1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CLS HÔ HẤP CHỨNG CHỈ CLS BS NỘI TRÚ 5 hô hấp ký phần 1

41 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề CLS Hô Hấp Chứng Chỉ CLS BS Nội Trú 5 Hô Hấp Ký Phần 1
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học Phổi
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá chức năng phổi gồm 3 phần HHK chỉ là một phần Đôi khi khó đánh giả, phải cho tới thể tích phổi và đo khả năng khuếch tán Đừng nghĩ HHK là CLS quá đặc hiệu, làm đủ hết mọi thứ Nó là cái cơ.

Trang 1

- Để đánh giá chức năng phổi gồm 3 phần HHK chỉ là một phần Đôi khi khó đánh giả, phải cho tới thể tích phổi và đo khả năng khuếch tán

- Đừng nghĩ HHK là CLS quá đặc hiệu, làm đủ hết mọi thứ Nó là cái cơ bản nhất

Trang 2

- Một kết quả HHK đầy đủ

+ HHK chỉ chiếm một phần nhỏ (Spirometry)

+ Ngoài ra còn có đo thể tích phổi và độ khuếch tán: Mục tiêu của chuyên khoa sâu Có những bệnh lý

mô kẽ, xơ phổi, phức tạp mới dùng

+ HHK và thể tích phổi sẽ biện luận lẫn nhau: COPD không rõ ràng, Hen không rõ ràng Nói cách khác

có những TH HHK không trả lời được bệnh gì

- Bây giờ ở mình đã có đo thể tích phổi và độ khuếch tán ở những bệnh viện lớn Còn HHK thì bệnh viện quận cũng có

- Mục tiêu Y4-Y6, BS Tổng quát vẫn là đọc HHK

Trang 3

- BN nguy cơ bệnh phổi: Hút thuốc lá, công nhân tiếp xúc chất độc phổi

- Đánh giá tiền phẫu: chỉ ở một giới hạn nào đó, không dùng cho mọi tiền phẫu

+ Phẫu thuật không liên quan tới phổi: Mổ ruột thừa / COPD

+ Phẫu thuật lớn liên quan tới phổi: Cắt u phổi, cắt cả thùy phổi thì phải dùng đo thể tích phổi

- Đánh giá tình trạng sức khỏe trước thi thể dục thể lao, đo coi có bị ảnh hưởng không

- Theo dõi

+ Điều trị như thế nào

+ Khi tiếp xúc chất độc, theo dõi phổi có bị tổn thương tiếp diễn hay không

+ Tác dụng phụ của thuốc Vd: Bệnh nhân vị viêm đa khớp dạng thấp cần uống thuốc độc tế bào ảnh hưởng lên phổi > Theo dõi bằng XQ và HHK Chú ý: Ảnh hưởng tới thể tích phổi nhiều hơn

- Là một CLS, không phải tiêu chuẩn vàng, cũng không cấp thiết như men tim phải làm khẩn

nên luôn xem xét chống chỉ định Thực hiện khi BN ổn

- Và một BN chẩn đoán hen / COPD không phải chỉ 1 lẫn HHK Đôi khi đo 2-3 lần vẫn tắc nghẽn

mới kết luận

Trang 4

- BN đang NMCT theo dõi COPD, cứ cố chấp đi đo HHK nếu có gì là lỗi của mình Chẩn đoán ra COPD / hen chả cải thiện gì cho bệnh nhân mà phải lãnh hậu quả Phải đợi 1- 2 tháng sau khi

bị NMCT / đau thắt ngực và có điều trị, mới có thể đi đo hô hấp ký

- Phình đm chủ lên: Đo làm tăng áp lực, tăng nguy cơ vỡ

- Ho ra máu chưa rõ mà đi đo, coi chừng ho ra máu xét đánh ồ ạt do tăng áp lực

- Tràn khí màng phổi đo tràn dịch nhiều lên nhưng nếu đặt ống dẫn lưu rồi thì không phải

chống chỉ định

- Nhiễm trùng: lao, cúm Tăng nguy cơ lây truyền cho người đo và người xung quanh mà chẳng cấp cứu nên trì hoãn việc đo Bây giờ trước khi đo hô hấp ký, phải chụp phim phổi để

tầm soát xem BN có bị lao hay k, trị lao rồi đo

- Nôn ói quá thổi không được

- THA chưa kiểm soát điều trị cho tốt đã rồi đo

- Nói chung:

