Rủi ro của chứng khoán : Với những đặc điểm riêng biệt của một định chế tàichính bậc cao, thị trường chứng khoán có những tính chấtnội tại trong cơ chế hoạt động của nó như tính gián tiế
Trang 2Phần mở đầu.
Thị trường chứng khoán Việt nam đã ra đời vào ngày20/07/2000 bằng sự khai trương chính thức của Trung tâm giaodịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh Đây là kết quả của mộtquá trình chuẩn bị tỷ mỷ và toàn diện của Nhà nước từnăm 1995 Như vậy, có thể thấy rằng thị trường chứngkhoán với các mặt hoạt động của nó còn rất mới mẽđối với Việt Nam, cả đối với nhà nước lẫn công chúng đầutư
Nền kinh tế của chúng ta đã bước sang giai đoạn đổimới toàn diện theo hướng kinh tế thị trường mà đỉnh caocủa nó là thị trường chứng khoán Đứng về khía cạnh kinhtế, thì nền kinh tế không thể phát triển nếu không cómột hệ thống tài trợ lành mạnh cho các dự án đầu tư.Người ta phân hệ thống tài trợ này ra thành hệ thống ngânhàng và thị trường chứng khoán Ngân hàng là người trunggian giữa người tiết kiệm và các doanh nghiệp cần vốn, vì
vậy hình thức tài trợ được gọi là tài trợ gián tiếp Tài trợ
gián tiếp trong suốt quá trình hình thành và phát triển củanó, đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong cung cấp và lưuthông vốn tiền tệ trong nền kinh tế Nhưng đến một mứcđộ phát triển nhất định của nền kinh tế, hình thức tài trợnày đã dần dần bộc lộ nhiều yếu điểm, hạn chế về
điều kiện, thủ tục, thời hạn cho vay, hạn mức tín dụng, sự đơn điệu trong phương thức đầu tư và huy động vốn Kết quả là
đã hình thành một hình thức tài trợ mới, khắc phục đượcnhững hạn chế trên : Đó là huy động vốn và đầu tư trênthị trường chứng khoán Ở mức độ phát triển cao của nềnkinh tế, những người có vốn đã có đủ điều kiện về môitrường pháp lý, môi trường tài chính và trình độ đểchuyển vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất, thông qua hìnhthức mua bán các loại giấy tờ có giá do người cần vốnphát hành, chứng nhận chủ quyền về các khoản vốn đượcsử dụng gắn liền với các đặc quyền mà người sở hữunó được thụ hưởng Các loại giấy tờ có giá này gọi làcác chứng khoán Địa điểm hay cơ chế mua bán các loạichứng khoán đó chính là thị trường chứng khoán Hình thứctài trợ mới này, không cần một tổ chức trung gian như ngân
hàng, được gọi là tài trợ trực tiếp.
Ưu điểm của thị trường chứng khoán là chi phí cho vay thấp
vì không phải qua một tổ chức trung gian; nguồn vốn trong thịtrường này phần lớn là tài trợ dài hạn Nhà đầu tư khi muachứng khoán còn có quyền tham gia quản lý các doanhnghiệp mà mình đầu tư, làm tăng động lực tiềm năng trongquản lý Thị trường chứng khoán còn tạo điều kiện cho
– 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 3việc điều hoà vốn trong nền kinh tế thông qua việc muabán, chuyển nhượng các chứng khoán.
Tuy vậy, thị trường chứng khoán cũng có những hạn chếnhất định của nó, mà đặc biệt là mức độ rủi ro cao trongđầu tư chứng khoán Hình thức tài trợ thông qua thị trườngchứng khoán là tài trợ trực tiếp, nhưng loại hình đầu tư lại
là gián tiếp : Nhà đầu tư chỉ sở hữu chứng khoán, không
trực tiếp quản lý tài sản thực của dự án đầu tư Do vậy,
sự lượng định giá trị của chứng khoán trên thị trường sẽphụ thuộc vào các thông tin về tài chính của doanh nghiệpphát hành Chính điều này là một trong những nguyên nhânchính tạo nên tính rủi ro cao trong đầu tư chứng khoán
Mục tiêu của bất kỳ một nhà đầu tư nào là tối đa hoá
lợi ích và tối thiểu hoá rủi ro
– 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 4Đối với đầu tư chứng khoán, vấn đề tối thiểu hoá rủi rocàng có tầm quan trọng đặc biệt Làm thế nào để cóthể thống nhất được mâu thuẫn giữa lợi ích và rủi ro, thựchiện một các hữu hiệu mục tiêu đầu tư như dự tính ? Vấnđề cốt lõi là khống chế hay giảm thiểu một cách có hiệuquả mức độ rủi ro Trong luận văn này chúng tôi sẽ cốgắng đề ra một phương pháp nhằm đạt được một sự chọnlựa hợp lý giữa thu nhập và rủi ro trong mối quan hệ biệnchứng của hai nhân tố này, đáp ứng được mong muốn củanhà đầu tư khi tham gia một dự án đầu tư chứng khoán.
Các thuật ngữ sử dụng trong luận văn này là nhữngthuật ngữ được sử dụng tương đối phổ biến trong các sáchvề Toán học và Kinh tế học Tuy nhiên, do chưa có sự thốngnhất các thuật ngữ trong lãnh vực chứng khoán và thịtrường chứng khoán, các thuật ngữ này có thể được viếtkhác đi trong một số sách hay tài liệu khác, nhưng kháiniệm hay định nghĩa của chúng có ý nghĩa không đổi
phát hành (Theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-1998).
Chứng khoán thường gồm các loại cơ bản sau: chứngkhoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán dẫn xuất, cácchứng từ tài chính ngắn hạn khác
1.1.1.1 Chứng khoán vốn : Cổ phiếu.
Cổ phiếu là một chứng thư xác nhận sự góp vốn vàquyền sở hữu phần vốn đã góp vào doanh nghiệp do doanhnghiệp phát hành và được chia lãi (gọi là cổ tức) của phầnvốn đã góp theo quy định của doanh nghiệp, được hưởngcác quyền do Điều lệ của doanh nghiệp quy định
Phân loại cổ phiếu doanh nghiệp :
Cổ phiếu thường có một số đặc điểm riêng như :
– Việc chia cổ tức được thực hiện theo nguyên tắc lời ăn, lỗ chịu
– Cổ tức chỉ chia sau lãi trái phiếu, cổ tức ưu đãi
Trang 5– Cổ đông được hưởng các quyền lợi như quyền bầucử, quyền ưu tiên mua trước, quyền nhận cổ tức,quyền sử hữu tài sản doanh nghiệp, quyền đối vớitài sản còn lại, quyền bình đẳng với vốn dự trữ củadoanh nghiệp, quyền bán, chuyển nhượng cổ phiếu trênthị trường
Cổ phiếu ưu đãi : Khác với cổ phiếu thường ở những
điểm sau :
– Cổ tức được quy định rõ trên cổ phiếu
– Cổ tức ưu đãi được nhận trước cổ tức thường Nếu doanh nghiệp có lãi không
Trang 6đủ chia thì cổ tức ưu đãi sẽ có thể được tích luỹ lại để trả vào những năm sau.
