MỞ ĐẦUI - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Sự phát triển vượt bậc của hoạt động NGOẠITHƯƠNG, đặc biệt XUẤT KHẨU trong 10 năm qua, theođánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoàinước, có thể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN VĂN TÁM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Sự phát triển vượt bậc của hoạt động NGOẠITHƯƠNG, đặc biệt XUẤT KHẨU trong 10 năm qua, theođánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoàinước, có thể coi là một trong những thành tựu nổi bậtcủa công cuộc đổi mới ở Việt Nam Nếu như năm
1976, năm đầu tiên sau giải phóng, kim ngạch xuấtkhẩu mới chỉ đạt xấp xỉ 200 triệu Rúp, năm 1986 là
789 triệu Rúp và USD thì tới năm 1999 đã tăng lên11.525 triệu USD, tăng gần gấp 15 lần kim ngạch năm
1986 (57,6 lần kim ngạch năm 1976) Từ chỗ đơn thuầnchỉ xuất khẩu nguyên liệu thô với một vài chủngloại như than đá, gỗ tròn, thiếc và một số sản phẩmthủ công mỹ nghệ đơn giản, tới nay chúng ta đã cómột cơ cấu hàng xuất khẩu khá đa dạng, trong đó cónhững mặt hàng đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu caovào hàng thứ hai, thứ ba thế giới như gạo, cà phê Cơcấu hàng hóa xuất khẩu và cơ cấu thị trường xuấtkhẩu cũng đã có những thay đổi theo hướng tích cực.Tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến tăng nhanh.Thị trường xuất khẩu theo chủ trương đa phương hóa củaĐảng và Nhà nước , được mở rộng và đa dạng hơn,không còn lệ thuộc hoàn toàn vào khối XHCN nhưtrước đây nữa Đặc biệt, trong nhiều năm liền, xuấtkhẩu đã trở thành động lực chính của tăng trưởng GDP,đồng thời xuất khẩu tăng cùng với chính sách hạnchế nhập khẩu thích hợp làm giảm tỷ lệ nhập siêu,cải thiện cán cân thanh toán, góp phần không nhỏ
2
Trang 3vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật nhưng chođến nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn cònrất nhỏ bé, xét về cả giá trị tuyệt đối lẫn tương đối.Tổng kim ngạch xuất khẩu mới chỉ đạt xấp xỉ 11,5 tỷUSD năm 1999 trong
3
Trang 4khi những nước trong ASEAN, những nước có tiềm năngtương tự, đã vượt mức này từ rất lâu Nếu chỉ xétriêng kim ngạch xuất khẩu /đầu người thì vào năm 1996Malaysia đã đạt mức 3.700USD, Thailand đạt mức 930USDvà Philippines đạt mức 285USD trong khi Việt nam mới chỉđạt 96USD (151USD năm 1999) Từ sự so sánh thực tếnày đặt ra cho Việt Nam chúng ta một nhiệm vụ cấpbách là: Cần thiết phải tăng mạnh xuất khẩu để giảiquyết nhiều vấn đề cấp bách cho nền kinh tế chúng tanhư : Giảm nhập siêu tiến tới xuất siêu, xuất khẩu làmột trong những động lực thúc đẩy sản xuất nội địatăng trưởng Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn Đề tài
"Thực trạng và một số giải pháp thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu của Việt Nam " nhằm nghiên cứu lý luậnvà thực trạng hoạt động xuất khẩu của nước ta, từ đótìm ra các định hướng và giải pháp góp phần pháttriển hoạt động xuất khẩu của đất nước nói riêng vàphát triển toàn nền kinh tế nói chung
II - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định các mục tiêunghiên cứu sau :
1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận về thương mại quốctế thông qua các lý thuyết về thương mại quốc tế,nhằm làm rõ hơn vai trò to lớn của hoạt động ngoạithương nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng đối vớinền kinh tế
2 Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới vừa qua, qua đó tìm
ra được mặt tích cực cũng như những tồn tại và tiềmnăng của đất nước trong hoạt động xuất khẩu
3 Nêu ra các định hướng và giải pháp nhằm góp phần
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
Trang 5III - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng cácphương pháp biện chứng, phương pháp thống kê, phântích, kế toán và dựa theo lý luận của các học thuyếtvề thương mại quốc tế , các mô hình chiến lược pháttriển kinh tế đối
Trang 6ngoại và kinh nghiệm phát triển ngoại thương của một sốnước để đánh giá bản chất, xu hướng phát triển hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua Trên
cơ sở đó sử dụng các phương pháp dự báo để đề ra các biện pháp , giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới IV - PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là hoạt độngxuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới,đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn từø năm 1991 đến nay,là những năm xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu gặthái được những kết quả tương đối khả quan, góp phầnquan trọng trong việc đẩy mạnh tốc độ tăng trưởngcủa toàn nền kinh tế Trong đó đi sâu vào phân tíchmột số mặt hàng và thị trường xuất khẩu chính trongthời gian qua
Phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nội dung của Luận Văn được bố cục như sau :
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : Cơ sở lý luận về thương mại quốc tế
CHƯƠNG 2 : Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua
CHƯƠNG 3 : Định hướng và những giải pháp thúc
đẩy xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010
KẾT LUẬN
Trang 7CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 - KHÁI NIỆM VỀ NGOẠI THƯƠNG.