+ Những bệnh đã có tăng áp lực HHK sẽ làm tăng thêm áp lực

+ Học chống chỉ định tuyệt đối

- Một phần nào đó phân biệt hen và COPD

- Phát hiện bệnh sớm ở người có YTNC

Trang 5

- Nhiều kiểu máy khác nhau chương trình nên kết quả sẽ khác nhau cho ra mẫu KQ khác nhau

- Quan trọng là biết cách đọc Chứ không phải đi chỗ khác in khác là không đọc được

- Đây là máy đo thể tích thổi gọi là phế âm khí

- Máy móc phức tạp:

+ Bệnh nhân ngồi trong box Người ta phân tích kết quả kèm tính toán thể tích trong box

+ Thuộc mục tiêu của chuyên khoa

Trang 6

- Biết quy trình để biết giá trị của nó Quy trình phức tạp, kết quả sai có thể do kỹ thuật

- Để đạt được kết quả tốt thì cần chuẩn bị bệnh nhân

- Chuẩn bị bệnh nhân như trong đo huyết áp (y như JNC)

+ Ăn no quá thì thở không đủ hơi, lại ra hạn chế

+ Sử dụng thuốc dãn phế quản làm sai kết quả

- Kẹp mũi

+ BN thổi: Hít sâu, thở mạnh và thở mạnh (3 cái - 1 chu trình)

Trang 7

- Thổi nhiều lần nhưng KQ chỉ in một cái KQ đẹp nhất đúng nhất

- Kết quả bao gồm: Phần số và phần hình

- Mẫu này của BN Gia Định

- Chỉ có một cái cao nhất do KTV chọn

- 2 dạng đường cong: Thể tích thời gian, Lưu lượng thể tích, MVV có nơi đo nơi không

- Chỉ số MVV thường chỉ sử dụng để đánh giá trong tiền phẫu BN không mổ xe nên không đo

Trang 8

- Đây là một kq khác, trình bày khác Mình phải biết thông số để đọc Mẫu BV Bình Thạnh

- Chú ý:

+ Pre test họ đã thổi tới 8 lần: Lần thổi thứ 8-5-2 thỏa Post test: Lần thổi thứ 1-4-5 thỏa Sau 3 cái này

họ mới chọn cái cao nhất ghi ra chữ cao nhất (là lần số 8) Mình đọc giá trị cao nhất

+ Ở mẫu này có ghi chỉ số thì mới so được rõ và kết luận về tính lặp lại

+ Còn không ghi rõ ra thì không nói được Kết luận tương đối qua hình dạng HHK

- Máy này cài đặt chọn cho mình cái cao nhất Nếu không có thì mình phải tự chọn cái cao nhất tính

- Mẫu BV PNT

- Act1 (Action 1): Hoạt động lần 1 giống Pre trước thuốc

- Act2 (Action 2): Hoạt động lần 2 giống Post sau thuốc

- Nhìn đơn vị như FEV1/FVC đơn vị là %

- Tập trung vào những cái giá trị, mấy cái khác không nhìn để đỡ rối

Trang 9

- Pred: Giá trị tiên đoán Pre và %Prd so với giá trị tiên đoán

- Post test: Sau giãn phế quả à %Change so với Pre

- FEV1/FVC là một cái tỷ số (L/L nên triệt tiêu) Khi đọc đọc là 0.5 (Cột Pre) hoặc 0.49 (Cột Post) + Nhìn cho kỹ không đọc nhầm cột %Prd: Đây là giá trị Pre so với Prediction

Trang 10

- Đường cong thể tích thời gian

- FEV1 là giây thứ 1

- FVC là mức cao nhất của bệnh nhân

Trang 11

- BN hít vào, thở ra, thở ra tối đa

- Hình phải: FEV1 giây đầu tiên thải được bao nhiêu phần trăm khí trong phổi ? Như vậy nó ở đoạn nào ?