– Cổ đông ưu đãi được hoàn vốn trước cổ đông thường
1.1.1.2 Chứng khoán nợ : Trái phiếu.
Có hai loại chứng khoán nợ cơ bản, phụ thuộc vào người phát hành ra chúng : Trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ
Trái phiếu doanh nghiệp là một chứng thư xác nhận
một khoản vay nợ của doanh nghiệp đối với người chodoanh nghiệp vay trong một thời hạn nhất định Doanhnghiệp sẽ trả lãi vay và hoàn vốn trong hạn hoặc đến hạnvay quy định trên trái phiếu đó Mục đích phát hành tráiphiếu của doanh nghiệp là huy động vốn đi vay hoặc tăngvốn đi vay của doanh nghiệp
Trái phiếu chính phủ và trái phiếu của các cơ quan Nhà nước :
Việc huy động vốn vay của chính phủ và các cơ quannhà nước bằng phương thức phát hành trái phiếu đã vàđang trở nên một phương thức huy động quan trọng trên thịtrường chứng khoán
Đặc điểm của trái phiếu chính phủ là độ tin cậy rấtcao về khả năng thanh toán lợi tức trái phiếu và vốn trongđiều kiện kinh tế – xã hội bình thường, không có chiếntranh, đảo chính, khủng hoảng chính trị
Các nhà đầu tư khi lựa chọn phương án đầu tư vào tráiphiếu thường dồn vốn vào trái phiếu chính phủ hơn là tráiphiếu doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các nước đangphát triển Có nhiều loại trái phiếu chính phủ : Trái phiếukho bạc, trái phiếu của các cơ quan nhà nước, trái phiếucông trình
1.1.1.3 Chứng khoán dẫn xuất : Gồm Đặc quyền mua
(right certificates); Cam kết bán (warrants); hợp đồng quyềnlựa chọn (Option contracts), Hợp đồng tương lai (Futurecontracts), Các chứng từ tài chính này ra đời từ các giaodịch chứng khoán, được quyền chuyển đổi sang chứng khoánqua hành vi mua bán, cho nên người ta gọi là chứng từ có
nguồn gốc chứng khoán hay chứng khoán dẫn xuất.
Đặc quyền mua :
Những cổ đông góp vốn mua cổ phiếu thường chính làlực lượng nòng cốt gây dựng công ty, duy trì và chia sẻ vậnmệnh công ty Do đó, công ty khi phát hành cổ phiếu mớithường dành cho họ được quyền mua toàn bộ hay một phầnsố cổ phiếu mới phát hành Cổ đông sẽ nhận đượcchứng chỉ chứng nhận quyền mua cổ phiếu mới, trong đóquy định số lượng cổ phiếu được quyền mua, giá mua, và thờihạn mua, đó là Đặc quyền mua Cổ đông có thể thực
Trang 7hiện quyền mua, nhưng cũng có thể chuyển nhượng, bánquyền mua cho một người khác để kiếm lời.
Đặc quyền mua có đặc điểm là ngắn hạn, từ 1 tuần đến 6 tuần, giá đăng ký mua cổ phiếu ghi rõ trong đặc quyền mua thường nhỏ hơn giá thị trường của cổ phiếu
Cam kết bán :
Cấp cho trái chủ hoặc cổ đông khi phát hành chứngkhoán mới quy định lượng trái phiếu hoặc cổ phiếu thườngđược quyền mua chứng khoán với mức giá đăng ký cao hơngiá thị trường vào thời điểm phát hành trong thời hạn tươngđối dài, có khi là vĩnh viễn Như vậy, cam kết bán có giátrị nếu như giá của cổ phiếu trong tương lai
Trang 8tăng vượt giá đăng ký Với tính chất này, Cam kết bánđược coi như một phương tiện đầu cơ, và có thể tách rời tráiphiếu để mua bán trên thị trường riêng biệt.
Hợp đồng quyền lựa chọn – Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai.
Các hợp đồng này là sự thoả thuận mua bán chứngkhoán với một giá quy định trong thời gian tương lai và hyvọng giá chứng khoán sẽ tăng lên thì thực hiện quyền muachứng khoán hoặc giá sẽ giảm xuống thì thực hiện quyềnbán chứng khoán để kiếm lời hay để phong toả rủi ro
Đối với hợp đồng quyền lựa chọn : Các bên ký kết
hợp đồng có thể thực hiện hợp đồng để mua và bán chứngkhoán thực sự, nhưng cũng có thể không thực hiện hợp đồngmà lựa chọn hoặc bán hợp đồng cho người khác, hoặc huỷhợp đồng đó trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng Hợpđồng quyền lựa chọn có 2 loại : Hợp đồng quyền chọn muavà hợp đồng quyền chọn bán
Đối với hợp đồng kỳ hạn : các bên ký kết hợp đồng
thực hiện hợp đồng tại thời điểm tương lai quy định trong hợpđồng tại mức giá được thoả thuận trước
Hợp đồng tương lai cũng tương tự như hợp đồng kỳ hạn
nhưng khác nhau cơ bản về sự tiêu chuẩn hoá giá trị hợpđồng, loại tài sản, ngày và nơi chuyển giao Do đó ngườigiao dịch chỉ cần thoả thuận về giá của hợp đồng thôngqua các sở giao dịch Lỗ lãi của hợp đồng tương lai được thanhtoán hàng ngày
Hợp đồng quyền lựa chọn, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồngtương lai ngày càng đa dạng hơn và trở thành công cụ hữuhiệu để phong toả rủi ro
1.1.1.4 Các loại chứng khoán tài chính khác : Chứng
khoán tài chính là chỉ những loại chứng có giá thuộc vềcông cụ tín dụng thương mại, có thể dùng thay tiền Chứngkhoán tài chính chủ yếu bao gồm : kỳ phiếu, hối phiếu,séc, thẻ tín dụng ., có thể dùng để thanh toán các giaodịch hàng hoá, trả lương lao động, thanh toán nợ Đặcđiểm chung của các loại chứng khoán này là có kỳ hạnthanh toán ngắn
1.1.2 Thị trường chứng khoán :
Thị trường chứng khoán là một thuật ngữ dùng để
chỉ nơi hoặc cơ chế giao dịch mua bán chứng khoán.
Căn cứ vào tính chất lưu hành chứng khoán, thị trường
chứng khoán chia làm 2 cấp : Thị trường sơ cấp : Còn gọi
là thị trường phát hành, dùng để chỉ hoạt động phát hành chứng khoán ra thị trường của các doanh nghiệp
Thị trường sơ cấp là nơi tạo vốn cho đơn vị phát hành Vai tròcủa thị trường này là tạo hàng hoá cho thị trường giao dịchvà làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Trang 9Thị trường thứ cấp : Là thị trường thay đổi quyền sở hữu
chứng khoán cho những cổ phiếu hay trái phiếu đã pháthành và đang lưu thông Việc mua bán chứng khoán trên thịtrường thứ cấp không làm tăng nguồn vốn chủ thể pháthành ra nó, nhưng là cơ sở quan trọng cho việc hình thành thịgiá cổ phiếu, để đánh giá doanh nghiệp, để hình thànhgiá cả cổ phiếu bán ra thị trường sơ cấp ở lần phát hànhsau
Căn cứ vào việc tổ chức các hoạt động giao dịch tại mộtđịa điểm nhất định hay không có địa điểm tập trung, người tachia thị trường chứng khoán ra làm 2 loại :
Thị trường chứng khoán tập trung : Tổ chức trên một
địa điểm nhất định gọi là Sở
Trang 10giao dịch chứng khoán.
