Xuất phát từ nguyên vọng bản thân, được sự đồng hành của khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành chuyên đề thực tập: “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khoa : Nông học Khóa học : 2013-2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khoa : Nông học Khóa học : 2013-2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Văn Ngọc
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3i
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi từ một sinh viên thành một kỹ sư nông nghiệp, vì trong quá trình thực tập chúng
ta được củng cố lại những kiến thức đã học cũng như phương pháp vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn từ đó nâng cao chất lượng hiệu quả của việc học tập, tạo tiền đề cho sinh viên nắm vững kiến thức đầy đủ bước vào cuộc sống và công tác sau này, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước thời kì đổi mới
Xuất phát từ nguyên vọng bản thân, được sự đồng hành của khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành chuyên đề thực
tập: “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và phát triển của
cà chua có sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, em
đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của bạn bè, các thầy cô giáo trong khoa Nông học Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Phạm Văn Ngọc
đã giúp đỡ tận tình về phương hướng và phương pháp nghiên cứu cũng như hoàn thiện bài báo cáo Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em thực hiện và hoàn thành tốt đề tài này
Do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế nên bài báo cáo tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài báo cáo của em được đầy đủ và hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Gía trị sử dụng và ý nghĩa kinh tế 4
2.1.2 Vai trò của giá thể trong sản xuất nông nghiệp 5
2.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua 6
2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cà chua trên thế giới và trong nước 10
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua ở Việt Nam 12
2.3.Nghiên cứu về giá thể trồng rau 14
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
2.4 Hệ thống tưới nhỏ giọt 19
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 23
Trang 5iii
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
3.4.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng: 25
3.4.2 Chỉ tiêu về phát triển: 26
3.4.3 Chỉ tiêu về năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 26
3.4.4 Tình hình sâu bệnh hại 26
3.5 Kỹ thuật chăm sóc 26
3.6 Phương pháp xử lí số liệu 27
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 30
4.1.1 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng cây cà chua 30
4.1.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 31
4.1.3 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến động thái và tốc độ ra lá cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 33
4.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả và năng suất cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 35
4.2.1 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả cà chua 36
4.2.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến năng suất cà chua 37
4.3 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến mức độ biểu hiện sâu bệnh hại cà chua có sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 38
Trang 6iv
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 7v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới năm 2010-2014 11
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà chua của Trung Quốc năm 2010-2014 12
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất cà chua ở Việt nam giai đoạn 2001-2005 13
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu về tưới nhỏ giọt cho cây chè……… 19
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết trong thời gian làm thí nghiệm, thành phố Thái Nguyên 2016 28
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của cây cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 30
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cà chua 32
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ ra lá cà chua 34
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả cây cà chua 36
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất cây cà chua 37
Bảng 4.7: Mức độ biểu hiện sâu bệnh hại ở các công thức thí nghiệm 38
Trang 96 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 101
PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần thức ăn của con người Rau cung cấp nhiều loại chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể như: Vitamin, protein, lipit, khoáng chất, hydratcacbon, các chất
xơ cần thiết cho sự tiêu hóa… Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng rất lớn và phong phú, cần thiết cho con người bởi vậy cà chua đã trở thành món ăn thông dụng trên khắp 158 nước trên thế giới, đáp ứng nhu cầu của con người Bên cạnh đó cây cà chua là cây có giá trị kinh tế cao được trồng rộng rãi trên thế giới Ở nước ta cà chua được trồng trên 100 năm nay, diện tích trồng cà chua khoảng 13.000 ha, tùy theo đặc điểm từng vùng sinh thái, thời