Ngoại thương được hiểu là hoạt động trao đổi hànghóa thông qua mua bán giữa một nước với các nướckhác Hoạt động Ngoại thương xuất hiện từ rất lâu ởcác nước đế quốc phương Tây và Trung Quốc, đóng vaitrò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển kinh tế củacác quốc gia Lực lượng sản xuất ngày càng phát triểnthì nội dung của hoạt động Ngoại thương cũng được mởrộng hơn Lúc đầu Ngoại thương chỉ là hoạt động traođổi, giao lưu hàng hoá giữa các quốc gia Ngày nay Ngoạithương còn liên quan chặt chẽ với các hoạt động đầu tưquốc tế, hợp tác khoa học công nghệ,.… Ngoại thươnggóp phần đưa nền kinh tế trong nước hội nhập với nềnkinh tế khu vực và thế giới
1.2 VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG QUA CÁC
HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ :
1.2.1 Lý thuyết của Phái trọng thương.
Thuyết trọng thương ra đời ở Châu Aâu vào khoảngcuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI và kéo dài ảnh hưởngcho đến giữa thế kỷ XVIII Những người theo Phái trọngthương cho rằng sự giàu có của một quốc gia đượcphản ánh qua lượng vàng, bạc mà quốc gia đó nắmgiữ Xuất nhập khẩu mang lại phồn vinh cho đất nước,
tuy nhiên giao thương quốc tế theo luật trò chơi bằng
không nghĩa là khi tham gia thương mại quốc tế, một
quốc gia thu được lợi ích trên cơ sở lợi ích của quốc giakhác bị thiệt hại Do vậy duy trì xuất siêu là biệnpháp quan trọng nhất để thu được nhiều lợi ích từ thươngmại quốc tế (mang về quý kim cho đất nước) Từ đó,
Trang 8Phái trọng thương chủ trương Chính phủ can thiệp sâu vàongoại thương, tiến hành bảo hộ mậu dịch, khuyến khíchxuất khẩu.
Lý thuyết trọng thương về thương mại quốc tế tuycòn mang đậm yếu tố chủ quan, chưa có căn cứ khoahọc cho việc phát triển thương mại quốc tế,
Trang 9nhưng xét theo khía cạnh tiên phong, mở đường cho việc nghiên cứu phát triển một lĩnh vực mới thì đóng góp của nó là không nhỏ.
1.2.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Đến giữa thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học lỗi lạc ngườiAnh, Adam Smith, đã đưa ra quan điểm mới về thương mạiquốc tế tích cực hơn so với phái Trọng Thương trước đó.Đề cao vai trò của lợi ích cá nhân, trong tác phẩm
nguồn gốc sự giàu có của các quốc gia xuất bản
năm 1776, Adam Smith đã nhận định : " sự giàu có củamỗi quốc gia đạt được không phải do những quy địnhquản lý chặt chẽ của chính quyền mang lại mà là nhờvào tự do kinh doanh"
Dựa vào một số giả định , A.Smith cho rằng hoạt độngngoại thương sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia xuất khẩusản phẩm có lợi thế tuyệt đối A.Smith cho rằng khi sửdụng cùng một nguồn lực vật chất, nước nào sảnxuất được nhiều hàng hóa hơn thì nước đó có lợi thếtuyệt đối trong việc sản xuất hàng hóa đó Và cácquốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất các sảnphẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối rồi đem trao đổivới các nước khác (là các quốc gia không có lợi thếtuyệt đối trong việc sản xuất sản phẩm đó) Trongtrường hợp lợi thế tuyệt đối đổi chiều, cả hai quốc giatham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đều thu đượclợi ích lớn hơn là khi họ tự sản xuất - cung ứng cho quốcgia mình tất cả các loại hàng hóa Thương mại quốc tế
không phải là quy luật trò chơi bằng không mà là trò
chơi tích cực.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được xemnhư là lý thuyết có cơ sở khoa học đầu tiên về thươngmại quốc tế , giải thích vì sao các nước lại quan hệ
Trang 10thương mại với nhau, dựa trên cơ sở nào Tuy nhiên, lýthuyết này lại không trả lời được câu hỏi là nếu mộtquốc gia có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết các sảnphẩm, và một quốc gia khác (hay phần còn lại của thếgiới) thì lại không có lợi
Trang 11thế tuyệt đối ở bất kỳ sản phẩm nào thì mậu dịch quốc tế có xảy ra không, và dựa trên cơ sở nào?.
1.2.3 Lý tuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Lý thuyết lợi thế so sánh được David Ricardo trình
bày trong tác phẩm " Những nguyên lý kinh tế chính trị
và thuế" xuất bản năm 1817 D.Ricardo cho rằng bất kỳ
một nước nào tham gia hoạt động thương mại quốc tếđều thu được lợi ích nhất định do họ có lợi thế tương đốichứ không nhất thiết phải có lợi thế tuyệt đối Nhưvậy một quốc gia không có bất cứ lợi thế tuyệt đốinào cũng có thể tham gia trao đổi hàng hoá với cácnước có lợi thế tuyệt đối ở việc sản xuất hầu hếtcác sản phẩm mà cả hai quốc gia đều thu được lợi íchlớn hơn là đóng cửa tự cung - tự cấp
Thuyết lợi thế so sánh xác định các nước nênchuyên môn hóa vào sản xuất các sản phẩm hànghóa mà nước đó có lợi thế so sánh rồi đem ra traođổi với các nước khác ( những nước kém lợi thế sosánh trong việc sản xuất hàng hóa đó), như vậy cácnước tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đều thuđược lợi ích cao hơn
Lợi thế so sánh về một sản phẩm thể hiện khảnăng cạnh tranh của một quốc gia trên thị trường thếgiới đối với sản phẩm đó Mức lợi thế so sánh giữahai quốc gia hay giữa nhiều nước trong khu vực có thểđược xác định theo công thức
RCA = (E1/Ec) / (E2/Ew)Trong đó :
- RCA : Hệ số thể hiện lợi thế so sánh
- E1 : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của quốc gia trong một năm
- Ec : Tồng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia trong một năm
Trang 12- E2 : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của thế giới trong một năm.