Vậy, Sở giao dịch chứng khoán là địa điểm hoạt độngchính thức của thị trường chứng khoán có tổ chức, là nơigặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán để thươnglượng, đấu giá và mua bán chứng khoán Đó cũng là cơquan phục vụ cho mọi hoạt động liên quan đến chứng khoán
Hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán dựa trên 3nguyên tắc : Nguyên tắc trung gian; nguyên tắc đấu giá;nguyên tắc công khai thông tin Ngoài ra, để bảo vệ quyềnlợi nhà đầu tư, Sở giao dịch chứng khoán chỉ lựa chọn và chophép những chứng khoán có phẩm chất cao được mua bánqua Sở giao dịch chứng khoán Những chứng khoán đó gọilà những chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết
Thị trường chứng khoán không tập trung – Thị trường OTC : Còn gọi là thị trường chứng khoán phi chính thức, chỉ
những hoạt động giao dịch những chứng khoán không đượcphép bán qua Sở giao dịch chứng khoán Thị trường nàykhông cần phải có trụ sở giao dịch chính thức như các sàngiao dịch, giá chứng khoán quyết định bởi sự thoả thuậncủa bên mua và bên bán Lúc đầu thị trường này mang tínhtự phát, nhỏ bé, tồn tại một cách khách quan do nhu cầumua bán những chứng khoán không đủ tiêu chuẩn niêmyết, nhưng dần dần nó trở nên lớn mạnh với giá trị giaodịch không thua kém thị trường chính thức
1.2 RỦI RO & THU NHẬP CỦA CHỨNG KHOÁN :
1.2.1 Rủi ro của chứng khoán :
Với những đặc điểm riêng biệt của một định chế tàichính bậc cao, thị trường chứng khoán có những tính chấtnội tại trong cơ chế hoạt động của nó như tính gián tiếpcủa loại hình đầu tư; tính trung gian của hoạt động mua bánchứng khoán; tính tương đối trong việc đánh giá chất lượngchứng khoán; tính phong phú đa dạng của các hình thức mua
bán chứng khoán (hiện tại, tương lai, thanh toán ngay, thanh
toán chậm, quyền lựa chọn…) Đáng lưu ý là tính dễ thoát
ly giữa cung – cầu về chứng khoán và ngay giữa “cầu thực”và “cầu ảo”; tính nhanh chóng, tức thì của các giao dịchchứng khoán; tính nhạy cảm và dễ lan toả của các xuhướng và tâm lý mua bán Đồng thời, thị trường chứngkhoán còn mang tính đa chiều, khi lên, khi xuống của thị giáchứng khoán, khác với tính chất một chiều của các thịtrường hàng hoá-dịch vụ thông thường chỉ có đi lên hoặc
đi xuống kéo dài Do vậy, kinh doanh trên thị trường chứng
khoán có đặc trưng nổi bật là tính may rủi Độ nhạy cảm
kinh doanh chứng khoán còn cao hơn (cả về phía nhà đầu tư ,lẫn về phía đời sống kinh tế – xã hội) nếu xét đến những
bí mật thuộc bản chất, cơ chế hình thành cung – cầu, giácả và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là
Trang 11xu hướng luôn luôn có sự tách rời (mà thường là khá xa)giữa giá trị thực và giá trị ảo của chứng khoán, tạo nênbởi sự cộng hưởng của những suy đoán, những ngộ nhậnmang tính chủ quan xuất phát từ kinh nghiệm, từ những giảđịnh mang tính hy vọng, ước nguyện, lý trí chủ quan và cả sựphổ biến của tâm lý đám đông, của hiệu ứng đàn cừu.
Tất cả những lý do trên đã tạo ra mức rủi ro khi đầu tư trên thị trường chứng khoán cao hơn nhiều so với hoạt động trên những thị trường hàng hoá – dịch vụ thông thường khác.
Trang 12Rủi ro khônghệ thốngRủi ro
tổng thể
Rủi ro hệ thống
Dựa vào phạm vi tác động, các loại rủi ro có thể chialàm hai nhóm : Rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống
Rủi ro hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường, là loại
rủi ro có thể xảy ra dưới những tác nhân của nền kinh tế
vĩ mô trong nước và trên thế giới Rủi ro hệ thống bao gồm
các loại sau : Những rủi ro về biến động chính trị, rủi ro từ
các chính sách kinh tế
– tài chính của nhà nước, rủi ro pháp luật, rủi ro lạm phát hay thiểu phát, rủi ro lãi suất và tỷ giá.
Rủi ro không hệ thống hay còn gọi là rủi ro riêng của
doanh nghiệp phản ánh rủi ro riêng biệt của doanh nghiệp,
độc lập với rủi ro thị trường Một số loại rủi ro không hệthống cần được xem xét trước khi quyết định đầu tư tài
chính như : Rủi ro tài chính, rủi ro do quản lý yếu kém của
doanh nghiệp gây ra, do may rủi trong kinh doanh, rủi ro thông tin thất thiệt, rủi ro do sai lầm về sản phẩm, chiến lược tiếp thị
Rủi ro hệ thống là rủi ro của nền kinh tế vĩ mô, vớiloại rủi ro này chỉ có thể phòng tránh phần nào bằngnhững dự đoán hợp lý Rủi ro không hệ thống có thểphòng tránh bằng sự đa dạng hoá đầu tư (Hình 1.1) Có thểhiểu tác dụng của đa dạng hoá một cách trực quan : Đa dạnghoá có thể làm giảm thiểu đáng kể các rủi ro riêng củadoanh nghiệp Nguyên nhân là do nguồn rủi ro của cácdoanh nghiệp khác nhau sẽ độc lập với nhau, do đó các rủi
ro sẽ không đồng thời xảy ra Sự giảm thiểu rủi ro trong
trường hợp này còn được gọi là nguyên tắc bảo hiểm,
bởi vì các công ty bảo hiểm kinh doanh dựa trên nguyêntắc đa dạng hoá rủi ro bằng cách tham gia bảo hiểm nhiềunguồn rủi ro độc lập, mỗi nguồn chỉ là một phần rất nhỏtrong toàn bộ danh mục của công ty
Rủi ro
Số chứng khoán.
Hình 1.1 Rủi ro hệ thống và không hệ thống.
Như vậy, rủi ro tồn tại “tự nhiên”, gắn liền với sự tồn tạicủa chứng khoán Không thể hoàn toàn không có rủi ro,
Trang 13chỉ có rủi ro cao hay thấp, và lãi suất, tức là thước đomức thu nhập, thường có quan hệ đồng biến với rủi ro Đâycũng chính là điều tạo nên sự cuốn hút của thị trườngchứng khoán và bản thân chứng khoán.