vụ và kinh nghiệm sản xuất của nhà vườn mà có thể thu trên 1 triệu đến 2-3 triệu đồng/sào Cây cà chua có thể cho năng suất cao, sinh trưởng nhanh, bảo quản được tương đối dài hơn so với các loại rau khác, quả có thể vận chuyển
đi xa thuận lợi
Để sản xuất cà chua với số lượng lớn, cung cấp sản phẩm trong thời gian dài, độ đồng đều cao, đặc biệt là phải đảm bảo chất lượng, an toàn cho con người là mục tiêu của các chuyên gia trong ngành sản xuất rau Trong những năm qua, các cơ quan chuyên môn, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau, một trong những hướng được các nước ứng dụng rộng rãi và ngày càng hoàn thiện cao hơn là sản xuất theo hướng công nghiệp Ngoài việc dùng đất để trồng cây người ta còn sử dụng một phương pháp khác để trồng, đó là trồng cây trên giá thể Đây thực chất là một kỹ thuật trồng cây không dùng đất mà cây được trồng trực tiếp trên các giá thể hữu cơ hay giá thể trơ cứng và được bổ sung các chất dinh dưỡng đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng nhiều năm nay, có ưu điểm
Trang 112
thay thế đất trồng, quy trình sản xuất khép kín, kiểm soát được các yếu tố gây bệnh và lây truyền cho cây Ở nước ta, trước mắt và trong những năm tới ngành sản xuất rau cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy
Cà chua trồng trong bầu được tưới nhỏ giọt là kỹ thuật công nghệ cao trong nông nghiệp Giúp cho sinh viên nắm được đặc điểm sinh trưởng, nhu cầu dinh dưỡng và nước tưới của cây cà chua trong mỗi giai đoạn phát triển Tiện ích hơn nữa, trồng cà chua trồng bầu giảm công làm cỏ, tưới nước thường xuyên, giảm lao động phổ thông đơn giản và có nhiều thời gian nghiên cứu chuyên môn Sản phẩm cà chua thu hoạch theo kỹ thuật này dễ đạt tiêu chuẩn an toàn cao và nhiều người tiêu dùng ưa thích
Hệ thống tưới nhỏ giọt là một hệ thống tưới tiêu có ưu điểm như: Tiết kiệm nước tưới, thời gian, công sức lao động Hệ thống này đã xuất hiện và được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp tuy nhiên chưa được áp dụng rộng rãi miền Bắc nói chung và Thái Nguyên nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển của cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Trang 123
- Đánh giá được khả năng chống chịu sâu bệnh hại của cà chua trên các nền giá thể khác nhau
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học áp dụng vào thực tế Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm thực tế
- Qua kết quả nghiên cứu xác định loại giá thể thích hợp cho cà chua có
sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng
cà chua trên nên giá thể phù hợp nhất từ đó khuyến cáo đưa ra sản xuất
Trang 134
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.2 Giá trị sử dụng và ý nghĩa kinh tế
Cây cà chua là loại rau ăn quả quý được sử dụng rộng rãi trên thế giới hơn 150 năm qua Trong quả chín có nhiều chất dinh dưỡng như đường glucoza, vitamin A, C, axit amin và các chất khoáng quan trọng; Ca, P, Fe, K,
Mg …
Các chất hóa học trong cà chua cũng thay đổi tùy vào điều kiện ngoại cảnh, đất đai biện pháp kỹ thuật, chăm sóc mùa vụ, thời kỳ thu hoạch… Ví dụ: Giống cà chua PH5 có hàm lượng đường cao hơn cà chua Balan, cà chua
vụ đông xuân có hàm lượng vitamin A cao hơn vụ Xuân Hè Ngay trong một quả, thành phần hóa học cũng có sự thay đổi, ở giữa quả chất khô và đường nhiều còn xung quanh quả Axít nhiều nhưng hàm lượng đường ít
Theo Edward C.Tigchelaar ( 1989 )[3] thì thành phần hóa học của cà chua như sau:
Nước: 94 - 95%
Chất khô: 5 - 6%
Trong chất khô gồm có các chất chủ yếu sau:
- Đường (glucoza, fuctoza, sucroza): 55%
- Chất không hòa tan trong rượu ( protein, xenlulo, pectin, polysacarit ): 21%
- Axit hữu cơ ( xitric, malic, galacturonic, pyrrolidon-caboxylic ): 12%
- Chất vô cơ: 7%
- Các chất khác (carotenoit, ascorbic, chất dễ bay hơi, aminoaxit, v.v… ): 5% Theo PGS.TS Hồ Hữu An (2003 - 2006) cho thấy thành phần dinh dưỡng trong quả cà chua phụ thuộc rất nhiều yếu tố như thời vụ gieo trồng, giống và các biện pháp kĩ thuật gieo trồng
Trang 145
Cà chua còn được sử dụng về mặt thẩm mỹ và y học: Cà chua có thể dùng để chống tiêu chảy, chữa bỏng nắng, giảm đau, làm lành vết thương Cà chua còn làm thuốc tăng lực, bổ gan và chống xơ gan, sử dụng cà chua hàng ngày giúp chúng ta tiêu hoá khi ăn nhiều mỡ động vật, trứng, phomat…phòng được bệnh xơ cứng thành mạch Phụ nữ dùng quả cà chua đắp mặt hàng ngày làm cho da căng sáng, không nếp nhăn, chống lão hoá.Trong cà chua còn chứa các amino axit (trừ triptophan), giá trị dinh dưỡng của cà chua rất phong phú vì vậy hàng ngày mỗi người sử dụng từ 100 – 200g cà chua sẽ thoả mãn nhu cầu vitamin cần thiết và các chất khoáng chủ yếu Lycopen có trong cà chua là chất chống oxi hoá tự nhiên liên quan tới vitamin A đã được chứng minh có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư tuyến tiền liệt, vì lycopen là chất
có khả năng ngăn ngừa các gốc tự do gây ung thư