- Ew : Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm
- Nếu RCA ≤ 1 : sản phẩm không có lợi thế so sánh
1 < RCA<2,5 : sản phẩm có lợi thế so sánh
RCA ≥ 2,5 : sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao
Trang 13Cho đến nay, bản chất lý thuyết này vẫn không thayđổi, nó vĩ đại ở chỗ đã chứng minh được rằng, cácquốc gia, bất kể có lợi thế tuyệt đối hay không, đềucó lợi khi giao thương với nhau, khắc phục được nhượcđiểm cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối củaAdam Smith Vì vậy, quy luật lợi thế so sánh của DavidRicardo được coi là một trong những quy luật quan trọngnhất của kinh tế học phát triển dù vẫn còn một sốhạn chế nhất định như mới chỉ tính đến yếu tố laođộng trong chi phí sản xuất nên không giải thích xácđáng tình trạng năng suất lao động hơn kém nhau giữacác quốc gia, cách tính toán vẫn trên căn bản hàngđổi hàng chứ chưa phải là giá cả quốc tế Ricardocũng không thấy được cơ cấu nhu cầu tiêu dùng ở mỗiquốc gia có ảnh hưởng lên quan hệ thương mại quốctế, nên không xác định được giá cả tương đối củasản phẩm đem trao đổi giữa các nước với nhau
1.2.4 Lý thuyết Heckesher - Ohlin.
Trong thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học người Thụy
Điển, Eli Hecksher và Bertil Ohlin, với tác phẩm "Thương
mại liên khu vực và quốc tế" xuất bản năm 1933, đã
giải quyết được vấn đề rất cơ bản mà cả AdamSmith và David Ricardo giải quyết chưa trọn vẹn - đó làdựa vào quy luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuấtđể giải thích nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh
Heckesher - Ohlin giải thích nguồn gốc lợi thế so sánh(chi phí cơ hội thấp - Haberler) trên cơ sở nhận định rằng: để làm ra sản phẩm, người ta phải sử dụng kết hợpcác yếu tố sản xuất theo những tỷ lệ cân đối khácnhau nhất định Nhưng tỷ lệ kết hợp các yếu tố sảnxuất của từng sản phẩm trong từng quốc gia cũng nhưgiữa các quốc gia là khác nhau Do đó quốc gia sẽ có
Trang 14lợi thế so sánh đối với sản phẩm thâm dụng yếu tốsản xuất mà quốc gia có dồi dào (dư thừa) Từ nhậnđịnh đó, Hecksher – Ohlin đưa ra học thuyết của mình vớinội dung : một quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm thâmdụng yếu tố sản xuất quốc gia dư
Trang 15thừa và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia khan hiếm.
Lý thuyết này có giá trị cao trong việc vận dụng vàothực tế phát triển ngoại thương của các quốc gia, thểhiện như sau :
Đối với các nước đang phát triển, trong giai đoạn đầucông nghiệp hóa sẽ tập trung xuất khẩu những sảnphẩm sử dụng nhiều (thâm dụng) lao động và nhữngsản phẩm có nguồn gốc từ tài nguyên thiên nhiênnhư : nông – lâm – thủy sản, khoáng sản … và nhậpkhẩu những sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao như :máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu cho các ngànhcông nghiệp…
Lợi thế so sánh về một số loại sản phẩm sẽ dần
bị mất đi, đồng thời xuất hiện những sản phẩm có lợithế so sánh mới Vì vậy cơ cấu xuất khẩu không cốđịnh mà phải chuyển đổi theo mức độ thay đổi tươngquan các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế Các nướcđang phát triển sẽ cố giảm xuất khẩu hàng sử dụngnhiều lao động, sản phẩm thô hoặc ít qua chế biến,nâng dần tỷ trọng xuất khẩu hàng thâm dụng vốn vàkỹ thuật công nghệ
Dù vậy lý thuyết H-O đã không tính đến ảnhhưởng của thương mại quốc tế đối với sự thay đổi giácả các yếu tố sản xuất Về sau, có Paul A Samuelson,nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ, góp phần hoànthiện lý thuyết Hecksher - Ohlin trên căn bản xem xéttác động của thương mại quốc tế lên giá cả các yếutố sản xuất Theo Samuelson, tự do hóa mậu dịch sẽlàm bình quân giá cả các yếu tố giữa các quốc gia.Chính sự khác biệt giá cả yếu tố sản xuất giữa cácquốc gia làm phát sinh thương mại quốc tế, đến lượt nó,
Trang 16thương mại quốc tế làm cho những khác biệt này giảmdần Cụ thể, sự chuyển dịch yếu tố sản xuất giữa cácquốc gia theo chiều hướng vốn tư bản đi từ nước cólãi suất thấp đến các nước có lãi suất cao, lao động
di chuyển từ nước có giá nhân công thấp đến nướccó giá nhân công cao sẽ làm giảm sự cách biệt giáyếu tố sản xuất giữa
Trang 17các quốc gia Cuối cùng dẫn tới sự cân bằng tương đối và cân bằng tuyệt đối (đồng nhất) giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia.