Tính không thích rủi ro của nhà đầu tư : Đa số các
nhà đầu tư đều không thích rủi ro Lý do là vì : Trong trườnghợp rủi ro xảy ra, lợi ích hay tài sản của họ sẽ bị giảm
Ta so sánh lợi ích của một nhà đầu tư trong 2 trường hợp : Đầu tư khi có và không
Trang 14có rủi ro Từ Lý thuyết Kinh tế Vi mô, ta biết rằng hàm
Lợi ích của của cải là một hàm số lõm, giá trị của hàm này tăng theo độ tăng của tài sản, nhưng tăng với tốc độ
giảm dần, vì lợi ích biên tế có xu hướng giảm dần.
Trên hình 1.2, ta thấy khi độ chênh lệch tài sản bằng nhau:
/∆W1/ = - (W1 - Wo) = ∆W2 = W2 -Wo
Do lợi ích biên giảm dần, độ chênh lệch lợi ích sẽ khác nhau :
/∆U1/ = -(U1 – Uo) > ∆U2 = U2 - Uo
Giả sử một nhà đầu tư có thể lựa chọn 2 phương án :
Phương án 1 : Đầu tư vào chứng khoán không rủi ro với
mức lãi suất rf, sau kỳ đầu tư nhà đầu tư sẽ thu được tài
sản kỳ vọng là W0 với lợi ích Uo một cách chắc chắn
Phương án 2 : Đầu tư vào chứng khoán có rủi ro Sau kỳ
đầu tư tài sản kỳ vọng thu được vẫn là W0 Tuy nhiên, vì tàisản có rủi ro nên W0 không chắc chắn Để đơn giản ta giảsử trong phương án này có hai trường hợp xảy ra : Nhà đầu
tư thu được tài sản cuối kỳ đầu tư có thể là W1 hoặc W2 vớicùng xác suất 0.50 và lợi ích tương ứng U1 và U2 Với xácsuất như vậy, W1 và W2 sẽ đối xứng nhau qua giá trị kỳ vọng
Hình 1.2.- Đồ thị Giá trị tài sản W – Hàm Lợi ích U.
Lợi ích kỳ vọng từ việc đầu tư có rủi ro là :
1.2.2 Thu nhập chứng khoán : Thu nhập chứng khoán
được cấu thành từ :
• Phần thu nhập được chia định kỳ, còn gọi là cổ tức hay trái tức.
Trang 15• Độ chênh lệch giá chứng khoán lúc mua và lúc bán.
Trong 2 thành tố trên, nhà đầu tư chú trọng đặc biệt ởthành tố thứ hai Việc dự đoán sự tăng giá chứng khoáncó sức thu hút đặc biệt đối với nhà đầu tư, tạo nên sựsôi động và hấp dẫn của thị trường chứng khoán
Lãi suất của một kỳ đầu tư, ký hiệu r, được tính
theo công thức sau :
Trang 161
–Giátrịthunhậptrongkỳ(
V í d u ï : C o å t ư
Trang 17gTỷ lệ tăngtrưở
ng của côn
g ty pháthành
Khi
y ravớigiáchứngkhoánvàonămsau,dođókhôngthểcóđảmbảochắcchắnđốivớilãisuấtcuốicùng,và
Với : E(r) – Lãi suất
kỳ vọng của một chứng khoán.
p ( s ) – X a ù c s u a á t x a û y r a t ì n h h u o á n g s c u û a
Trang 18DAN H M U Ï C Đ A À U T Ư – C A Ù C K H A Ù
I N I E Ä M :
1.3.1 D
a
n h m u ï c đ a à u t ư :
Củacảivậtchấtcủamột
xã hộichủ yếuđược xácđịnh bởinăng lựcsản xuấtcủa nềnkinh tế.Trong nềnkinh tếhiện đại,của cảivật chấtbao gồmcác tài sản thực
và tài sản tài chính.
Các tài sảnthực là của cảivật chất như đấtđai, nhà xưởng,máy móc thiết bị, và kiến thứcsử dụng trong sảnxuất hàng hoá vàdịch vụ
Các tài sảntài chính là cácchứng từ có giánhư cổ phiếu vàtrái phiếu Cácloại chứng khoánnày ngay lập tứckhông trực tiếpđóng góp vàonăng lực sảnxuất của nền kinhtế Các tài sảnthực tạo ra lợi tứcthuần cho nền kinhtế, còn các tàisản tài chính thìđịnh ra sự phânphối lợi tức hoặc
Trang 19của cải cho
là tập hợp
các tài sản
dù danh mục
có thể bao
gồm các tài
Qu yế t địn h pha ân bổ tài sả n đầ u tư
làsựchọnlựaphânbổvốnvàocácloạitàisảntổngquátvà
quy ết địn h cho
ïn lọc chư ùng kho án
cụthểlàsựchọnlựaloạichứngkhoáncábiệtsẽđượcđầ
u tưtrongsốcáctàisảnđãchọn
Dan
h mụ
c kha
û thi :
là dan
h mụ
c các chứng khoán mà một nhà đầu tư có thể nắm giữ thông qua hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán
Danh mục đầu tư hiệu quả : là
một danh mục khảthi mà khi nắm giữ nó, nhà đầu
tư đạt được :
• Hoặc là lãi suất kỳ vọng cao nhất với cùng một mứcđộ rủi ro so với các danh
Trang 20mục đầu tư khác.
• Hoặc là có cùng lãi suất kỳ vọng với độ rủi ro nhỏ nhất
Các nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ chọn đầu tư vàomột danh mục đầu tư hiệu quả vì có mức lãi suất kỳ vọngcao nhất hay có mức rủi ro thấp nhất, bằng vào lượng tàisản hiện có
1.3.2 Quyền số của chứng khoán – Sự bán
khống.
Quyền số của chứng khoán thứ i, ký hiệu Xi, là tỷsố của giá trị chứng khoán thứ i với giá trị của toàn danhmục
Xi = Vi / V
Trong đó : V i – Giá trị bằng tiền đầu tư vào chứng khoán i
V – Tổng giá trị bằng tiền của danh mục hay tổng vốn đầu tư.