Ngoài giá trị về dinh dưỡng cây cà chua còn đem lại giá trị kinh tế cao
và là mặt hang xuất khẩu quan trọng của nhiều nước như Đài Loan hàng năm xuất khẩu cà chua tươi với tổng giá trị là 952.000USD và 40.800USD cà chua chế biến
2.1.2 Vai trò của giá thể trong sản xuất nông nghiệp
Cây được trồng trong môi trường tự nhiên ở đó có mối quan hệ giữa cây và đất Đất cung cấp 4 yếu tố quan trọng cho cây trồng: Nước, chất dinh dưỡng, oxi và làm cho cây đứng vững Hiện nay với những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại có thể giúp con người cung cấp những yêu cầu đó cho cây trồng một cách hiệu quả mà không cần đất Có nhiều phương pháp, kĩ thuật đã được phát minh và áp dụng Những phương pháp đó bao gồm nhiều hệ thống từ thủy canh dựa trên nước và chất dinh dưỡng đến khí canh sử dụng các dung dịch dinh dưỡng để nuôi cây một trong những phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay đó là sử dụng giá thể để trồng cây, mà đối tượng được áp dụng nhiều nhất là cây rau
Trang 156
Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra ngày càng nhanh Diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp, mà nhu cầu về rau của con người ngày càng cao nên việc tìm kiếm các khoảng không gian ở thành phố, thị xã, thị trấn để trồng rau sạch là vấn đề nan giải Chính vì vậy việc trồng cây trên giá thể đã từng bước phát triển ở Việt Nam
Trước đây giá thể chủ yếu sử dụng là cát hoặc sỏi Ngày nay đã có rất nhiều loại giá thể mới được nghiên cứu và sử dụng như: Xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn, đất nung xốp, đá trân châu, đá bọt núi lửa, rockwool (loại vật liệu có nhiều thớ, sợi, rất được các trang trại ưa chuộng)… Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại
Theo Roe và cs (1993) [8] việc ứng dụng sản xuất giá thể đặt nền tảng cho việc phòng trừ cỏ dại sinh trưởng giữa các hàng rau ở các thời vụ Chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loại giá thể Nhờ vào kỹ thuật, công nghệ mà làm tăng chất lượng cây và giảm thời gian sản xuất Cho thấy lợi nhuận của việc sử dụng giá thể trên vùng đất nghèo dinh dưỡng làm tăng độ màu mỡ của đất, tăng thêm lượng đạm trong đất và làm tăng năng suất chất lượng rau
Theo Lê Thị Thảo (2013) [9], sử dụng giá thể trồng cà chua làm giảm sự ảnh hưởng của sâu bệnh hại và tăng năng suất chất lượng cà chua
2.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua
- Nhiệt độ:
Cà chua ưa khí hậu ấm áp, khả năng thích nghi rộng, chịu được nhiệt
độ cao, nhưng mẫn cảm với rét Cà chua thường sinh trưởng bình thường trong phạm vi nhiệt độ 15 - 350C Nhiệt độ thích hợp cho cà chua nằm trong giới hạn 22 - 240C Giới hạn nhiệt độ tối thấp là 100C và nhiệt độ tối cao là
Trang 167
350C Hạt nảy mầm tốt ở nhiệt độ 25 - 300C, nhưng nhiệt độ thích hợp là
290C Quả sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 20 - 220C, sắc tố hình thành ở nhiệt độ
200C, quả chín ở nhiệt độ 24 - 300C, lớn hơn 300C các sắc tố bị phân giải
Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả khi cây cà chua còn non rễ ra
ít, mẫn cảm với nhiệt độ thấp hơn so với thân lá
Cà chua yêu cầu nhiệt độ để thông qua giai đoạn xuân hóa có thể phân thành 3 loại sau:
Yêu cầu nhiệt độ thấp để thông qua giai đoạn xuân hóa 2 - 30C
Yêu cầu nhiệt độ cao để thông qua giai đoạn xuân hóa 20 - 250C
Phản ứng không rõ ràng với nhiệt độ cao hay thấp
- Ánh sáng:
Cà chua thuộc loại cây ưa sáng nhưng không phản ứng với độ dài ngày nên cà chua có thể ra hoa cả trong điều kiện chiếu sáng ngày dài hay ngày ngắn Vì thế cà chua có tính thích nghi rộng, có thể trồng quanh năm và ở nhiều vùng khác nhau ở nước ta Cà chua ưa cường độ ánh sáng mạnh, từ 4.000 - 10.000 lux, nếu được chiếu sáng đầy đủ 11 – 13 giờ, cây con sinh trưởng tốt, ra quả thuận lợi, năng suất và chất lượng quả cao Cây thiếu ánh sáng sinh trưởng yếu ớt, lá nhỏ, mỏng, cây vống, ra hoa, ra quả chậm, năng suất và chất lượng quả giảm, hương vị nhạt đồng thời cũng rụng nụ, rụng hoa, rụng quả, nhụy co rút lại làm giảm khả năng tiếp nhận của hạt phấn và quả bị
dị hình Thành phần hoá học của quả cà chua chịu tác động lớn của chất lượng ánh sáng, thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng Theo Hamner và cộng sự (1945) cho biết ánh sáng mạnh rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến hàm lượng axít ascorbic trong quả cà chua, khi ánh sáng yếu làm giảm hàm lượng vitamin C trong quả
- Nước:
Trang 178
Cà chua là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng và yêu cầu về nước ở các giai đoạn rất khác nhau, xu hướng ban đầu cần ít nước sau cần nhiều hơn Lúc cây ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình thành chùm hoa và tỷ lệ đậu quả giảm Một số nghiên cứu cho thấy giữa năng suất cà chua và lượng nước bốc hơi trên lớp đất mặt sâu 1