1.2.5 Những bổ sung của lý thuyết mới về thương mại quốc tế :
Bên cạnh những đóng góp thiết thực vào việcphát triển thương mại quốc tế, các lý thuyết cổ điểncũng như lý thuyết H-O vẫn có những hạn chế nhấtđịnh trong điều kiện : khoa học công nghệ phát triểnrất nhanh , Chính phủ thường can thiệp sâu vào hoạtđộng ngoại thương để điều tiết quá trình phát triểncủa nó Như là : Không đề cập đến chi phí vận chuyển,mà nếu chi phí vận chuyển quá lớn có thể ngăn cảnviệc xúc tiến thương mại quốc tế do giá thành sảnphẩm xuất khẩu quá cao, dẫn đến hàng hóa chỉ tiêuthụ nội địa; Ngoại trừ phái Trọng thương, các lý thuyếtkhác hầu như không đề cập đến hoặc xem nhẹ vai tròcủa Chính phủ trong việc điều tiết và xúc tiến xuấtkhẩu Trên thực tế, Chính phủ giữ vai trò hết sức quantrọng trong việc tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩmxuất khẩu
Lý thuyết H-O giả định rằng tất cả các thị trườngđều có tính cạnh tranh hoàn hảo, trong mô hình khôngđề cập đến quy mô lợi suất kinh tế; kỹ thuật và hiệuquả sử dụng kỹ thuật giống nhau giữa các xí nghiệp,các quốc gia; thông tin được cung cấp đầy đủ và chỉxem xét hai yếu tố sản xuất là tư bản và lao động;sản phẩm thay thế hoàn hảo và quy mô xí nghiệp nhỏgiới hạn trong thị trường nội địa Thực tế thì quy mô kinhtế quyết định rất lớn đến giá cả sản phẩm; đa sốtrường hợp, quy mô kinh tế càng lớn thì giá thành sảnphẩm càng thấp
Trang 18Bỏ qua vốn nhân lực mà hiện nay được xem là yếutố riêng biệt của sản xuất Trên phương diện này, nếucác giả định về cạnh tranh hoàn hảo không đổi thì lợithế cạnh tranh sẽ tác động lên sự tích lũy kỹ năng laođộng của quốc gia (qua giáo dục và huấn luyện) giốngnhư tác động của vốn và lao động Từ đó, việc sửdụng vốn nhân lực hiệu quả sẽ luôn tạo ra lợi thếcạnh tranh cho nền kinh tế.
Trang 19Để khắc phục nhược điểm và hoàn thiện lý luận về thương mại quốc tế, các nhà kinh tế học tân cổ điển và hiện đại đã có những bổ sung cần thiết như sau:
Lý thuyết mới cho rằng quy mô kinh tế và học tậpkinh nghiệm đóng vai trò chủ yếu trong việc xác địnhlợi thế cạnh tranh (Krugman 1986) Do những thất bại củathị trường, Chính phủ phải có những can thiệp mang tínhchiến lược để điều tiết sự phát triển của nền kinh tế(vẫn dựa trên nền tảng kinh tế thị trường) Điều nàycó thể làm cho các doanh nghiệp của họ có lợi thếcạnh tranh và trở thành những công ty hàng đầu khi đạtđến quy mô kinh tế nhất định
Các nhà kinh tế còn đưa ra giả định về sự học tậpứng dụng công nghệ mới Các nước đang phát triển(cả các nước phát triển) ứng dụng những thành tựucông nghệ tiên tiến từ các nước phát triển sẽ tốthơn cho vị trí thương mại của họ, thông qua khuyến khíchthương mại tự do, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (đặcbiệt hình thức đầu tư trực tiếp) để tiếp nhận côngnghệ hiện đại nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng vàrút ngắn quá trình phát triển
Bên cạnh đó, sự tác động của Chính phủ vào nềngiáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũngsẽ góp phần rất quan trọng thúc đẩy tiến trình pháttriển toàn diện của quốc gia
Qua nghiên cứu các học thuyết căn bản về thươngmại quốc tế như trên, ta thấy là một quốc gia hoàntoàn có thể dựa vào các lợi thế so sánh của mình đểxây dựng chiến lược phát triển cho phù hợp Nhưng cũngphải thấy rằng lợi thế so sánh nào, của bất kỳ quốcgia nào , rồi cũng giảm dần, thay đổi theo thời gian (do
10
Trang 20tính chất chi phí cơ hội gia tăng và sự giảm dần cáchbiệt về giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốcgia quy định) Cho nên, trong thực tế phải biết khai thácvà sử dụng lợi thế so sánh của đất nước thông quacon đường thương mại quốc tế sao cho hợp lý và hiệuquả nhất Đồng thời cũng phải tính toán, dự liệunhững vấn đề nằm ngoài lĩnh vực quan hệ thương mạiquốc tế mà các quốc
10
Trang 21gia đang và có thể sẽ áp dụng để duy trì lợi thế so sánh của mình, nhất là đối với những nước có quy mô nhỏ.