Trang 12

- Bước 1: Đúng mới đọc Sai thì không đọc vì Hen/COPD là bệnh mạn phải điều trị suốt đời

- Bước 3:

+ Cần kết hợp lâm sàng Đọc KQ HHK và một người kết luận khác

+ Cần so sánh với kết quả HHK trước đó để điều trị

- ATS 2005 mình vẫn dùng tới giớ 2017 mới đổi, sẽ áp dụng cho năm sau Năm mình vẫn dùng cái cũ Không đổi quá nhiều

- ATC có 2 tiêu chuẩn

+ Tiêu chuẩn chấp nhận và lặp lại

+ Được nhận dạng qua hình dạng các đường cong

- Bắt buộc đo thỏa tiêu chuẩn mới đọc Không thỏa thì đo lại do nhiễu

- COPD là bệnh mạn tính điều trị thuốc suốt đời Chẩn đoán nhầm là bệnh nhân chịu những tác dụng phụ của thuốc rất nhiều

Trang 13

- Thực tế còn nhiều tiêu chuẩn Chị tập trung vào những cái chính đáng chú ý

- Hít vào, thở ra đúng thì đỉnh sẽ nhọn hay bắt đầu tốt

- Thở ra trơn tru, cuối kì thở ra tù lên hay kết thúc tốt

- Hít vào thở ra liền tạo vòng khép kín

- Không chấp nhận

+ Không gắng sức: hít không đủ sâu, đỉnh không nhọn

+ Kết thúc sớm: Đường cong không cong lõm lên Thở ra không gắng sức

+ Không bị nhiễu

Trang 14

- Hình bên phải:

+ Khi ở giây 0, phổi bằng 0

+ Thở ra mạnh tới lúc tối đa: FEV1 là tới giây đầu tiên Giây đầu là thể tích đã tăng lên rồi

- Tuy nhiên BN không thổi được tốt như vậy, đặc biệt ở BN COPD:

+ Bn thổi từ từ tới một lúc nào đó mới đi lên

+ Khoảng thời gian từ từ này không tính là giây số 0, khi nào thể tích tăng lên mới xem là giây 0 + Tịnh tiến đoạn thể tích qua mốc mới

+ Một đoạn thể tích cũ gọi là thể tích ngoại suy và không được quá 5% hay 150ml

- Thể tích ngoại suy:

+ Giây số 0 được tính từ khi đường cong thể tích tăng lên

+ Tuy nhiên BN thường không thở tốt như mong muốn, thở từ từ rồi mới tăng lên

+ Việc xác định giây số 0 mới từ khi đường cong thể tích đi lên bỏ một đoạn thể tích cũ gọi là thể tích ngoại suy

Trang 15

- Thì thở ra: Ho làm đường cong bị nhiễu Chiếu xuống thấy trong giây đầu

- Giây đầu ảnh hưởng tới phân tích kết quả nên người ra không chất nhận

- Nhiều bệnh nhân ho hoài, chấp nhận nếu không ho trong giây đầu tiên

- Không ho trong giây đầu tiên: vì trong giây đầu tiên, phổi có thể thở ra được khoảng 80% dung tích,

ho sẽ ảnh hưởng tới dung tích thở ra

- Hình dưới: Bệnh nhân kết thúc sớm, đường cong lõm xuống

Trang 17

- Đường cong thể tích thời gian, chưa gì đã đi ngang chứng tỏ BN đóng nắp thanh môn sớm