Như vậy, tổng các quyền số của một danh mục đầu tư bằng đơn vị
Quyết định phân bổ tài sản của một nhà đầu tư cũngchính là xác định quyền số các chứng khoán trong danh mụcđầu tư
Giá trị của quyền số một chứng khoán trong danh mụcđầu tư có thể dương hay âm Trong trường hợp quyền số có
giá trị âm, ta nói chứng khoán bị bán khống, nghĩa là một
nhà đầu tư đã bán đi chứng khoán đó khi nhà đầu tưkhông sở hữu nó Để bán khống một chứng khoán, nhàđầu tư phải vay nó của một người khác, và sau đó mua lạichứng khoán đểø hoàn lại cho người sở hữu
1.3.3 Lãi suất danh mục đầu tư :
Người ta tính lãi suất một danh mục đầu tư bằng
Phương pháp bình quân gia quyền, là tổng tích số các quyền
số của các chứng khoán với lãi suất tương ứng trong danhmục
mục đầu tư ři – Lãi suất chứng khoán thứ i
Xi – Quyền số chứng khoán thứ i
Kỳ vọng lãi suất của danh mục đầu tư :
Do lãi suất của một danh mục đầu tư cũng là một biếnngẫu nhiên, chuyển sang kỳ vọng đẳng thức (1.3) ta nhận được lãi suất kỳ vọng của danh mục đầu tư :
n n
Trang 21rp = E(řp) = E(ΣXiři) =
Ở đây ri = E(ři)
1.3.4 Phương sai danh
i = 1
i =1 j
≠i
i i i i j i
Trang 22, ngoa
øi
ra
σ
= Co v(ř ,ř
)
=
R
σ σ
ta nhậnđược :
i
i
n n
ij i j
Các công thức (1.5a – 1.5c) còn cho thấy : Do hệ số tương quan < 1 nên sự đa dạng hoá danh mục đầu tư sẽ làm giảm
– 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2
Trang 23thiểu rủi ro (vì σP2 < ΣXiXjσiσj = (ΣXi
σi)2)
1.3.5 Hiệp phương sai :
Theo công thức tính hiệp
phương sai, ta có :
σpk = E(ř p – r p )( ř k – r k ) = E(ř p – ř k ) –
E(ř k )r p – E(ř p )r k + E(r p r k )
= E(ř p ř k ) –E(ř p )r k - r p E(ř k ) + r p r k =
i= 1
E[(r(
− r ) (r(
=
1
(1.6)
Với : σik là hiệp phương sai của
chứng khoán i của danh mục với
chứng khoán k
Quy tắc thực hành tính hiệp
tắc như sau : Ta viết biểu thức của
hai đại lượng ngẫu nhiên cạnh
nhau, cách nhau bởi dấu phẩy, và
tiến hành 4 bước
1 Loại bỏ hằng số trong các biểu
thức của các đại lượng ngẫu
nhiên vì các hằng số này không
ảnh hưởng tới việc tính toán
phương sai hay hiệp phương sai
2 Phân nhóm những thành phần
còn lại của mỗi biểu thức các
đại lượng ngẫu nhiên và nhân hai
biểu thức lại theo cách nhân
thông thường
3 Thay thế các số nhân
bởi các hiệp phương sai tương ứng
4 Thay thế các hiệp
phương sai có dấu bình phương bằng các
phương sai tương ứng Tacó công thức cần tìm
Ví dụ : Tính hiệp phương
sai của rp = X1r1 + X2r2 + +Xnrn và rk
Ta viết : Cov (X 1 r 1 +
X 2 r 2 + +X n r n , r k )
1 : Không cần thiết
vì không có hằng số trong biểu thức của r p và
r k 2 : Thực hiện phép nhân đại lượng lãi suất :
(X 1 r 1 + X 2 r 2 + + X n r n )* r k =
p
, r
k
)
=
– 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 24Ta nhận được công thức tính
hiệp phương sai của rP với rk
– 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 25Với nhận xét Var(X) = Cov(X,X) ta áp dụng quy tắc trênđể tính cả phương sai của một đại lượng ngẫu nhiên.
1.3.6 Hệ số tương quan của hai chứng khoán trong một danh mục đầu tư :
Rij = Corr (ri,rj) = Cov (ri,rj) / σi σj = Cov(ri/σi, rj/ σj)
Hệ số tương quan chính là hiệp phương sai của kỳ vọngmột đơn vị độ lệch chuẩn Hệ số tương quan của hai chứng
khoán cho biết hướng biến đổi tương đối của chứng khoán
này đối với chứng khoán kia, khi có sự thay đổi của ngoạicảnh
1.4 QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN :
1.4.1 Quản lý danh mục đầu tư :
Quản lý danh mục đầu tư là thực hiện các chức năng sau :
• Sử dụng “hàm lợi ích” hay tính không thích rủi ro của
nhà đầu tư để xây dựng một danh mục đầu tư hiệu
quả, dự đoán mức thu nhập và rủi ro của danh mục
• Xác định mức độ thực thi của danh mục đầu tư trong thực tế, đồng thời đối chiếu việc thực thi với kế hoạchđể có hướng thay đổi và điều chỉnh danh mục
• Điều chỉnh danh mục đầu tư, lựa chọn tập hợp hành vi mua bán chứng khoán khi các hoàn cảnh về kinh tế, môi trường thay đổi
Chức năng đầu tiên của việc quản lý danh mục đầu tưlà xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả, phụ thuộc vào việcchấp nhận rủi ro của khách hàng ở một mức lãi suấtnhất định, là chức năng quan trọng nhất trong quản lý danhmục đầu tư Tuy nhiên, một danh mục đầu tư hiệu quả trongmột môi trường kinh tế không thể bất biến, mà luôn vậnđộng thông qua sự thay đổi của thị trường và của môitrường kinh tế Nếu những thay đổi về hoàn cảnh kinh tếhay điều kiện thị trường làm cho danh mục đầu tư không cònthích hợp với điều kiện ban đầu hình thành, lúc đó danh mụccó thể trở thành không hiệu quả và nhà đầu tư cầnphải điều chỉnh lại để khôi phục tính hiệu quả của danhmục Do đó mà hai chức năng sau của việc quản lý danhmục đầu tư cũng có tầm quan trọng đặc biệt
1.4.2 Vai trò của quản lý danh mục đầu tư đối với thị trường chứng khoán :
– Sự cần thiết của danh mục đầu tư đối với việc đầu tư
chứng khoán :
Khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán, tất cảcác nhà đầu tư đều phải đối phó với rủi ro Một số rủi ronhà đầu tư phải chấp nhận, còn một số khác thì không
Biết rằng nhà mình có thể bị trộm lúc vắng nhà, nhưng
– 25
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 26người ta không vì thế mà không dám ra phố khi cần thiết.
Nếu phải chấp nhận rủi ro, nhà đầu tư vẫn có thể thựchiện một số biện pháp nhằm giảm thiểu mức tác hạicủa chúng đối với tài sản của mình Quản lý danh mục
đầu tư tốt sẽ làm giảm đi rất nhiều mức độ rủi ro tài sản
so với đầu tư một cách tự phát.