1.2.6 Đường lối phát triển xuất khẩu của Việt Nam :
Tất cả các lý thuyết về thương mại quốc tế đều cómột điểm chung là : các nước tham gia vào hoạt độngThương mại quốc tế bao giờ cũng thu được lợi ích cao hơnthay vì những nước này thực hiện chính sách đóng cửa,tự cung cấp trong nội bộ quốc gia mình Mỗi quốc gianếu biết chuyên môn hóa vào sản xuất những sảnphẩm mà mình có lợi thế rồi đem trao đổi với các nướckhác thì tất cả đều có lợi Vì vậy, Đảng và Chính phủViệt Nam đã chọn con đường phát triển kinh tế đấtnước trên cơ sở mở rộng sự giao lưu trao đổi hàng hóavới các nước, khai thác và sử dụng có hiệu quả hơncác nguồn lực của quốc gia
Tình hình kinh tế chính trị thế giới trong những năm quađã có nhiều thay đổi đáng kể, ảnh hưởng lớn đếnchiến lược, chính sách phát triển kinh tế của rất nhiềucác quốc gia Thời kỳ chiến tranh lạnh chấm dứt, mở
ra một kỷ nguyên mới hòa bình và hợp tác cùng pháttriển Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mới nảy sinh,đối đầu quân sự trở thành đối đầu kinh tế gay gắtdiễn ra giữa các cường quốc, các khu vực, các quốc giacó chính kiến chính trị khác nhau, và cả giữa các nước,
các khu vực có cùng quan điểm chính trị Cách mạng khoa
học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội.1
21
Trang 22Các quốc gia có tiềm lực kinh tế nhỏ bé đứng trướcnhững thách thức to lớn, chênh lệch giàu nghèo giữacác nước ngày càng mở rộng, cạnh tranh kinh tế,thương mại, khoa học, công nghệ diễn ra gay gắt Đặcbiệt Việt Nam chúng ta gặp rất nhiều khó khăn vì vốn
dĩ là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc
1 Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội VIII của Đảng – NXB Chính Trị Quốc gia - T.24
22
Trang 23hậu, trước đây phụ thuộc nhiều vào viện trợ giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Trước tình hình đó, cùng với xu hướng chung của thờiđại và kinh nghiệm một số nước trong khu vực cho thấy:để ổn định và phát triển kinh tế, không còn con đườngnào khác là phải mở rộng quan hệ kinh tế thương mạivới các nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc vớisức mạnh của thời đại để phát triển Văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ VIII khẳng định : "Việt nam sẵn sàng
là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Đường lối đa phương hóa quan hệ, đa đạng hóa sảnphẩm của Đảng và Chính phủ nhằm khai thác tối đacác lợi thế của chúng ta Bởi vì mỗi quốc gia đều cónhững lợi thế tuyệt đối và tương đối nhất định và đượcxác định trên cơ sở so sánh với các quốc gia khác.Điều đó có nghĩa, khi so sánh với quốc gia, vùng lãnhthổ khác nhau, thì chúng ta sẽ có những lợi thế khácnhau Lợi thế của Việt nam sẽ đạt tối đa khi chúng ta đaphương mối quan hệ Đa phương mối quan hệ dẫn tới đadạng lợi thế, kết quả là Việt Nam sẽ có một hệthống các sản phẩm có lợi thế Đây là cơ sở vànguồn gốc cho sự tồn tại và phát triển ngoại thươngcủa Việt Nam
Là một quốc gia nhỏ bé về kinh tế so với thế giới,tiềm năng, mặt hàng có thể xuất khẩu của chúng takhông nhiều, để thực hiện mục tiêu mở rộng giao lưuthương mại với các nước, bắt buộc Việt nam phải tìmkiếm một chiến lược xuất khẩu phù hợp, cân đối vớinhu cầu nhập khẩu để phát triển Đảng và Chính phủViệt nam đã đưa ra định hướng phát triển kinh tế đốingoại nói chung, ngoại thương và xuất khẩu nói riêng là :
Thứ nhất : Phục vụ nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 24Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện nước tahiện nay là biến đổi một nền kinh tế nông nghiệpphân tán, lạc hậu thành một cơ cấu công-nông-dịchvụ có năng suất và chất lượng ngày càng cao, bámsát mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằngvăn minh”
Trang 25Thứ hai : Tạo điều kiện và tập trung sức phát huy
lợi thế của từng vùng, từng địa bàn, từng sản phẩmvà từng mặt hàng, tạo ra những bàn đạp có tácđộng thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước Phânbiệt những lợi thế tạm thời với những lợi thế lâu dàiđể có chủ trương thích hợp Với quan điểm đó, việc quyhoạch kinh tế là rất quan trọng, tạo định hướng pháttriển chung và cụ thể cho từng lĩnh vực
Thứ ba : Phát huy thế mạnh của cơ cấu nhiều thành
phần Phát huy khả năng của từng thành phần kinh tếđối với nhiều loại quy mô , hoạt động trên nhiều lĩnhvực khác nhau bằng nhiều hình thức phong phú Gắn thịtrường trong nước với thị trường nước ngoài, chủ độnghội nhập với kinh tế thế giới
Thứ tư : Đa dạng hóa và đa phương hóa nhằm khai
thác hết mọi tiềm năng, tạo ra đối trọng nhiều chiều,sự cạnh tranh nhiều mặt trong quan hệ thương mại Đadạng hóa, đa phương hóa với dung lượng ngày càng rộng,nhưng cần có sản phẩm mũi nhọn, mặt hàng chủ lực,thị trường trọng điểm Đồng thời phải lấy hiệu quả(kinh tế – xã hội) làm chuẩn mực trong việc lựa chọnmặt hàng cũng như đối tác Chủ động xác định giảipháp, tính toán lợi ích; chủ động ứng phó với mọi diễnbiến phức tạp trên thị trường quốc tế