cm có mối quan hệ chặt Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy một giống cà chua đạt năng suất 220 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước là 3,1 tấn/cm/ha lượng nước thoát hơi Độ ẩm đất thích hợp cho cà chua nảy mầm là 70%, sinh trưởng phát triển là 70 - 80% và độ ẩm không khí là 70 - 80% Thiếu nước cây sẽ bị rụng nụ rụng hoa, rụng quả, cây còi cọc, lá bé Thời kỳ cần nước nhiều nhất là từ hình thành hạt phấn hoa đến hình thành và phát triển quả (giai đoạn ra hoa - ra quả) Khi đất quá khô hay quá ẩm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cà chua Biểu hiện thừa nước hay thiếu nước đều làm cho cây héo Khi ruộng bị ngập nước, trong đất thiếu oxy, thừa khí cacbonic làm rễ cà chua bị ngộ độc đẫn đến cây héo Khi thiếu nước quả
cà chua chậm lớn thường xảy ra hiện tượng thối đáy quả, quả dễ bị nám do canxi bị giữ chặt ở các bộ phận già không vận chuyển đến các bộ phận non Nhiệt độ đất và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa, đặc biệt là các thời điểm trái vụ, mưa nhiều là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây Cà chua yêu cầu độ ẩm không khí thấp trong quá trình sinh trưởng phát triển, thích hợp 45 - 55%, độ ẩm cao trên 65% cây dễ dàng bị bệnh, ảnh hưởng đến sự tung phấn của hạt phấn, làm hạt phấn vỡ, làmgiảm
nồng độ đường ở nuốm nhụy Như vậy cà chua là cây “chân ướt đầu khô”
- Dinh dưỡng:
Rễ cây cà chua tập trung chủ yếu ở vùng đất mặt ở độ sâu 0-40cm, rễ
ăn sâu và rộng hơn nhiều các loại rau khác Cà chua có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất phù sa (thịt nhẹ), cát
Trang 189
pha, tơi xốp, tưới tiêu chủ động Giới hạn pH đất có thể trồng cà chua là hơi chua - hơi kiềm (5,5 -7,5), pH thích hợp nhất từ 6,0 - 6,5; đất giàu mùn, tầng canh tác dày, dễ thoát nước Cà chua là cây yêu cầu chế độ luân canh, luân phiên rất nghiêm ngặt Không nên trồng cà chua trên các chân đất trước đó trồng cây họ cà, đất có ít nguồn nấm bệnh là điều kiện rất cơ bản để trồng cà chua có năng suất cao Trong các nguyên tố dinh dưỡng thì cà chua hút nhiều nhất kali thứ đến là đạm và ít nhất là lân Cà chua sử dụng tới 60% N; 50 - 60% K2O và 15-20% P2O5 tổng lượng bón vào đất trong suốt chu kỳ sinh trưởng Theo Becseev, để tạo 1 tấn quả cà chua cần 3,8kg N; 0,6kg P2O5 và 7,9kg K2O
+ Đạm (N): Đạm có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng thân lá, phân hoá hoa sớm, số lượng hoa/cây nhiều, hoa to, tăng khối lượng và kích thước quả, tăng năng suất Tuy nhiên bón đạm quá nhiều làm sinh trưởng quá mạnh cành
lá rậm rạp, chậm ra hoa ra quả, chất lượng quả giảm, nhiều bệnh hạinặng đặc biệt là mốc sương Trong lúc đó thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, hoa quả ít, quả nhỏ, rụng hoa, rụng quả năng suất, chất lượng giảm mạnh
+ Lân ( P2O5 ): Lân có tác dụng kích thích hệ rễ phát triển đặc biệt thời
kỳ cây con (3- 4 lá thật), tăng cường phát dục của hoa (phân hoá hoa sớm), làm cho quả chín sớm, rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao chất lượng quả và hạt (tăng sức sống hạt phấn, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng chất lượng quả)
- Ka li (K2O): Kali tăng cường khả năng quang hợp, tham gia tổng hợp đường (gluxít), tăng cường quá trình vận chuyển các chất hữu cơ và đường vào quả Kali còn làm cho cây cứng, khoẻ tăng khả năng chống chịu bệnh và điều kiện bất lợi (chống rét), tăng chất lượng quả (làm cho quả nhẵn, thịt quả chắc) tăng khả năng vận chuyển và bảo quản khi quả chín, tăng hàm lượng đường, hàm lượng chất tan, vitamin C
Trang 1910
Thời kỳ ra hoa - ra quả, quả phát triển yêu cầu tối đa về các yếu tố dinh dưỡng Cà chua rất mẫn cảm với đạm nên chú ý bón các nguyên tố cân đối Theo Raymond A.T George (1989), đối với đất có dinh dưỡng thấp thì lượng phân vô cơ bón cho 1ha cần: 70-100kgN 105-200kg P2O5 và 150-200kg K2O Theo Geraldson, để đạt được 60 tấn quả/ha, cần bón 320 kg N; 60kg P2O5 và
440 kg K2O Ở vùng khô cà chua sử dụng nhiều đạm hơn, còn vùng khí hậu
ẩm cây sử dụng kali và lân nhiều hơn Theo Trần Khắc Thi và cộng sự (1999) thì trong điều kiện sinh thái của Việt Nam, lượng phân bón cho 1 ha cà chua
là 25 tấn phân chuồng, 150kg N, 90kg P2O5 và 150kg K2O.[3]
- Các nguyên tố vi lượng: Nguyên tố vi lượng có tác dụng quan trọng đến sinh trưởng phát triển của cà chua đặc biệt là nâng cao chất lượng quả Trong các nguyên tố vi lượng cà chua phản ứng với tốt với các nguyên tố vi lượng B, Mn, Zn trên đất chua nên bón phân Mo.[3]
2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cà chua trên thế giới và trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua trên thế giới
Trong số các loại rau trồng, cà chua là đối tượng nghiên cứu rộng rãi khắp thế giới Những nghiên cứu sâu về di truyền học, miễn dịch học đã cho phép xác định vị trí các locus quyết định các tính trạng trên 12 nhiễm sắc thể của cà chua Công tác chọn giống, trong đó có chương trình chọn giống chống chịu tổng hợp 3 - 4 loại bệnh hại đã đạt những thành tựu xuất sắc Năng suất
cà chua từ đó tăng từ 18 tấn/ha năm 1980 lên đến hơn 33 tấn/ha năm 2014 (tính trung bình toàn thế giới) Ngoài ra, vùng phân bố cà chua được xem là phổ biến nhất trong các cây trồng nông nghiệp, nhờ các nghiên cứu về giống