Cách chọn lựa các chứng khoán là quyết định cá nhân
của mỗi nhà đầu tư, nhưng vấn đề quản lý danh mục đầu
tư là rất cần thiết, vì ngoài tác dụng làm giảm rủi ro,
tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả đầu tư cho nhà đầu tư, nócòn góp phần làm ổn định và phát triển thị trường chứngkhoán như là một kênh dẫn vốn đầu tư đầy hiệu quả, tạođiều kiện để nền kinh tế quốc dân ổn định và phát triển
– 26
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 27– Những hạn chế của thị trường chứng khoán cần tính đến
khi đầu tư:
Đầu tư trên thị trường chứng khoán là hoạt động tàichính phức tạp và nhiều rủi ro.Vì vậy, nếu nhà đầu tưmuốn thành đạt thì cần phải chuẩn bị một số kiến thức như: Chứng khoán có những loại nào; tính chất của trái phiếuvà cổ phiếu; làm thế nào để đọc và hiểu các bảng yếtgiá; phân tích tình hình giá cả, điểm số, sự vận động củathị trường chứng khoán Rất nhiều nhà đầu tư có hiểubiết rất ít về những kiến thức trên, vì vậy, hành vi đầu tưcủa họ luôn mờ mịt và mang tính đầu cơ, may rủi Rủi rocủa những nhà đầu tư này thường rất lớn
Ngay cả đối với những nhà đầu tư cẩn thận và kinhnghiệm, thị trường chứng khoán cũng tác động lên họnhững mặt hạn chế của nó như : Đầu cơ tạo cung – cầu giảtạo để nâng / hạ giá chứng khoán; mua bán nội gián từnhững thông tin mật; thông tin sai sự thật; lũng đoạn thịtrường; thôn tính doanh nghiệp , việc quản lý, kiểm soát,bảo hiểm không tốt trên thị trường chứng khoán dẫn tớiphá sản doanh nghiệp, có thể gây tác động lớn, thậm chíkhủng hoảng, rối loạn đến toàn bộ hoạt động kinh tế khác,dẫn đến khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Những mặt hạn chế này thường bị cấm bởi luật pháp,nhưng cũng có thể được thực hiện một cách tinh vi đểđánh lừa người đầu tư, tạo ra rủi ro lớn khi đầu tư trên thịtrường chứng khoán
Để khắc phục những hạn chế này, đòi hỏi nhà đầu tưphải dành nhiều thời gian, công sức và cả vật chất choviệc học tập kiến thức và nghiên cứu thị trường, điều màkhông phải nhà đầu tư nào cũng có thể đáp ứng được
– Vai trò của quản lý danh mục đầu tư đối với thị trường chứng khoán :
Bản thân thị trường chứng khoán rất nhạy cảm do nólà thị trường của thông tin Khi nhà đầu tư yếu kém vềkiến thức quản lý danh mục đầu tư tham gia vào thị trườngchứng khoán, họ có thể làm cho thị trường rối loạn bởi cáchành vi mua bán theo cảm tính, dựa vào những đánh giáchủ quan, những niềm tin sai lạc không có cơ sở và có thểdẫn đến suy thoái, khủng hoảng kinh tế Trong lịch sử thịtrường chứng khoán thế giới đã có rất nhiều những thí dụnhư vậy, một thí dụ là cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 –
1933 : Thị trường chứng khoán Mỹ phát triển tốt đẹp nhiều
năm liền dẫn đến tư tưởng quá lạc quan nơi các nhà đầu
tư, người ta cứ nghĩ chỉ cần nắm giữ chứng khoán là có thể làm giàu ngay Thời ấy, cứ trong 3 người Mỹ thì có một người chuyên mua bán cổ phiếu, nước Mỹ biến thành một sòng bạc vĩ đại với các cổ phiếu thời thượng của các công
Trang 28ty hoạt động trong các lĩnh vực hàng không, truyền thanh Do có quá nhiều người không có chuyên môn sâu và đầu tư một cách tự phát, nên chỉ cần một số công ty hoạt động kém hiệu quả công bố tỷ lệ cổ tức thấp hẳn đi vào mùa hè 1929 cũng đủ làm ngòi nổ để Wall Street sụp đổ vào
“ngày thứ Hai đen tối” (28–10–1929) Thị trường chứng khoán sụp đổ, ngân hàng khánh kiệt, các doanh nghiệp công nghiệp đua nhau đóng cửa vì không còn nhu cầu tiêu dùng nào nữa; sản lượng công nghiệp Mỹ giảm đến 45% chỉ sau
3 năm, toàn nước Mỹ lún sâu vào khủng hoảng kinh tế Đại suy thoái đã ập đến và lần đầu tiên trên toàn thế giới đã trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Ở Việt Nam, trong các phiên giao dịch chứng khoán tạiTrung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh sau ngàymở cửa, đã xuất hiện hiện tượng cầu chứng khoán quálớn so với cung, dẫn đến nguy cơ có khả năng đầu cơ,khiến các cơ quan chức
Trang 29năng đã phải đặt ra biên độ dao động giá chứng khoán là5% cho phiên giao dịch đầu và 2% cho các phiên giao dịch sau.Đây là biện pháp tình thế để tránh hiện tượng đầu cơ,nâng giá tạo rủi ro cho các nhà đầu tư, vốn dĩ còn xa lạ vớithị trường chứng khoán nhưng tham gia mua chứng khoán rấtđông theo “phong trào”, chưa có hiểu biết thực tế về địnhgiá chứng khoán để giao dịch Nhưng biện pháp tình thế nàykhông thể sử dụng lâu dài, nhất là khi thị trường chứngkhoán phát triển với số loại cổ phiếu giao dịch tăng lên,không phải 3 loại như hiện nay, vì sẽ làm cho thị trườngchứng khoán đóng băng, không hoạt động theo quy luậtcung cầu, mất hẳn tính sôi động và không thu hút đượcnhà đầu tư, không thực hiện được chức năng là một kênhdẫn vốn đầu tư mạnh cho nền kinh tế.
Những hiện tượng tiêu cực trên hoàn toàn có thể phòngtránh được nếu nhà đầu tư có hiểu biết đầy đủ về quảnlý danh mục đầu tư, hay uỷ thác danh mục đầu tư của mìnhcho những người có chuyên môn giỏi Vai trò của quản lýdanh mục đầu tư sẽ còn quan trọng hơn khi Việt Nam hìnhthành một thị trường OTC, với việc mua bán chứng khoánchất lượng kém hơn, và giá chứng khoán được hình thành dothoả thuận Có thể thấy một số vai trò sau của quản lýdanh mục đầu tư :
+ Tạo ổn định và phát triển cho hoạt động của thị trường chứng khoán nói riêng, của cả nền kinh tế quốc dân nói chung.
+ Phòng tránh rủi ro, tăng hiệu quả đầu tư cho nhà đầu
tư khi tham gia thị trường chứng khoán, phân phối lại một cách hợp lý thu nhập xã hội.
+ Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán khắc phục các hạn chế và phát huy cao nhất các vai trò của mình, nhất là vai trò kênh dẫn vốn trong nền kinh tế.
+Thay đổi việc phân bổ vốn vào các ngành kinh tế hiệu quả hơn, làm cho nền kinh tế phát triển theo hướng hoàn thiện cơ cấu kinh tế.
1.5.VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
Quản lý tốt danh mục đầu tư sẽ giúp cho thị trường chứngkhoán hoàn thành tốt vai trò của mình trong nền kinh tế thịtrường Thị trường chứng khoán có những vai trò chủ yếusau :
a)- Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động và phân bổ vốn : Thị trường chứng khoán có tác dụng quan
trọng trong việc điều tiết xu hướng đầu tư, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, phân bổ và tái phân bổ hợp lý cácnguồn vốn hiện có
Trang 30Nhờ có thị trường chứng khoán mà cổ phiếu của cácđơn vị kinh tế có thể trực tiếp hay thông qua các tổ chứctrung gian để phát hành và bán rộng rãi trong công chúngđể huy động vốn Các nguồn vốn được đảm bảo và sửdụng lâu dài Đối với Chính phủ cũng có thể huy độngvốn bằng cách phát hành các loại chứng khoán như côngkhố phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc Đây là những côngcụ phổ biến để huy động nguồn vốn cần thiết cho chi tiêuvà đầu tư của Chính phủ Có thị trường chứng khoán thìcác loại chứng khoán trên được mua bán dễ dàng hơn vì khicần tiền, chủ sở hữu có thể đưa chứng khoán ra bán, tínhthanh khoản của chứng khoán hấp dẫn người mua chứngkhoán nhiều hơn, tạo điều kiện tốt cho việc huy động vốn vàkhuyến khích công chúng tiết kiệm để tham gia đầu tư.