Thứ năm : Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội
1.3 VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM.
Xuất khẩu có vai trò rất to lớn đối với sự phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia, ảnh hưởng đến hầu hết cáclĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế quốc dân Kinhnghiệm của các nước trên thế giới và quá trình tăngtrưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua đã chothấy vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt sau :
Trang 26Thứ nhất, Xuất khẩu tạo điều kiện cho phép sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của quốc gia.Thông qua hoạt động xuất khẩu, Việt Nam khai thác, sửdụng có hiệu quả hơn các nguồn lực : lao động, đất đai,bờ biển ,rừng, … Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu mà ViệtNam có thể chuyển từ một nước còn thiếu
Trang 27lương thực thành một quốc gia xuất khẩu lớn nhất nhìthế giới về một số mặt hàng nông sản (gạo, càphê), năng suất, sản lượng, chất lượng các sản phẩmcũng ngày càng được tăng lên Nguồn lợi từ khai thácsản vật biển cũng ngày càng gia tăng, nguồn lao độngdồi dào được tận dụng và phát huy qua các sản phẩmcông nghiệp xuất khẩu sử dụng nhiều lao động : dệtmay, giày dép, sản xuất lắp ráp điện – điện tử…
Thứ hai, Xuất khẩu tạo vốn ngoại tệ cho nhập
khẩu phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước Vốn luôn là một yếu tố cực kỳ quan trọng trongtất cả các hoạt động kinh tế Để nhập khẩu đượcmáy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến ,chuyên gia quản lý vận hành … đáp ứng yêu cầuchiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần cólượng ngoại tệ rất lớn, các nguồn ngoại tệ như viện trợhay vốn vay đến một lúc nào đó sẽ không còn hayphải trả, chỉ xuất khẩu mới là nguồn thu ngoại tệ quantrọng duy nhất ổn định Với tốc độ gia tăng xuất khẩucao trong những năm qua đã đem lại cho nền kinh tế mộtlượng ngoại tệ khá lớn, cùng với chính sách quản lýnhập khẩu thích hợp đã góp phần cân bằng cán cânthương mại, nền kinh tế ổn định và phát triển
Thứ ba, Đẩy mạnh xuất khẩu là một yếu tố
quan trọng kích thích tăng trưởng kinh tế Ngoài việcmang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, tỷ trọngđóng góp trong GDP ngày càng cao, hoạt động xuất khẩucòn khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh, mở rộngkinh doanh nhằm thu được tỷ suất lợi nhuận cao Bêncạnh đó, xuất khẩu là yếu tố được xem xét hàng đầukhi các chủ đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào làmăn kinh doanh ở Việt Nam Xuất khẩu phát triển sẽ thuhút đầu tư nước ngoài nhiều hơn, và đầu tư nước ngoàilại thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu
Trang 28BẢNG 1.1 : TỐC ĐỘ TĂNG GDP VÀ XUẤT KHẨU 1990-1999
(Năm sau / năm trước * 100) Đơn vị tính
108,7
108,1
108,8
109,5
109,3
108,2
115,7
135,8
134,4
133,2
126,6
101,9 123,3
Nguồn : Số liệu thống kê Kinh tế - Xã hội Việt Nam
1975-2000 (Tổng cục Thống Kê)
Trang 29Thứ tư, Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ
cấu kinh tế , thúc đẩy sản xuất phát triển Hoạt độngxuất khẩu không những thúc đẩy các ngành hàng cósản phẩm xuất khẩu phát triển, mà còn có ảnhhưởng dây chuyền, kéo theo sự phát triển của hàngloạt các ngành hàng bổ trợ khác: công nghiệp chếbiến hàng xuất khẩu, vận tải, bảo hiểm… Ví dụ : xuấtkhẩu gạo phát triển mạnh kéo theo sự ra đời và pháttriển của các ngành cơ khí sản xuất máy móc chếbiến gạo xuất khẩu, các nhà máy sản xuất phân bónphát triển, bao bì cho gạo xuất khẩu lại kéo theo ngànhsản xuất đay, sợi, bao bì… Với chiến lược phát triểnxuất khẩu đúng đắn, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thayđổi, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa
Thứ năm, Xuất khẩu có tác động tích cực đến
việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đờisống của nhân dân Hoạt động xuất khẩu được mởrộng thu hút một lượng lao động lớn làm việc trongnhững doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuấtkhẩu, làm việc trong những cơ sở, xí nghiệp hỗ trợ chongành hàng xuất khẩu, kể cả các loại doanh nghiệpdịch vụ khác : vận tải, bảo hiểm, giám định hàng hóaxuất khẩu…
Thứ sáu, Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và
thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta,nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Vớinhững nỗ lực từ phía Chính phủ lẫn các doanh nghiệptrong việc thúc đẩy xuất khẩu, nền kinh tế Việt namđã từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực vàthế giới Việt nam hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giaovà thương mại với hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổtrên thế giới, gia nhập ASEAN (1995), APEC (1998), Ký
Trang 30kết các Hiệp định hợp tác về kinh tế – văn hóa xãhội – đầu tư – thương mại với hầu hết các châu lục.
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.