- Đường cong lưu lượng thể tích không cong lõm mà đi xuống luôn

- Mình là bác sĩ chỉ có cầm kết quả nên phải đọc được hình dạng để kiểm tra

+ BN thở đúng

+ KTV hướng dẫn tốt

- Về nguyên tắc:

+ KTV cho BN thổi, thổi được mới bấm Enter lưu hình

+ BN không thổi được thì delete

+ Chọn hình đẹp nhất in ra kết quả

> Điều đó nghĩa là đẹp nhất là nhiêu đó, những cái còn lại xấu hơn nữa

Trang 18

- BN thổi 3 lần Sau 3 lần đánh giá

+ FVC: Khác biệt nhau quá chẳng biết cái nào chính xác, chấp nhận khác biệt 150ml

- Thổi tới khi nào thỏa tiêu chuẩn Tối đa 8 lần, không đạt nữa thì nghỉ đi về, mai thổi lại

- Sau khi thổi được: Chọn 1 chỉ số FVC FEV1 lớn nhất và thỏa tc chấp nhận lặp lại rồi in ra

> KQ chỉ có một chỉ số lớn nhất đẹp nhất

- Quy trình này không dễ nên đọc KQ phân tích phải kỹ, trân trọng công sức

- Ba đường cong thổi sát với nhau

- Mình chỉ thấy hình còn người đo mới thấy rõ thể tích lần 1, lần 2 biết được khác biệt%, thể tích Nếu không thỏa KTV sẽ delete kêu Bn thổi lại nên ta không đọc được tiêu chuẩn lặp lại, chỉ nhìn vô hình dạng nếu 3 cái san sát là coi như thoải tiêu chuẩn lặp lại

- Hình dưới 3 đường quá khác nhau Không có 2 đường khác biệt thỏa, coi chừng kh thỏa tính lặp lại

- Tóm lại:

+ KTV biết chính xác BS chỉ nhìn vô hình dạng

> Luôn phải nhìn hình dạng trước khi đọc HHK để kh đọc nếu nghi KQ kh đúng

Trang 19

+ Kh xác định được đúng tính lặp lại: Có vẻ đúng, xa quá thì nghĩ sai do máy không ghi cụ thể lần 1,2,3

- Mức C: lưu ý khi phân tích, kết hợp với lâm sàng: nếu lâm sàng rõ thì kết luận, không rõ thì theo dõi

và đo lại lần sau

- Mức DE: Không kết luận

- Nghĩa là

+ Tiêu chuẩn lặp lại có thể = 0 vẫn phân tích nếu có ít nhất 2 lần thỏa tiêu chuẩn chấp nhận (Mức C) + Tiê chuẩn chấp nhận thì phải có ít nhất là 2 mới phân tích

- ATS: Tốt nhất phải có 2 chấp nhận, 2 lặp lại Tuy nhiên đâu phải lúc nào cũng ngon vậy

+ Giờ có nhiều tiến bộ: Thổi hoài không được thì bỏ 1 triệu đi đo thể tích phổi

Trang 20

- Sinh lý bệnh thì dạy có nhiều giá trị FEF25-50-75 nhưng chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Lâm sàng thì cần độ nhạy độ chuyên mà FEF25-50-75 chả có độ nhạy độ chuyên gì nên mình không dọc

- Đọc kết quả HHK tập trung đọc những giá trị này, không đọc FEF25-50-75

- Tóm lại

+ Có tắc nghẽn hay không tắc nghẽn

+ Nếu tắc nghẽn: Độ nặng thế nào và Sau test thế nào

+ Nếu bình thường: Có hạ chế hay không hạn chế và Sau test thế nào

Trang 21

- HHK bình thường, phải nhập tuổi chiều cao giới chủng tộc

+ Máy của mình mặc định cài cho người VN

+ Khi đi làm ở phòng mạch tư, phải hỏi máy này cài mặc định cho người nào

+ Lấy HHK người Việt đọc người chủng tộc khác quá nặng quá cao thì KQ đó không kết luận được > Không đo, vừa tốn tiền, nếu kq ra bất thường lại không phân tích được BN hỏi tui có KQ bệnh tại sao BS không cho thuốc, nói không chỉnh xác thì đo làm chi