và công nghệ canh tác cà chua có thể trồng ở mọi điều kiện sinh thái trên thế giới Các nghiên cứu về thu hoạch, bảo quản và chế biến cà chua ngày càng được hoàn thiện Các sản phẩm cà chua như nước cà chua, bột, cà chua
Trang 2011
nguyên quả đóng hộp… được sản xuất với quy mô công nghiệp trên khắp thế giới với khối lượng hàng chục triệu tấn mỗi năm Giờ đây nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Hoa Kỳ các nhà khoa học đã tạo ra những giống cây trồng biến đổi gen, trong đó có cà chua Những giống cây trồng này ngoài khả năng như chống chịu được sâu bệnh, tuyến trùng, khô hạn, sương muối, nước mặn, nóng, lạnh còn có khả năng cất giữ mẫu giống lâu, chất lượng cao, mang nhiều đặc tính tốt, năng suất cao gấp bội.[3]
Trong những năm gần đây, sản xuất cà chua trên thế giới có những biến đổi về diện tích, năng suất và sản lượng
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới năm 2010-2014
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Theo FAO stat, 2015
Qua bảng 2.1 ta thấy: Diện tích trồng cà chua của thế giới tăng dần qua các năm từ năm 2010 – 2014 Năm 2010 diện tích trồng là 4.495.583 ha, đến năm 2014 là 5.023.810 ha Về năng suất cũng có sự thay đổi, có tăng giảm không đáng kể, trong đó năng suất cao nhất là 339,883 tạ/ha (năm 2014) và thấp nhất là 328,427 tạ/ha (năm 2012) Mặc dù năng suất cà chua không biến động nhiều nhưng sản lượng có nhiều hướng gia tăng, đạt 170.750.767 tấn vào năm 2014 tăng 18.856.252 tấn so với năm 2010 Sản lượng cà chua của
Trang 2112
thế giới có sự gia tăng là do có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sự mở rộng diện tích trồng cà chua trên khắp các châu lục Như vậy có thể khẳng định, cà chua trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong trồng trọt và được gieo trồng rộng rãi trên thế giới
Theo FAO (2015), hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước trồng cà chua, trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng lớn nhất và cũng là nước duy trì được tình trạng ổn định về sản xuất cà chua
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà chua của Trung Quốc năm 2010-2014
Nguồn: FAO stat, 2015
Qua bảng 2.2 ta thấy, tình hình sản xuất cà chua của Trung Quốc có những bước phát triển đáng kể về cả diện tích và sản lượng Diện tích trồng cà chua năm 2014 tăng lên 49.976 ha so với năm 2010, năng suất có sự biến động từ năm 2010 - 2014 năng suất cao nhất đạt 526.329 tạ/ha Do diện tích trồng cà chua tăng nên sản lượng hàng năm thu được cũng tăng theo, qua đó cho thấy Trung Quốc rất quan tâm tới việc phát triển và trồng cà chua
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua ở Việt Nam
Trong 10 năm trở lại đây, sản xuất rau không chỉ tăng về diện tích, năng suất, sản lượng, chủng loại mà còn tăng về tỉ lệ rau cao cấp, rau an toàn, rau trái vụ, góp phần đảm bảo lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu
Trang 22Cây cà chua ở nước ta được trồng hơn 100 năm nay, diện tích trồng ngày càng được mở rộng Theo số liệu thống kê năm 2005 diện tích trồng cà chua cả nước là 23.566 ha, năng suất trung bình đạt 197,8 tạ/ha, sản lượng 466.124 tấn Nhìn chung diện tích trồng cà chua tăng lên hàng năm nhưng năng suất thấp và không ổn định So với năng suất trung bình của toàn thế giới thì năng suất cà chua ở Việt Nam còn quá thấp, chỉ đạt khoảng 60 - 65%
Về sản lượng cà chua ở Việt Nam trong 4 năm (2001 - 2005) tăng gần 150.000 tấn do diện tích trồng được mở rộng và năng suất tăng lên Diện tích năng suất và sản lượng cà chua ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 được thể hiện qua bảng 2.2.[3]
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất cà chua ở Việt nam giai đoạn 2001-2005
Nguồn: Vụ nông nghiệp, Tổng cục thống kê năm 2008
Từ năm 2001 đến năm 2005 ở nứớc ta sản xuất cây cà chua tăng mạnh
về cả diện tích, năng suất cũng như sản lượng Trong những năm gần đây
Trang 2314
chúng ta đã tăng cường việc trồng cà chua trên các nền chân đất khác nhau, áp dụng các biện pháp kĩ thuật mới vào sản xuất đồng thời đưa thêm vụ cà chua Xuân Hè vào công thức luân canh từ đó đã mở rộng được thêm về diện tích sản xuất, nâng cao sản lượng
2.3 Nghiên cứu về giá thể trồng rau
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Giá thể trồng cây cũng rất nhiều loại nhưng hầu hết được phối trộn từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: Trấu hun, xơ dừa, mùn cưa, cát, bột đá Tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và có khả năng giữ nước tốt
Ở các nước đang phát triển, hỗn hợp đặc biệt gồm đá trân châu, than bùn có sẵn ở dạng sử dụng được cung cấp ngay cho mục đích thay thế cho đất Các trại thâm canh chủ yếu ở các nước đang phát triển thiên về nhập khẩu những hỗn hợp không phải là đất này, không có khả năng khai thác việc sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương Thực tế môi trường nhiệt đới rất có nhiều liệu có thể sử dụng pha chế hỗn hợp bầu trong vườn ươm Hỗn hợp bầu trong vườn ươm cần đảm bảo khả năng giữ nước và làm thoáng khí, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, sạch bệnh Hỗn hợp bầu trong vườn ươm được