2.1 ĐÁNH GIÁ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM QUA
THỜI GIAN :
Kết quả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 1999 được thể hiện qua bảng sau :
Trang 31BẢNG 2.1 : KIM NGẠCH XUẤT KHẨU, N HẬP KHẨU 1999
1990-XUẤT KHẨU NHẬP KHẨUNĂ
M
ĐVT Kim
ngạch
Tốc độ tăng
Kim ngạch
Tốc độ tăng
NHẬP SIÊU(Triệu) (%) (Triệu) (%) (Triệu)
11.622,0
101,1
1990 Đây là một thành tích lớn bởi thời kỳ này làthời kỳ chuyển đổi đầy khó khăn đối với hoạt độngxuất khẩu của ta do bị mất thị trường truyền thống làLiên Xô cũ và các nước XHCN Đông Aâu
Kim ngạch xuất khẩu năm 1991 giảm tới 13,2% sovới năm 1990 trong khi xuất khẩu năm 1990 tăng 23,5%
so với năm 1989 Tuy nhiên , những năm sau đó nhờ sựnỗ lực vượt bậc của các doanh nghiệp nên kim ngạchxuất khẩu đã lấy lại được sức tăng cũ Đến cuối kỳthì tổng kim ngạch toàn kỳ vẫn tăng 144% so với kỳ1986-1990 ( kỳ 1986-1990 tăng 143% so với kỳ 1981-1985) Kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người , vì thế ,cũng đã tăng từ 31USD năm 1991 lên xấp xỉ 70USDvào năm 1995
Trang 32Nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng ra đời : dầuthô, gạo, cà phê, giày dép và dệt may Việt nam bắtđầu xuất khẩu dầu thô vào năm 1989 với số lượng1,5triệu tấn, cả thời kỳ 1991-1995 đã xuất tới hơn 30triệu tấn Lượng gạo xuất khẩu bình quân đạt trên 1,5triệu tấn/năm cho toàn bộ thời kỳ 1991-1995 Cà
Trang 33phê cũng có bước tiến vượt bậc, đến năm 1995 đãxuất được tới 186,9 ngàn tấn, tăng hơn gấp đôi so vớinăm 1990 Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 847triệu USD vào năm 1995, tăng gấp hơn 5 lần so với kimngạch năm 1991 Đặc biệt kim ngạch xuất khẩu giàydép và sản phẩm da đã tăng từ 10 triệu Rúp/USD vàonăm 1991 lên tới 293 triệu USD vào năm 1995 tức gấphơn 29 lần.
Những năm đầu của thời kỳ 1996-2000, kim ngạchxuất khẩu tăng trưởng một cách ổn định, vượt mứcchỉ tiêu kế hoạch đặt ra( Đại hội Đảng lần VIII đặt rachỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu cho thời kỳ 1996-2000là 28%), năm 1996 đạt 7,26 tỷ USD, tăng 33,2% so với5,45 tỷ USD năm 1995 Khủng hoảng tài chính vào giữa
1997 tại Thailand và lan rộng ra các nước khác trong khuvực đã ảnh hưởng bất lợi đối với hoạt động xuất khẩucủa chúng ta Vì vậy kim ngạch xuất khẩu năm 1997 chỉtăng 26% với năm 1996, đạt 9,145 tỷ USD Năm 1998chịu ảnh hưởng mạnh hơn, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt9,361 tỷ USD bằng 91,8% kế hoạch đề ra (kế hoạch đãdược UBTV Quốc hội điều chỉnh) và chỉ tăng 1,9% sovới năm 1997 Đến năm 1999 vừa qua, hoạt động xuấtkhẩu của ta đạt được tốc độ tăng trưởng không ngờtới mặc dù những tháng đầu năm có vẻ chững lại.Kim ngạch xuất khẩu đạt 11,540 tỷ USD tăng 23,3% sovới năm 1998 Đây là kết quả rất đáng khích lệ trongbối cảnh vẫn còn ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính khu vực, tình trạng thiểu phát trong nền kinh tế
Nhận xét : Xuất khẩu của Việt nam từ năm
1991 đến nay đã đạt được những thành tựu rất đángkhen ngợi, liên tục tăng trưởng với tốc độ cao vàonhững năm đầu Tuy nhiên, những năm sau lại khôngđạt được chỉ tiêu kế hoạch Năm 1999 vượt chỉ tiêukế hoạch chủ yếu là do tăng giá thế giới một số
Trang 34mặt hàng, còn xét chung các mặt hàng không đạt hoặctốc độ tăng thấp Nguyên nhân có nhiều, nhưng cóthể quy về một số nguyên nhân chính đó là do ban đầuđiểm xuất phát của ta còn thấp, các tiềm năng cònchưa được khai thác Về sau, khủng hoảng kinh tế khu vựcchỉ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tốc độtăng của kim ngạch xuất khẩu chậm dần, ở đây cònmột nguyên nhân rất quan trọng nữa là việc thay đổi
cơ cấu hàng xuất chưa có gì đột biến để mang
Trang 35lại động lực mới cho tăng trưởng xuất khẩu Đồng thời,việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp với giácả thế giới biến động nhiều cũng gây khó khănkhông ít cho nền kinh tế trong quá trình phát triển.
2.2.PHÂN TÍCH KẾT QUẢ XUẤT KHẨU THEO CƠ CẤU
HÀNG HÓA :
Trên cơ sở các lợi thế và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, hàng hóa xuất khẩu của Việt Namtập trung vào những mặt hàng thể hiện ở bảng 2.2
BẢNG 2.2 : MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM 1995-
1999
CHỈ TIÊU
Đơn
vị Tính
1995 1996 199
7
1998 1999 So
á lượ
Trị giá
So
á lượ
Trị giá TỔNG SỐ 5.448
,9
7.255 ,9
9.185 ,0
9.360 ,3
11.54 0,
1 Lạc Nhân nghìn
tấn
111, 0
127, 0
86, 4
86, 8
42, 0
56, 0
33, 0
tấn
131, 8
194, 5
194, 2
191, 0
127, 5
265, 0
145, 0
3 Cà Phê nghìn
tấn
248, 1
283, 7
391, 6
382, 0
593, 8
482, 0
592, 0
33, 0
50, 5
36, 0
46, 0
tấn
1.988, 0
3.003, 0
3.575, 0
3.730, 0
1.024, 0
4.50 8
1.035, 0
25, 7
117, 0
18, 4
94, 0
15, 1
64, 4
34, 8
138, 0
8 Dầu thô nghìn
tấn
7.652, 0
8.075, 0
9.638, 0
12.145 ,0
1.232, 3
14.88 2
2.017, 0
9 Than đá nghìn
tấn
2.821, 0
3.647, 0
3.454, 0
3.162, 0
101, 5
3.26 0
96, 0
10 Rau quả Triệu
USD
56,1 90,
2
71, 2
52, 6
104, 9
11 Thủy sản Triệu
USD
621, 4
696, 5
782, 0
858, 0
971, 0
12 Dệt may Triệu
USD
850, 0
1.150, 0
1.502, 6
1.450, 0
1.747, 3
13 Giày dép Triệu
USD
296, 4
530, 0
978, 4
1.031, 0
1.391, 6
474, 0
590, 0
Nguồn : Niên Giám Thống Kê 1999, Bộ Thương mại Việc phân tích cơ cấu hàng xuất khẩu
trong những năm vừa qua, nhất là tỷ trọng của hànghóa chế biến sâu gặp khó khăn do ta chưa có mộttiêu chuẩn thống nhất về hàng đã qua chế biến vàvề cấp độ chế biến của hàng hóa Tuy nhiên dựa trên
Trang 36những tài liệu thu thập được có thể đưa ra một số
nhận xét nhấtđịnh về sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt nam:
Trang 37Một là : Từ năm 1989, khi ta bắt đầu xuất khẩu
dầu thô và gạo với khối lượng ngày càng lớn, tỷtrọng của nhóm nông lâm hải sản, công nghiệp nặngvà khoáng sản tăng lên, chiếm 73,6% tổng kim ngạchxuất khẩu vào năm 1990, năm 1992 chiếm tới 86,5%.Sau đó, sự tăng trưởng nhanh chóng của nhóm dệtmay, giày dép và hải sản chế biến đã làm cho tỷtrọng này giảm xuống
Hai là : Năm 1996, tỷ trọng của nhóm công nghiệp
nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng lên thành29% Năm 1997, do giá dầu thô và giá gạo cùng giảm,tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp nhẹ và tiểuthủ công nghiệp đã tăng lên 36,5% và năm 1999,chiếm tới hơn 40% kim ngạch xuất khẩu (chỉ riêng 4nhóm dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ tinh chế vàđiện tử đã chiếm 31,5%)
Ba là : Nếu coi hàng công nghiệp nhẹ và hàng tiểu
thủ công nghiệp là hàng đã qua chế biến (trong đó cóchế biến sâu) thì cơ cấu xuất khẩu của nước ta đã cónhững thay đổi theo hướng tích cực trong thời kỳ 1991-
1999 Tỷ trọng của nhóm công nghiệp nhẹ và tiểuthủ công nghiệp, trong đó chủ yếu là công nghiệpnhẹ đã tăng từ 14,4% vào năm 1991 lên hơn 40% vàonăm 1999 Đạt tốc độ tăng bình quân tới trên40%/năm, cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân của kimngạch xuất khẩu
Bốn là : Việc chuyển dịch cơ cấu chủ yếu nhờ tăng
kim ngạch của 04 nhóm hàng : Dệt may Giày dép, sảnphẩm Gỗ tinh chế và Điện tử (bao gồm cả linh kiệnmáy tính) Mà trong số này chủ yếu dựa vào phươngthức gia công, hàm lượng nội địa thấp, vì vậy chuyểndịch cơ cấu chưa thay đổi được về căn bản hiện trạngcông nghiệp xuất khẩu của Việt nam, chưa tạo đượcnhững ngành công nghiệp gắn kết với nhau để cùng
Trang 38hướng về xuất khẩu và tạo ra giá trị gia tăng ngàycàng lớn Điều này giải thích lý do tăng trưởng chậmdần trong những năm sau này.
2.3 PHÂN TÍCH THEO THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU :
2.3.1 Phân tích theo khu vực địa lý :
Với những nỗ lực của Việt Nam nhằm mở rộng vàkhai thông thị trường, cùng với sự tan rã khối SEV dẫnđến thay đổi lớn trong cơ cấu thị trường xuất
Trang 39khẩu của Việt nam Vào năm 1985 khu vực Liên Xôcũ và các nước XHCN Đông Aâu còn chiếm tới 57% kimngạch xuất khẩu của ta nhưng đến năm 1990 tỷ lệnày xuống còn khoảng 42,4%, năm 1991 giảm mạnhxuống còn 11,1% năm 1995 còn 2,5% và đến năm 1999chỉ còn chiếm xấp xỉ 2% kim ngạch xuất khẩu Cácnước châu Á nhanh chóng trở thành thị trường xuấtkhẩu chính của ta (77% năm 1991) Những năm về sau, donỗ lực khai thông các thị trường mới là Tây âu vàBắc Mỹ đã làm tỷ trọng của Châu Á giảm xuốngnhưng vẫn còn là thị trường xuất khẩu chính của Việtnam (61% năm 1998), trong đó Nhật Bản và ASEAN đóngvai trò lớn nhất.
Bảng 2.4 : Thị phần hàng xuất khẩu của Việt Nam
Đơn vị tính : %
THỊ
TRƯỜNG
THỜI KỲ 1991- 1995
NĂ
M 199
NĂM 1997
NĂM 1998
Trang 40THỊ TRƯỜNG CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG :
20