MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 2 1 1 Khái niệm, ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Ý n.
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
“Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”1
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọngđược quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và cũng là một trong những vấn đềpháp lý mà chúng ta thường gặp phải trong cuộc sống Trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng có lẽ là một vấn đề không mấy xa lạ đối với chúng ta trong chủ
đề này khi những sự việc như vậy vẫn luôn diễn ra hằng ngày Bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự của bên có lỗi (cố ý hoặc vô ý) gâyhại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi íchhợp pháp khác của cá nhân, gây hại đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặccác chủ thể khác Đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bất cứ chủ thể nào
có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường,trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
Và đương nhiên là người có lỗi sẽ là người phải chịu trách nhiệm bồi thườngđối với thiệt hại đã gây ra cho người bị hại Bộ luật Dân sự 2015 đã có những quyđịnh rất rõ ràng nhằm giải quyết về những tranh chấp xung quanh vấn đề này Thếnhưng, nếu như trong trường hợp cả hai bên đều có lỗi gây nên hậu quả không tốtđẹp thì ai mới là người phải chịu trách nhiệm bồi thường? Và đâu là căn cứ xác địnhlỗi do ai?
Sau đây nhóm em xin được trình bày về đề tài “BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN ĐỀU CÓ LỖI”
để có thể trình bày những kiến thức mà chúng em đã tìm hiểu Sẽ là một vinh dự vôcùng lớn lao của chúng em khi nhận được những nhận xét và đóng góp từ giảngviên ạ!
1 Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 3CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm, ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1 Khái niệm
Thiệt hại ngoài hợp đồng là những thiệt hại không phải do vi phạm nghĩa vụ
có thoả thuận trong hợp đồng gây ra mà là do vi phạm pháp luật, do tội phạm gây
ra Ví dụ: do xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, do gây tai nạn gây ra, Do đó, bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý, thực hiện tráchnhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trongluật dân sự
Căn cứ theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một trongnhững căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi tráipháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, phần thứ
ba của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng” Tuy nhiên, luật không nêu rõ khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
mà chỉ quy định về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, điều kiện, nguyêntắc bồi thường, …
Theo khoản 1 Điều 584 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” 2 Dựa vào đó, ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
Thứ nhất, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự
phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một hành vi viphạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi nàycũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệthại và người bị thiệt hại
2 Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 4Thứ hai, thiệt hại phải là nền tảng cơ bản và là điều kiện bắt buộc của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.2 Ý nghĩa
Trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêngmang đặc tính của trách nhiệm dân sự Đó là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phụctình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng
3 Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm khắc phục nhữnghậu quả về tài sản, phục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại trong phạm vi,khả năng nhất định, đảm bảo lợi ích của người bị thiệt hại Việc này có ý nghĩa quantrọng đối với người bị thiệt hại trong việc cứu chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầukhi lợi ích của họ bị xâm phạm
Thêm vào đó, ngoài đảm bảo việc đền bù tổn thấy đã gây ra mà trách nhiệmbồi thường thiệt hại còn mang ý nghĩa giáo dục, răn đe mọi người về ý thức tuân thủpháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác
Tuy nhiên, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là cácquy tắc nhằm khôi phục thiệt hại, bởi khi thiệt hại đã xảy ra thì không còn cơ hội đểkhắc phục, bù đắp được nữa Thực chất, chế định bồi thường thiệt hại là quy tắcphân bổ lại thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan (tức là người gâythiệt hại, người bị thiệt hại hay một bên thứ ba nào khác) Chế định này còn có chứcnăng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa) Chức năng nàynhằm làm cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội ý thức được rằng, nếu họ gây thiệthại cho chủ thể khác, không những họ sẽ không được khuyến khích mà còn phảigánh chịu hậu quả bất lợi, thì họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại.4
1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Dựa vào khái niệm đã nêu ở trên, có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng có những đặc điểm sau đây:
3 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt nam tập II, NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2018, tr
304.
4 Phạm Thị Hương, Bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo pháp luật Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.
Trang 5Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự
Những chủ thể của trách nhiệm bồi thường là chủ thể của quan hệ pháp luậtdân sự và việc xác định thiệt hại, chủ thể phải bồi thường, nguyên tắc, năng lực bồithường, được các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm vật chất
Bởi lẽ, loại tránh nhiệm này mang tính chất tài sản Trong thực tiễn, các hành
vi vi phạm pháp luật gây ra những thiệt hại có thể là những thiệt hại về tài sản, sứckhỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người Nhưng bồi thườngđược xác định bằng một lượng tài sản nhất định và người chịu trách nhiệm bồithường chỉ phải chịu tổn thất về tài sản chứ không phải chịu một sự tổn thất tương
tự về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín
Thứ ba, việc chịu trách nhiệm gây ra hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải gánh chịu
Tuy việc phương thức bồi thường có thể được các bên chủ thể thỏa thuậnbằng tiền, bằng hiện vật, phải thực hiện một công việc, nhưng dù có được bồihường bằng phương thức nào đi chăng nữa thì cũng hướng tới việc bù đắp nhữngthiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu Hậu quả của việc áp dụng tráchnhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt hại để bùđắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với các hành
vi phạm tội với động cơ vụ lợi.5
Thứ tư, việc bồi thường chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên cơ sở thiệt hại đãxảy ra để xác định mức độ trách nhiệm Trong luật dân sự quy định một nguyên tắctổng quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng không quyđịnh những hành vi nào là có lỗi và phải chịu chế tài Do đó, nếu người có hành vi
5 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt nam tập II, NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2018, tr
304.
Trang 6vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho cá nhân hoặc các tổ chức thì họ phải bồithường những thiệt hại đã gây ra.