sử dụng có rất nhiều công thức phối trộn, dựa vào khả năng có sẵn nguyên vật liệu có tỉ lệ 1:1:1 là cát rây + đất vườn + phân hữu cơ; đất vườn + bột xơ dừa + phân hữu cơ hay đất vườn + phân chuồng + bột xơ dừa.[6]
Theo Lawtence; Newell (1950) [11] cho biết Anh sử dụng đất mùn + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỉ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây là 7:3:2
Theo Masstalerz (1977) [12], đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau: Để gieo hạt cải bắp, cải xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phần phân bò và trong 1kg hỗn hợp
Trang 2415
trên có thêm 1g N, 4g P2O5 và 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và lượng chất khoáng như trên thì năng suất sớm đạt 170 tạ/ha Không chỉ đối với bắp cải, cải xanh mà đối với dưa chuột cũng thế Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần đất đồi và trong một hỗn hợp trên thêm 1g
N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sớm đạt 238 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn + 1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha
Masstalerz (1997) [12] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm nùn sét, mùn cát sét và mùn cát có tỉ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả Cho thêm 5,5 – 7,7g bột
đá vôi và 7,7 – 9,6g supe phosphat cho một đơn vị thể tích
Bunt (1965) [13] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích)1 than bùn rêu nước + 1 cát + 2,4kg/m3
đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây: 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập, khỏe
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngô Thị Hạnh (1997) [4] Viện rau quả Hà Nội đưa ra công thức phối trộn giá thể gieo cải bao trong khay gồm đất + cát + phân chuồng + trấu hun
tỷ lệ 3:1:1:1 và lượng NPK là 500g sunphat amon, 500g supe photphat và 170g clorua kali trong 1 tấn giá thể
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Hữu Phan (2001) [5] qua thực tế cho biết: Trong nhà lưới có mái che, cứ 100kg đất than bùn thì trộn 10kg vôi bột, 10kg supe lân và 6kg N-P-K Con Cò (13-8-12) và ủ 1 - 2 tháng rồi đem vào khay
Trang 2516
với rễ cây Giá thể lý tưởng là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa nhiều nước và oxi Ngược lại, sỏi thô tạo ra những khoảng trống quá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh
Giá thể lí tưởng phải có những đặc điểm:
- Có khả năng giữ ẩm cũng tốt như độ thoáng khí
Lê Thị Khánh đã thành công trong việc tạo ra giá thể bằng trấu hun, mùn cưa,
vỏ lạc ủ, đầu tôm ủ, rơm sau khi đã trồng nấm Đây là nguyên liệu sẵn có, dễ làm, không mất tiền mua, lại giả quyết được vấn đề vệ sinh môi trường Điều đặc biệt giá thể sau thời gian nuôi rau sạch (khoảng 3 - 4 năm) trong nhà lưới,
có thể dùng vào việc bón phân cho cây cảnh.[8]
Cũng sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng nhiều mô hình trên diện rộng thành công, mới đây Trung tâm nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây trồng trực thuộc Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa đưa ra khuyến cáo
bà con nông dân và các hộ gia đình ở thành phố áp dụng kỹ thuật trồng rau an toàn trên nền giá thể GT 05 GT 05 là giá thể sinh học không đất, có hàm lượng chất hữu cơ (OM) và dinh dưỡng cao: 44% chất hữu cơ (OM), 1,2%
Trang 2617
đạm (N), 0,8% lân (P2O5), 0,7 kali (K2O) và các dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết khác cho cây trồng GT 05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có độ tơi, xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và giữ ẩm tốt Trong sản xuất rau an toàn, GT 05 được sử dụng làm bầu gieo ươm cây rau giống, sản xuất cây rau mầm, rau thương phẩm như các loại rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và thuận lợi
Dòng sản phẩm đất Multi của công ty TNHH Nguyên Nông Gino đã được xử lý bằng công nghệ sinh học, thích hợp với khí hậu Việt Nam để trồng trong khay, chậu, máng, bồn hay luống Thành phần chính của hệ Multi là giá thể hữu cơ từ sợi xơ dừa, phân trùn quế, rong biển, hệ vi sinh vật hữu ích, bánh dầu lên men Đây là nguồn hữu cơ lâu dài, thân thiện với môi trường, không chất độc vi sinh vật gây hại, hoàn toàn không có đất thật, không dùng phân hóa học, thuốc trừ bệnh hóa học Hệ Multi có 11 sản phẩm riêng được phối trộn khác nhau để tạo nền dinh dưỡng cân đối cho nhiều loại cây trồng, đồng thời có sự kết hợp liên hoàn giữa các sản phẩm với nhau Ví dụ: Đất Multi tổng quát, đất cho rau ăn lá, đất cho rau ăn quả và hoa, đất ăn trái, đất giun chuyên trồng rau mầm.[5]
Sở NN & PTNT Hà Nội (2003) [7] qua nghiên cứu bước đầu, đã đưa ra
5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng như sau: Cây hồng Đà Lạt: Than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + 10% đất; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10% đất; hoa giống: Than bùn 45% +22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất; ớt: Than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5% than bùn + 22,5 bèo hoa dâu + 10% đất
