoại thành… Một bộ phận dân cư còn lạivới mức thu nhập gia tăng tuy thấp hơn nhưng bước đầu đã có tích lũy hayđầu tư vào các hình thức bất động sản bằng nhiều hình thức như mua nhà trảgóp, mua đất để xây nhà… Tất cả các yếu tố trên đã tạo ra một lượng cầuđáng kể cho thị trường xây dựng nước ta
• Các chính sách kinh tế, xã hội của Chính phủ đã tạo một lượng cầu đáng kể
cho ngành xây dựng như: các chính sách cải tạo khu dân cư, phát triển các khuvực đô thị mới, xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách, xã hội……
2.3.4Các yếu tố tự nhiên
Cơ hội
Môi trường tự nhiên ở nước ta đang ở mức báo động Mức ô nhiễm và hủyhoại về môi trường, môi sinh ở các khu vực nội thành đang rất nghiêm trọng,ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân Mặt khác, các nhà máy, xínghiệp ở nước ta hầu hết đều tập trung ở các khu dân cư và được xây dựng từrất lâu, công nghệ lạc hậu, cũ kỹ gây ô nhiễm môi trường xung quanh Chính vìvậy, Nhà nước đang chủ trương di dời tất cả các nhà máy ở nội thành ra cáckhu công nghiệp mới, các khu chế xuất ở ngoại thành Do vậy, nhu cầu xâydựng về nhà máy, các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp mới sẽ tăng caotrong thời gian sắp tới Sự xuống cấp của môi trường tự nhiên ở các đô thịlớn sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng chọn nơi ở của các cư dân thành phố Cáckhu vực dân cư mới xa trung tâm với cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi sẽ là sự lựa
chọn của họ Nhu cầu xây dựng vì vậy cũng gia tăng.
Đe dọa
Nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm với hai mùa chính:
mùa khô và mùa mưa Với điều kiện khí hậu như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều
Trang 35đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp, đặc biệt là cácdoanh nghiệp xây dựng Cụ thể như làm gián đoạn quá trình thi công, kế hoạchcung cấp nguyên vật liệu, tiến độ thi công bị kéo dài, vốn ứ đọng… Do vậy,các doanh nghiệp xây dựng cần chú ý đến nhân tố thời tiết khi hoạch định kếhoạch kinh doanh và soạn thảo hồ sơ đấu thầu.
2.3.5Các yếu tố công nghệ
Cơ hội
Chủ trương đổi mới và hòa nhập thế giới của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền
đề cho sự phát triển vượt bật của công nghệ Tiến bộ công nghệ làm tăng
năng suất, chất lượng và từ đó giảm giá thành, góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh
Trang 36cho sản phẩm Trong thời gian gần đây, công nghệ xây dựng ở nước ta đã cónhững thay đổi về chất Cùng với sự phát triển kinh tế, nguồn vốn đầu tư nướcngoài tăng dần trong tỉ trọng đầu tư chung nên đã có những thay đổi nhận thứcvề chất lượng công trình Điều này là tác nhân tích cực trong việc nâng cao trìnhđộ quản lý cũng như chuyên môn của ngành xây dựng nước ta, góp phần hộinhập với các nước trong khu vực.
Qua các yếu tố nêu trên, có thể nhận diện được những cơ hội cũng như đe dọacủa môi trường vĩ mô tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam Các chủtrương, chính sách về chính trị, đầu tư, văn hóa xã hội của Chính phủ sẽ tạotiền đề cho các doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinhdoanh Tuy nhiên do nước ta chỉ mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trườngchưa lâu, nên chắc chắn sẽ còn rất nhiều nhân tố phát triển chưa đồng bộvề kinh tế, pháp luật,công nghệ Tất cả các yếu tố này sẽ là lực cản, đe dọađến tiến trình phát triển chung
2.4 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUỘC MÔI TRƯỜNG NGÀNH
2.4.1 Các đối thủ cạnh tranh
Thị trường ngành xây dựng TPHCM gồm có các đối thủ cạnh tranh chính sau: các công ty xây dựng quốc doanh, các công ty xây dựng ngoài quốc doanh và các công ty xây dựng đầu tư nước ngoài.
2.4.1.1 Giới thiệu chung về các đối thủ cạnh tranh
• Các công ty xây dựng quốc doanh
Các công ty xây dựng quốc doanh thành phố bao gồm các đơn vị quốc doanhtrung ương (chiếm 45%) và quốc doanh địa phương (chiếm 55%) (quốc doanh thànhphố và quốc doanh quận huyện) Nhìn chung, các đơn vị này có quy mô lớn hơncác doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trong đó doanh nghiệp quốc doanh trungương là những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Theo số liệu thống kê năm 1998,số lượng đơn vị quốc doanh trên địa bàn thành phố là 112 đơn vị, chiếm 14%tổng số các doanh nghiệp xây dựng toàn thành phố Hầu hết các doanh nghiệpquốc doanh có số lượng lao động lớn, khoảng 100-500 người, có tổng công ty lựclượng lao động lên đến hàng vạn người Vốn bình quân một đơn vị năm 1998 là
28 tỉ đồng, bằng 12,5 lần các đơn vị ngoài quốc doanh Hiện nay, lực lượng xâydựng quốc doanh vẫn là lực lượng chủ đạo, chiếm tỉ trọng lớn về giá trị đầu tưdoanh nghiệp cũng như sản lượng xây lắp, và tập trung chủ yếu ở một số bộcó chuyên ngành xây dựng dân dụng-công nghiệp, giao thông, thủy lợi, lắp đặtvà sản xuất cấu kiện…
Trang 37• Các công ty xây dựng ngoài quốc doanh
Theo số liệu thống kê năm 1998, số lượng các công ty xây dựng ngoài quốcdoanh trên địa bàn thành phố là 624 đơn vị, chiếm khoảng 76% tổng số các đơn
vị xây dựng trên thành phố, bao gồm các công ty cổ phần (chiếm 1,4% số lượngđơn vị), các công ty TNHH (91,2%) và các doanh nghiệp tư nhân (7,4%) Trong đócác công ty TNHH là lực lượng chính rất năng động và thích nghi với nền kinh tếthị trường nên có thể xem như đại diện của thành phần kinh tế xây dựng ngoàiquốc doanh Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rộng rãi trong mọi lãnhvực của ngành xây dựng, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Vớichủ trương khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thành phần kinh tếphát triển đan xen nhau, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã không ngừngkhẳng định vị trí của mình và là hạt nhân phát triển của ngành Tuy nhiên, tronggiai đoạn hiện nay, tuy có thực lực nhưng các đơn vị này chỉ hoạt động ở dạngthầu phụ, bị ép giá và không đạt hiệu quả kinh tế Trên thực tế, ngoại