Thứ năm, việc bồi thường được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế.
Do mang đặc điểm là luôn gây ra hậu quả bất lợi mà một bên chủ thể phảigánh chịu, nên việc bồi thường luôn có sự mất cân bằng về lợi ích giữa các bên.Trong trách nhiệm bồi thường, bên phải bồi thường là bên phải gánh chịu những bấtlợi, còn bên được bồi thường sẽ được hưởng những lợi ích mà bên kia mang lại Sựđối lập nhau về lợi ích có thể khiến cho bên có trách nhiệm bồi thường không thựchiện đầy đủ trách nhiệm của mình Vì thế việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là rấtcần thiết để để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị thiệt hại
Thứ sáu, không có quan hệ hợp đồng giữa hai bên chủ thể.
Trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hai bên chủ thể cụ thể làbên có trách nhiệm bồi thường và bên bị thiệt hại phải bắt buộc là chưa từng cóquan hệ hợp đồng hoặc có những thiệt hại xảy ra liên quan đến hợp đồng Việc này
là đặc điểm quan trọng để căn cứ quyết định là có bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng hay không
1.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ cácđiều kiện do pháp luật quy định Tuy Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định cụthể các điều kiện làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những
ta có thể dựa trên những căn cứ phát sinh trách nhiệm mà pháp luật quy định tạiĐiều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do
Trang 7lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.” 6
Theo đó, những điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng là:
- Phải có thiệt hại xảy ra Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phảibồi thường Thiệt hại có thể là thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần
- Phải có hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể
của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái vớicác quy định của pháp luật
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật Nhân quả là mối liên hệ nội tại, khách quan và tất yếu giữa các hiện tượng tựu
nhiên cũng như xã hội, trong phải tồn tại nguyên nhân và sau đó là kết quả Việc xácđịnh mối quan hệ nhân quả chính là xác định mối liên hệ khách quan đó, nguyênnhân bao giờ cũng có trước kết quả và kết quả là hậu quả của nguyên nhân Vì vậy,thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại
- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại
Lỗi là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Tuynhiên, trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại, mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đếnviệc xác định trách nhiệm Có những trường hợp người gây ra thiệt hại vẫn phải bồithường dù không có lỗi như trong khoản 3 Điều 601, Điều 602 Bộ luật Dân sự năm2015
Thêm vào đó, các trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi mà pháp luậtquy định vẫn phải bồi thường là trường hợp người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải có trách nhiệm
6 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 8bồi thường Với quy định này pháp luật đã dự liệu các trường hợp gây ra thiệt hại
dù không có lỗi vẫn phải bồi thường nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức bị thiệt hại
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại phải do người có khả năng bồi thường và chính họphải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ mặc dù có những trường hợp hành vi gây rathiệt hại có thể không do chính họ thực hiện
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhânphụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thườngcủa cá nhân Theo đó, dựa vào Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể thấy cácquy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
- Đối với người từ đủ mười tám tuổi trở lên: người từ đủ mười tám tuổi trởlên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do đó họ phải chịu trách nhiệm do hành vitrái pháp luật của họ bằng tài sản của chính họ Khoản 1 Điều 586 quy định người
từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường
- Đối với người chưa đủ mười lăm tuổi và người từ đủ mười lăm tuổi đếnchưa đủ mười tám tuổi: người chưa đủ mười lăm tuổi mà còn cha, mẹ thì cha, mẹphải dùng tài sản của mình để bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha mẹkhông đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường phần cònthiếu Đối với những người từ mười lăm đến dưới mười tám tuổi thì áp dụng ngượclại, lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm bổ sung phần cònthiếu
- Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: việc bồi thường do người giám hộthực hiện, người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồithường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồithường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám
hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tàisản của mình để bồi thường
Trang 91.5 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Căn cứ vào Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năm nguyên tắc bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Thứ nhất, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên
có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vậthoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừtrường hợp pháp luật có quy đinh khác
Bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” là nguyên tắc được thể hiện đầu tiêntrong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bồi thường toàn bộ thiệthại là nguyên tắc công bằng, hợp lí, phù hợp với mục đích cũng như chức năngphục hồi chế định của pháp luật Việc bồi thường kịp thời đảm bảo người có hành vigây thiệt hại phải bồi thường tương xứng với toàn bộ thiệt hại đã gây ra và bồithường kịp thời, càng nhanh càng tốt để khắc phục hậu quả, hạn chế các thiệt hại.Pháp luật khuyến khích các bên đương sự tự thỏa thuận về mức bồi thường, hìnhthức bồi thường, phương thức bồi thường Tuy nhiên sự thỏa thuận này phải phùhợp với thực tế, không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ hai, người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô
ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình
Nguyên tắc này thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên,
để giảm mức bồi thường thì phải dựa trên cơ sở là có lỗi vô ý và thiệt hại gây ra quálớn so với khả năng kinh tế của người gây ra thiệt hại
Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt
hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước cơthẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra
Thứ năm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu
thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạnchế thiệt hại cho chính mình
Trang 11CÓ LỖI
2.1 Khái quát chung về lỗi
2.1.1 Khái niệm về lỗi trong Luật Dân sự Việt Nam
Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nộidung của nó là sự phủ định yêu cầu của xã hội được thể hiện thông qua các quyđịnh của pháp luật Khi một người có đủ nhận thức và điều khiển để lựa chọn cách
xử sự sao cho xử sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khácnhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó có lỗi
Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánhnhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện.Căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự, lỗi được khái quát như sau:
Điều 364 Lỗi trong trách nhiệm dân sự
Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.
Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được 7
2.1.2 Ý nghĩa của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
Thứ nhất, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
7 Điều 364 Bộ luật Dân sự năm 2015.