Theo Trần Thu Hà và cộng sự (2010) [3] ở những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thế gieo cây con trong vườn ươm Giá thể làm bầu gồm đất bột đã phơi ải, đập nhỏ, sạch cỏ dại chiếm 1/3 khối lượng ruột bầu, 1/3 xỉ than và 1/3 phân chuồng hoai mục trộn
Trang 2718
đều, cứ 10kg ruột bầu (chất bồi dưỡng cây giống) trộn thêm 0,5 supe lân để xúc tiến quá trình hình thành và sinh trưởng phát triển của rễ Nếu gieo hạt vào khay thì độ dày của chất bồi dưỡng tùy theo loại cây trồng, trung bình từ
5 - 7 cm
Nghiên cứu về giá thể để trồng rau sạch cũng đã được Trường Đại Học
An Giang nghiên cứu với đề tài: “ Nghiên cứu một số giá thể trồng cải mầm thích hợp và cho hiệu quả kinh tế cao” Nghiên cứu sử dụng giá thể và dinh dưỡng thích hợp cho việc trồng cải mầm được thực hiện tại khoa Nông Nghiệp – Trường Đại Học An Giang từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2015 với 4 loại giá thể rẻ tiền và có sẵn tại tỉnh An giang là trấu, tro trấu, đất hỗn hợp với các trường hợp không sử dụng hoặc có sử dụng bổ sung phân cá, dinh dưỡng thủy canh rau Châu Á (Hà Nội), dinh dưỡng MS (Murashge Skoog) tự pha chế Qua thí nghiệm đã cho thấy sử dụng phân cá với giá thể tro trấu + trấu cho lợi nhuận cao 23.616 đồng/kg Từ đó có thể thấy việc trồng cải mầm bằng giá thể là khá đơn giản, dễ thực hiện, giá thể trồng rất dồi dào và luôn sẵn có, chi phí đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế khá cao
Theo Dương Thiên Tước (1997) [9] để nhân giống cây trong vườn dùng chậu, bồn để giâm Dưới đáy bồn chậu nên lót bằng than củi để dễ thoát nước, bên trên dùng 4/5 bùn ao phơi khô, đập nhỏ 1/5 cát vàng (hoặc cát đen) trộn phủ một lớp tro bếp mịn
Đánh giá về các nguồn nguyên liệu sử dụng để phối trộn giá thể, đối với rau giống và rau an toàn thì đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long là thành phần cơ bản của giá thể Tuy nhiên, tỷ lệ phối trộn ở miền Bắc và miền Nam khác nhau phụ thuộc vào chất độn hữu cơ Miền Bắc chủ yếu dùng trấu hun
và rơm rạ mục, miền Nam chủ yếu là xơ dừa ngoài ra có bổ sung than bùn và phân chuồng hoai mục.[9]
Trang 2819
2.4 Hệ thống tưới nhỏ giọt
Tưới nhỏ giọt là kỹ thuật tưới cung cấp nước vào đất dưới dạng các giọt nước nhỏ ra đều đều từ công cụ hay thiết bị tạo giọt đặt tại một số điểm trên mặt đất gần gốc cây Tưới nhỏ giọt đã có từ thời kỳ cổ đại với các bình đất sét đục lỗ cho nước thấm qua hay hệ thống ống dẫn đục lỗ tại Đức (năm 1920) nhưng phải đến năm 1959, nhờ công sức của hai cha con Simcha Blass và Yeshayahu người Israel, phương pháp này mới được hoàn thiện
Hệ thống tưới nhỏ giọt đơn giản bao gồm bồn chứa nước, hệ thống ống dẫn và đầu tưới nhỏ giọt hay dây nhỏ giọt Phần điều khiển tự động bao gồm van điện điều khiển khu vực tưới, bộ lọc, bộ điều khiển số lần và thời gian tưới trong ngày Hệ thống tưới nhỏ giọt có thể kết hợp với bộ châm phân tự động, cung cấp phân bón khi tưới tiêu, cách này được gọi là tưới bón
Đến nay, hệ thống tưới nhỏ giọt là biện pháp tưới tiêu tiết kiệm nước nhất, giảm đến 30 - 60% nước so với phương pháp tưới truyền thống Nông dân có thể mang nước, phân bón đến đúng địa chỉ với liều lượng vừa đủ dung thông qua hệ thống van, đường ống, máy bơm và hiện đại hơn là kết nối với
hệ thống máy tính kiểm soát Đặc biệt hơn, còn có thêm đầu cảm ứng cắm vào đất và lắp đặt chung với hệ thống tưới nhỏ giọt Đầu này có thể cảm ứng được độ ẩm của đất và điều khiển quá trình tưới dựa trên nguyên tắc thông minh của con người "đất khô thì tưới, đất ẩm thì ngưng"
Tưới nhỏ giọt được áp dụng nhiều trong các nông trang, nhà kính và vườn gia đình cũng như thích hợp nhất với các loại cây như dừa, nho, chuối, cam quýt, dâu tây, mía, bòng, ngô, cà chua và một số cây công nghiệp khác
Một số chỉ tiêu về tưới nhỏ giọt cho cây chè tại phường 3 - Thị xã Bảo Lộc
Trang 29Lượng nước (m³)
Công tưới Độ ẩm đạt
được (%) Tưới tiết
Tính diện tích quy đổi ha Nguồn Gs.Ts Lê Sâm
Hệ thống tưới nhỏ giọt đạt yêu cầu, nhất là trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, phải là một hệ thống vận hành một cách tinh tế và "cảm nhận" được sự lớn lên, phát triển từng ngày cho mỗi loại cây trồng, cung cấp nước tưới và phân bón thích hợp nhất để đạt kết quả vụ mùa như mong muốn của nhà nông Các hệ thống tưới nhỏ giọt sẽ được thiết kế, chế tạo dựa trên một nguyên lý chung, thế nhưng mỗi hệ thống đều mang vẻ độc đáo riêng tuỳ thuộc loại cây trồng, thổ nhưỡng, địa hình khi vực, quy mô mà hệ thống tưới… Cùng một nhà sản xuất, nhưng các hệ thống tưới sẽ rất khác nhau về nguồn nước cấp, cột áp nước, đường kính và chiều dài đường ống chính, ống nhánh, khoảng cách giữa các đầu nhỏ giọt Tất cả phụ thuộc quy mô, nhu cầu tưới tiêu và sinh trưởng của cây trồng Điều này đòi hỏi nhà sản xuất hệ thống tưới nhỏ giọt phải có kinh nghiệm về chế tạo cơ khí, điện, điện tử, tự động hoá cả lập trình trên máy tính…và còn phải am hiểu sinh lí của cây trồng và các loại phân bón có thể được sử dụng Có thể nói sản xuất một hệ thống tưới nhỏ giọt tương tự như tạo hoá tạo ra một con người, trên một cơ chế giống nhau, nhưng hàng triệu người thì khác biệt nhau vô cùng