b)- Thị trường chứng khoán là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Chính phủ :
Trang 31Chính phủ, mà cụ thể ở đây là Ngân hàng trung ương giữvai trò điều hoà lưu thông tiền tệ Ngân hàng trung ươngtiến hành mua bán các chứng khoán trên thị trườngnhằm thay đổi lượng tiền cung ứng, qua đó điều tiết kinh tế
vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo sự vận hành ổn địnhcủa nền kinh tế
c)- Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp mọi thông tin về kinh tế : Dựa vào tính công khai thông tin tài chính trên thị
trường chứng khoán, các nhà đầu tư và những nhà hoạchđịnh kinh tế có thể kịp thời nắm rõ và hiểu một cách toàndiện về tình hình kinh tế, thị trường Giá cả giao dịch cũngnhư sự thay đổi lượng giao dịch của các loại chứng khoántrên thị trường chứng khoán đều là sự phản ánh trực tiếphoặc gián tiếp của các loại thông tin kinh tế
d)- Thị trường chứng khoán thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động : Thị trường chứng khoán chỉ chấp
nhận cho mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp cóđủ các điều kiện : Kinh doanh hợp pháp, tài chính lành mạnh,có lãi và dân chúng chỉ mua cổ phiếu của những doanhnghiệp có tiếng tăm, kinh doanh thành đạt Ngoài ra, sựbiến đổi giá cổ phiếu một doanh nghiệp còn cho thấy tìnhhình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, gâyáp lực mạnh đối với doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệpkhông ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động
e)- Thị trường chứng khoán là nguồn thu hút vốn đầu tư nước ngoài : Thị trường chứng khoán là nơi các nhà đầu tư
nước ngoài theo dõi và nhận định hoạt động của cácngành, các doanh nghiệp trong nước, nó còn tạo môi trườngthích hợp để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dễ dàng,bằng cách mua cổ phiếu hoặc cộng tác với các doanhnghiệp trong nước thành lập công ty cổ phần rồi phát hànhcổ phiếu ra thị trường
1.6 Mô hình xây dựng danh mục đầu tư theo H Markowitz :
1.6.1 Mô hình và các giả thiết :
Hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất của việc quảnlý danh mục đầu tư là xây dựng một danh mục đầu tư hiệuquả, với mục tiêu quan trọng là giảm thiểu rủi ro cho khoảnđầu tư vào thị trường chứng khoán Trong những năm 50 và
60 của thế kỷ 20, các nhà đầu tư đã nhận thức đầy đủvề các tác động của rủi ro, nhưng để phòng ngừa rủi romột cách hiệu quả, các nhà đầu tư buộc phải định lượngđược rủi ro H.Markowitz đã đưa ra mô hình định lượng rủi rocủa một danh mục đầu tư gồm nhiều loại tài sản vào năm
1952 Mô hình của ông dựa trên các giả thiết sau :
1 Với mỗi dự án đầu tư, nhà đầu tư chỉ quan tâm đến giá trị kỳ vọng và phương sai của lãi suất trong một kỳ
Trang 32đầu tư, trong đó lãi suất kỳ vọng là thước đo của thu nhập và phương sai là thước đo duy nhất của rủi ro.
2 Tuyệt đại đa số các nhà đầu tư được giả định là dị ứng với rủi ro, nên họ luôn chọn một dự án đầu tư có lãi suất kỳ vọng càng cao, phương sai càng thấp càng tốt.
3 Thị trường không có lực cản Trong một thị trường không có lực cản, mọi chứng khoán được mua bán tức thời với bất kỳ giá nào và bất kỳ khối lượng nào, một chứng khoán có thể được chia nhỏ ở tỷ lệ bất kỳ, không cấm bán khống, không có chi phí giao dịch, hạn chế về luật lệ hay thuế đối với việc mua bán chứng khoán.
Các giả thiết trên của mô hình không đúng trong thực tế,chúng được đặt ra để đơn giản hoá lý thuyết xây dựngmô hình Mô hình được chấp nhận hay không sẽ phụ
Trang 33thuộc vào việc áp dụng mô hình đó cho kết quả phù hợp vớithực tế đến mức nào.
Dựa trên các giả thiết đó, có thể thiết lập mô hình để giải quyết việc xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả
gồm một trong 2 bài toán sau :
Bài toán thuận : Với giá trị rp xác định, tìm quyền số các chứng khoán của danh mục
đầu tư sao
Bài toán nghịch : Với
khoán của danh mục đầu tư sao cho r p cực đại.
Mô hình trên xem lãi suất kỳ vọng là thu nhập và phươngsai của nó là thước đo duy nhất rủi ro một danh mục đầu
tư, nên còn được gọi là Mô hình phân tích phương sai – lãi
suất kỳ vọng.