Tài liệu được ghi chép và chia sẻ bởi https://www.facebook.com/vuongyds

Trang 22

- Tất cả các trị số của nó phải bình thường, chứ không phải 1 trong cái này bình thường

Trang 23

- Đường vàng là bình thường

- Đường đen

+ FEV1: Giảm Đây là điều quan trọng

+ FVC: Có thể bằng bình thường sau một thời gian

> Tỷ lệ FEV1/FVC giảm Chọn con số 0.7 để xác định

- Tắc nghẽn gây ra bởi nhiều bệnh nên không kết luận nếu chỉ dựa vào HHK, cần có lâm sàng

Trang 24

- Giản đồ

+ Tắc nghẽn đường dẫn khí là hình chữ nhật: Ngoài VPQ mạn, COPD, hen còn nhiều bệnh khác

- Kh học Học theo ATS 2005

Trang 25

- Mức độ tắc nghẽn theo ATS 2005 chia 5 mức độ

- Chỉ có rất nặng là <35, nặng đi từ 35-50 còn lại mỗi bước là 10

Trang 26

- GINA/GOLD 2011: Không thể phân biệt COPD và Hen Phải kết hợp lâm sàng

- Có nghĩa là nếu ai nói có đáp ứng với test giãn phế quản nên nghĩa hen thì là rớt

- Sau khi đo, ngồi nghỉ rồi đo lại sau test như là lần 1

Trang 27

- Mục tiêu có hen và COPD nhưng HHK COPD có phần riêng và có GOLD nên chú ý hơn

- HHK dùng chung cho nhiều bệnh, chứ không phải chỉ mình COPD

Trang 28

- Xác định: Thứ 1 phải có tắc nghẽn Thứ 2 tắc nghẽn này không hồi phục.COPD: phải là tắc nghẽn không hồi phục

 Trước test ( Pre) hay sau test giãn PQ ( Post) đều tắc nghẽn

 Muốn chẩn đoán COPD buộc phải đọc Post test

- HHK chuẩn đọc pretest, chỉ có COPD mới đọc post test

+ Đọc HHK phải đọc pretest trước, không nhảy vào đọc COPD

+ Độ nặng dùng FEV1 của post test

- Tóm tại: Nếu HHK post test bình thường thì loại COPD Tìm các nguyên nhân tắc nghẽn

Trang 29

- Khi chưa xác định có COPD hay chưa, phân độ tắc nghẽn theo AST 2005

- Khi đã xác định BN COPD bằng LS và CLS: phân độ tắc nghẽn theo GOLD (3-5-8)

Trang 32

- Có những hen không đáp ứng với test giãn phế quản nên không dùng để phân biệt với HHK

- Điều trị 2 tháng sau rồi đánh giá lại HHK Hen hay COPD không dựa vô một cái HHK ?

- GINA: Chẩn đoán tiêu chuẩn dao động lớn chức năng phổi

+ Có một trong các test bên dưới

+ Và giới hạn luồng dẫn khí: DÙNG TIÊU CHUẨN GÌ ?