Israel đi đầu trong công nghệ tưới trên thế giới Nói đến hệ thống tưới nhỏ giọt phải kể đến tập đoàn Netafim, Israel nổi tiếng thế giới Công nghệ tưới tiết kiệm nước Israel hiện không chỉ tập trung tại những khu vực ít nguồn
Trang 3021
nước tự nhiên của các nước phát triển mà đang được mở rộng trên phạm vi toàn cầu Hiện có hơn 110 quốc gia trên thế giới đang sử dụng công nghệ và thiết bị của hãng này Tại Nam Mỹ và Châu Âu, tưới nhỏ giọt đã trở nên phổ biến Tập đoàn Netafim đã nhập hợp đồng cung cấp hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt trị giá 22 triệu USD cho dự án trồng mía đường quy mô lớn tại Peru Việc áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt đang trong giai đoạn phát triển ở Châu
Á, đặc biệt tại Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia có tỷ lệ diện tích được tưới lớn nhất thế giới Tại Iraq, hệ thống tưới nhỏ giọt "made in Israel" chiếm được nhiều cảm tình của nông dân nước này Một số quốc gia Trung Á cũng đang chuyển đổi hệ thống thuỷ lợi tưới dưới thời Liên Xô được thiết kế cho các nông trang lớn sang biện pháp tưới tiêu hiện đại tiết kiệm nước phù hợp với mô hình nông trang nhỏ hơn Có thể nói công nghệ tưới nước tiết kiệm Israel đang dẫn đầu thế giới, nhưng theo dữ liệu sáng chế tiếp cận được thì các sáng chế kiên quan đến tưới nước không thấy xuất hiện nhiều ở Israel Lĩnh vực này trên thế giới có gần 800 sáng chế (SC), trong đó, Trung Quốc có nhiều SC được đăng ký nhất (445 SC), tiếp đến là Mỹ với 149 SC Sở hữu nhiều SC về hệ thống tưới nhỏ giọt là công ty Xinjiang Tianye (Group) Co.,Ltd (Trung Quốc); T- Systems International, Inc ( Mỹ) [1]
Tại Việt Nam tưới nhỏ giọt phát triển từ năm 2001 và công nghệ tưới tiết kiệm của Israel cũng đã được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp nước ta Công ty Dalat Hasfarm tiên phong trong việc trồng hoa quy mô công nghiệp có đầu tư nhà kính, hệ thống điều khiển nhiệt độ, tưới nước nhỏ giọt tự động Ngoài ra, có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt nhu Trung tâm Phát triển Nông Nghiệp, Lâm nghiệp Công nghệ cao Hải Phòng; Nông trường Thọ Vực Đồng Nai sử dụng tưới nhỏ giọt cho cây dứa; hệ thống tưới nhỏ giọt ở công ty Lâm Tàu và công ty Boniefarm tại
Đà Lạt; hệ thống tưới nhỏ giọt cho nho tại Trung tâm Sadec Bình Thuận, hệ
Trang 3122
thống tưới nhỏ giọt cho rừng sinh thái công ty Rạng Đông tại vùng đất cát Mũi Né Bình Thuận,… Đầu năm 2010, Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã thiết kế hoàn chỉnh hệ thống tưới nhỏ giọt điều khiển
tự động Hệ thống này được sử dụng trong các Khu Nông nghiệp công nghệ cao, trồng cây ăn quả, hoa, rau và các cây công nghiệp khác có giá trị kinh tế cao Ưu điểm của hệ thống là được lắp ráp từ các vật liệu sẵn có trong nước, giá thành chỉ bằng một nửa so với hệ thống cùng loại nhập khẩu của nước ngoài [1]
Sử dụng thiết bị và công nghệ nước ngoài có độ ổn định cao, tuy nhiên giá thành lại quá đắt Hiện nay, nhiều hộ gia đình, nông dân chưa đủ kinh phí đầu tư công nghệ nước ngoài cũng đã tự tìm tòi học hỏi để cho ra đời các hệ thống tưới sáng tạo phù hợp với thiết bị hiện có của Việt Nam Điển hình là hai nông dân giỏi Nguyễn Thành Phước và Võ Văn Thành, huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, hay nông dân Trần Hữu Thuấn ở huyện Xuân Lộc là những người có sáng kiến cải tiến hệ thống tưới tiết kiệm, đã lắp đặt cho hàng trăm hộ nông dân khác sử dụng Hy vọng với các hệ thống tưới "made in Viet Nam" này sẽ giúp các nông dân giảm được chi phí đầu tư mà vẫn mang lại được hiệu quả cao [9]
Trang 3223
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng: Giống cà chua Tre việt SAVI - 01 có các đặc tính: Sinh trưởng bán hữu hạn, chiều cao trung bình từ 1,2 - 1,6m, trọng lượng trung bình quả 80 - 120g, độ đồng đều cao chín màu đỏ tươi Giống kháng bệnh tốt với bệnh sương mai, xoăn lùn, có sức chịu nóng và ít bị rạn trong mùa mưa Thời gian từ trồng đến thu hoạch là 55 - 60 ngày
- Vật liệu:
+ Giá thể:
Đất màu được phơi khô, đập nhỏ sàng rây để loại bỏ rác, đá vật chất khác
Trấu hun: Vỏ trấu đem hun không hoàn toàn, có tính thoát nước, thông thoáng, nhẹ, xốp, không ảnh hưởng đến độ pH
Xơ dừa: Có chứa một hàm lượng muối nhất định, thông thoáng, giữ ẩm tốt
Xỉ than: Xốp, thông thoáng
+ Phân hữu cơ vi sinh: Sử dụng phân hữu cơ sinh học NTT; thành phần
(%): Hữu cơ 35, axit Humic 6, độ ẩm < 20, N – P – K: 2.5 – 1 – 1; sản phầm KHCN của trương Đại học Nông lâm Thái Nguyên
+ Phân khoáng: Phân NPK 20-20-15 + TE Đầu Trâu cao cấp có thành phần gồm: Đạm (N): 20%, Lân hữu hiệu (P205hh): 20%, Kali (K2O): 15%, Canxi (CaO): 0,25%, Magie (MgO): 0,35%, Lưu huỳnh (S): 0,5% và các nguyên tố vi lượng khác như Fe, Cu, Zn, B Có tác dụng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết, tăng năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh hại cho cây trồng
+ Túi bầu kích thước 28 x 30cm