1.6.2 Hàm lợi ích nhà đầu tư
Một dự án đầu tư muốn được chọn phải thoả mãn mụctiêu cực đại hoá lợi ích của nhà đầu tư trong những điềukiện cụ thể Do đó, việc tìm ra hàm lợi ích đối với mộtnhà đầu tư xác định có vai trò rất quan trọng trong việc xâydựng danh mục đầu tư hiệu quả Hàm lợi ích được thiết lậpdưới đây là hàm quy đổi, biến số của hàm sẽ khôngphải là giá trị tuyệt đối W của tài sản, mà là lãi suất củadanh mục đầu tư r
Giả sử rp là giá trị kỳ vọng của lãi suất, ta tìm giá
trị gần đúng của U(r) Khai triển chuổi Taylor của
hàm U(r) chung quanh lân cận điểm rp
U(r) = U(rp) + U’(rp)[ r – rp ] + 1/2 U” (rp)[ r – rp ]2 + θ (r)Với θ (r) → 0 khi r → rp
Chuyển sang giá trị kỳ vọng :
E(U(r)) = E(U(rp) + U’(rp)[ r – rp ] +1/2 U” (rp)[ r – rp ]2 )E(U(r)) = U(rp) + U’(rp) E[ r – rp ] +1/2 U” (rp) E[ r– rp]2 Theo định nghĩa và tính chất của kỳ vọng
và phương sai, ta có :
E[ r – rp] = rp – rp = 0Và E[ r – rp ]2 = σ 2
Như vậy : u = E(U(r)) = U(rp) +
1/2U” σ 2
hay u = u (r P , σ2 )
Bây giờ ta tìm hàm quy đổi của một đường đẳng ích (u
= u0 = hằng số ) với giả thiết lãi suất r có phân phối
chuẩn, tức là giá trị của r và phương sai của nó độc lập
Trang 34) và cho đạo hàm hằng
số triệt tiêu:
Ở đây U’ – Lợi ích biên theo rp ( > 0 vì hàm lợi ích đồng
biến với mức của cải) U” – Tính chất biến thiên
của Lợi ích biên (< 0 vì lợi ích biên giảm dần) Có
thể xem U’’’ ≈ 0 do U” có mức thay đổi nhỏ khi r biến
đổi
Từ đó ta có : drp = -(U”/2U’)dσ2
Tỷ lệ -U”/U’ là độ biến thiên của lợi ích biên Tỷ lệnày càng lớn chứng tỏ nhà đầu tư có tính không thích rủi
ro càng cao Giả sử với nhà đầu tư, trong lân cận của lãisuất kỳ vọng rP tỷ lệ này không đổi
Gọi RA là hệ số không muốn rủi ro tuyệt đối :
RA = -U”/U’; khi đó drp = ½ RA.dσ2
p
p p
Trang 35Tích phân hệ thức vừa tìm được ta có :
Hằng số U0 xuất hiện trong quá trình tích phân được
chấp nhận như giá trị hàm đẳng ích quy đổi, vì nó thoả mãncác tính chất :
+ Là hàm số của r và σ 2
+ Giá trị của U 0 tăng theo r P nhưng bị bù trừ bởi độ rủi ro
σ 2
Trong thực tế, rp
và σ2 thường được cho dưới dạng %, công thức
vừa dẫn ra cóthứ nguyên
của σ2 là bình phương của %, nên để đưa giá trị thực
tế vào công thứctrên ta cần điều chỉnh bằng hệ số 1/100 Sau khi chuyển sang giá trị kỳ vọng, công thức trở thành : E(U o ) = E(r p ) - 0.005 R A σ2
Như vậy, chúng ta đã nêu ra tầm quan trọng của việcquản lý danh mục đầu tư đối với thị trường chứng khoántrong việc thực hiện vai trò của thị trường chứng khoán đốivới nền kinh tế Dựa trên mô hình phân tích phương sai-lãisuất kỳ vọng, chúng tôi cố gắng đưa ra một hướng giảiquyết vấn đề quan trọng nhất của quản lý danh mục đầu
tư : Xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả khả thi trên thị
trường chứng khoán Ngoài ra, luận văn cũng sẽ đề cập
tới (ở mức độ nêu phương hướng) việc đánh giá và điều
chỉnh danh mục đầu đang được áp dụng phổ biến, là haichức năng quan trọng khác của công việc quản lý danh mụcđầu tư
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG I.
Thị trường chứng khoán là một phạm trù kinh tế - lịch sử,nó xuất hiện một cách tất yếu khách quan, khi nền kinh tếthị trường đạt tới một mức phát triển nào đó, để đápứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, cho phát triển sản xuất.Hàng hoá trên thị trường chứng khoán là các chứngkhoán và các chứng từ có giá mang nguồn gốc chứngkhoán Người đầu tư trên thị trường chứng khoán tuy làngười đầu tư trực tiếp, nhưng không trực tiếp sở hữu nhữngtài sản vật chất thực, mà chỉ sở hữu những chứng khoántức là giấy chứng nhận sở hữu Chứng khoán có sinh lờinên là một loại hàng hoá có tính thanh khoản, do có nhucầu mua và bán để được hưởng thu nhập từ lợi nhuận củachứng khoán mang lại; nhưng mặt khác, chứng khoán cũngcó rủi ro rất lớn, nhà đầu tư chứng khoán có thể kiếmđược rất nhiều lời nhưng cũng có thể thiệt hại, bị mất vốn,
bị trắng tay khi chứng khoán bị giảm giá hay doanh nghiệpphát hành chứng khoán mà họ sở hữu bị thua lỗ, bị phásản Việc quản lý tốt danh mục đầu tư là công cụ hữu hiệugiúp cho nhà đầu tư giảm thiểu được các rủi ro trên
Để quản lý tốt danh mục đầu tư, cần thiết phải xây dựngmột danh mục đầu tư hiệu quả, đánh giá và điều chỉnhdanh mục đầu tư Nhà kinh tế H Markowitz đã đề ra một môhình áp dụng cho việc xây dựng danh mục đầu tư với hai luậnđiểm sau :
1 Phương sai của lãi suất kỳ vọng một (danh mục) chứng khoán là thước đo rủi ro đầy đủ và hữu hiệu.
2 Đa dạng hoá đầu tư bằng cách nắm giữ nhiều loại tài
sản không biến đổi cùng hướng sẽ làm giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.
Hai luận điểm trên được sử dụng chúng tôi sử dụng trongluận văn này để thiết lập một danh mục đầu tư hiệu quảtrên thị trường chứng khoán, nhằm mục đích giảm thiểu rủi
ro và nâng cao thu nhập của nhà đầu tư Việc xây dựngthành công một danh mục đầu tư hiệu quả sẽ tạo thuận lợirất lớn cho quản lý tốt danh mục đầu tư khi tham gia thịtrường chứng khoán, tạo điều kiện cho thị trường chứngkhoán và cả nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định
Trang 392 CHƯƠNG II.
XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ
KHẢ THI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
2.1 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ
HIỆU QUẢ :
Ta biết rằng đa dạng hoá đầu tư sẽ có thể làm giảmrủi ro Vấn đề mà chúng tôi đề cập dưới đây là chọncách thức đa dạng hoá một danh mục đầu tư như thế nàođể đạt được hiệu quả cao nhất
Khi một nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán,phòng tránh rủi ro là yếu tố quan trọng hàng đầu, nênchúng tôi sẽ xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả bằngcách giải bài toán thuận trước, sau đó khảo sát tới bàitoán nghịch
Bài toán thuận sẽ được giải bằng 2 bước :
a) Xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả có 2 chứng khoán;b) Xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả có n >2 chứng khoán
2.1.1 Trường hợp có hai chứng khoán :
Với hai chứng khoán sẽ không có tối ưu hoá, khi chotrước lãi suất kỳ vọng mong muốn, vì luôn luôn có 2 ràngbuộc đẳng thức :
rp = X1r1 + X2r2
1 = X1 + X2
Hệ 2 phương trình 2 ẩn số trên cho một hệ nghiệm(x1,x2) xác định (vi phạm điều kiện số ràng buộc < số ẩn
số của việc giải bài toán quy hoạch phi tuyến bằng phương
pháp nhân tử Lagrange – Xem [8] trang 85) Tuy nhiên, để có
cái nhìn tổng quan về tác động tương hỗ giữa các chứngkhoán, đồng thời tìm ra các tính chất của một danh mụcđầu tư hiệu quả, tuỳ trường hợp ta sẽ chỉ sử dụng mộttrong hai phương trình trên
2.1.1.1 Đường biểu diễn :
Ta tìm đường biểu diễn tập hợp các danh mục đầu tư trong mặt phẳng (σ,rp)
Giả sử X1, X2, là quyền số của danh mục đầu tư hiệu
quả với lãi suất kỳ vọng mong muốn là rP Khi đó tập hợp
các danh mục khả thi sẽ nghiệm đúng hệ phương trình vàbất phương trình sau :
Trang 40Dấu đẳng thức xảy ra trong trường hợp danh mục thuộc tập hợp các danh mục
hiệu quả (do có độ rủi ro nhỏ nhất), tức là ta có :
ta tìm được các cặp toạ độ (σ,r) biểu diễn bởi đường cong
dạng parabol (hình 2.1)