- Test thử thách gắng sức: cho BN chạy bộ rồi đo hô hấp ký và con số là 10 (#12)

- Test thử thách phế quản: tiêm methecholin/Histamin và nước muối ưu trương/Manitol Chọn 1 trong 2

- Có tiêu chuẩn PEF khác biệt trong vòng 2 tuần >10%

- Dùng theo dõi và thay đổi điều trị dựa vào giá trị này

- Hen sẽ thay đổi theo điều trị Ở nhà tự thổi chứ đo HHK mệt muốn chết

- DÙNG CHẨN ĐOÁN HEN

Trang 33

- Dùng PEF thì phải có giá trị tốt nhất của bệnh nhân (không dùng giá trị theo SGK)

+ Không dùng vì trị số bình thường dao động lớn 10-50, không đại diện cho dân số

- Ngày nào cũng vậy, sáng thổi chiều thổi ít nhất là 2 tuần :)))

- Tính trung bình buổi sáng buổi chiều > Mới chẩn đoán ra hen

- Như vậy khi nào không có HHK mới dùng, chẳng ai dùng PEF làm gì

> Thường dùng theo dõi chứ ít dùng chẩn đoán

- Ai cầm HHK dùng PEF kết luận là rớt :)))

- Dùng COPD đáp ứng test giãn phế quản (thường trong giai đoạn đầu)

- Không dùng khái niệm: COPD dạng hen

Trang 35

- Hiện nay, ít dung PEF để chẩn đoán, chủ yếu để theo dõi

- Hen có thể có tắc nghẽn hoặc không

- Chỉ đọc hội chứng hạn chế trên hô hấp ký khi không có tắc nghẽn kèm theo hoặc ghi tắc

nghẽn kèm theo dõi hạn chế

Giản đồ

- Sau test có đáp ứng coi chừng: hen hoặc COPD Còn nếu post >0.7 thì không phải COPD

- Coi chừng bệnh hạn chế đi khám chuyên khoa

- Hen là cái khó chẩn đoán: tắc nghẽn hoặc không

Trang 37

- HHK không phải ưu điểm

- Tốt là dùng thể tích phổi Nên mình chỉ đọc BN có rối loạn kiểu hạn chế khi BN kh có tắc nghẽn kèm theo Còn nếu có tắc nghẽn (FEV1 giảm là đường nhiên) kèm theo thì ghi theo dõi hạn chế (bệnh phổi

mô kẽ, xơ phổi ) và đề nghị thể tích phổi

- Chẩn đoán hạn chế ưu thế đọc thể tích phổi hơn đọc hô hấp khí

Trang 38

- Hình ảnh tắc nghẽn dạng chân chó (nặng)

- Hình ảnh hạn chế dạng nón phù thủy với đường thở ra bình thg, đi song song hoặc hóp vô chứ kh lõm như hình ảnh tắc nghẽn

Trang 39

- Trái: Hạn chế còn Phải: không đúng chuẩn, dĩ nhiên kết quả ra hạn chế

Trang 40

- Thường có lâm sàng do hh trên và nv thì rít từa lưa

- PEF50% và FIF50% Kẻ tiếp tuyển với trục hoàng thì hai đoạn bằng nhau

- Tắc nghẽn vừa trong vừa ngoài Hình ảnh tắc nghẽn đi tà tà

- Không lõm xuống như tắc nghẽn hh dưới

- CÓ THỂ KHOẢNG CÁCH BẰNG NHAU NHƯNG HÌNH DẠNG LẠI KHÁC CŨNG NGHI HH TRÊN ?

Trang 41

- Đường có số là đường kính của đường dẫn khí

- Nếu số 10 là đẹp

- Lúc vào còn 8 thì thổi như đường dưới: kh đúng / hạn chế (do vp)

- Cái 6 phân vân

- Số 4 xác định: quá rõ và quá trễ rồi

+ Nghe mà rít thanh quản kiểu tắc nghẽn thùy trên thì mở khí quản chứ nội khoa thua

+ Mình phải cẩn thận nếu BN thổi đúng mà cứ thấp tè tè hạn chế vậy để không bỏ xót

> Bệnh nhẹ (u chèn ép) hay bị bỏ xót qua HHK cứ nghĩ thổi không đúng

Ngày đăng: 27/08/2022, 00:00

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm