Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề tôn giáo đã từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị, chống phá cách mạng Việt Nam và ngày nay vẫn còn một số thành phần tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN Môn học: Chủ nghĩa xã hội và khoa học
Đề tài:
1 Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo.
2 Phân tích đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam và chính sách của Đảng - Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề tôn giáo.
3 Qua nghiên cứu vấn đề tôn giáo, hãy cho biết quan điểm của bạn về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Giảng viên : Hoàng An Quốc
Mã lớp học phần : 22D1POL51002528
Sinh viên thực hiện : Đào Quang Dũng
Lớp: FB011 STT: 17 MSSV: 31211024081
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
NỘI DUNG 5
Phần 1 Phần lý luận 5
1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 5
2 Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay 6
Phần 2 Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 6
1 Liên hệ với thực trạng Phật giáo ở Việt Nam hiện nay 6
2 Nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo 11
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống tinh thần của con người , tôn giáo luôn đóng một vai trò nhất định Tôn giáo là tự do tín ngưỡng của mỗi công dân Vấn
đề tôn giáo từ lâu đã là một trong những vấn đề nhạy cảm đối với Việt Nam cũng như các nước trên toàn thế giới Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề tôn giáo đã từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị, chống phá cách mạng Việt Nam và ngày nay vẫn còn một số thành phần tìm cách lợi dụng tôn giáo để chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa nước ta Chính vì thế mỗi người dân chúng ta cần phải có những sự hiểu biết thấu đáo và chính xác về tôn giáo để không bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tôn giáo vào những mục đích xấu
Xuất phát từ lý do trên và để phục vụ cho việc học tập bộ môn Chủ
Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em quyết định chọn đề tài “Quan điểm
của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay Ý nghĩa của khẩu hiệu: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội của giáo hội phật giáo Việt Nam ” Là đề tài nghiên cứu để trước hết em cũng như mọi người sẽ
nhìn nhận được những quan điểm tôn giáo trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đặc biệt là Phật giáo
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu :
Xuất phát từ lý do trên và để phục vụ cho việc học tập bộ môn Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em quyết định chọn đề tài “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay Ý nghĩa của khẩu hiệu: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội của giáo hội phật giáo Việt Nam
” Là đề tài nghiên cứu để trước hết em cũng như mọi người sẽ nhìn nhận được những quan điểm tôn giáo trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đặc biệt là Phật giáo
Nhiệm vụ nghiên cứu :
Để đạt được mục đích trên, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu lý luận chung về vấn đề tôn giáo và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo
Trang 4trong thời kỳ quá độ lên CNXH; chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam; liên hệ với thực trạng phật giáo ở Việt Nam hiện nay: Mặt tích cực và hạn chế của phật giáo Việt Nam; ý nghĩa khẩu hiệu : Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội và nhận thức của cá nhân về vấn đề tôn giáo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tôn giáo - Phật giáo
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Việt Nam
- Thời gian: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn
giáo
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật với các phương pháp như: thống nhất logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hoá
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Việc nghiên cứu đề tài đã giúp chúng ta hiểu được
bản chất, nguồn gốc, tính chất và nguyên tắc của tôn giáo theo quan điểm của Mác-Lênin trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chính sách của Nhà nước trong thời kỳ đấy
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao cái nhìn đúng đắn về tôn giáo
cũng như việc thực hiện các hành động về tôn giáo, đề xuất những chính sách về tôn giáo một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay
Trang 5NỘI DUNG Phần 1 Phần lý luận
1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1 Bản chất của tôn giáo
- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan, thông qua hệ thống các biểu tượng siêu nhiên và niềm tin
- Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch
sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định
- Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự yếu thế, bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên, xã hội và trước các thế lực trong đời sống
1.2 Nguồn gốc của tôn giáo
- Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội: Sự bất lực của con người trước các thế lực tự nhiên, thế lực xã hội
- Nguồn gốc nhận thức: do khả năng nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân con người là có giới hạn nên đã thần thánh hóa những điều chưa nhận thức được
- Nguồn gốc tâm lý: đó là ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (cả tích cực
và tiêu cực) đến sự ra đời của tôn giáo Đặc biệt là sự bất lực trong đời sống, trong nhận thức, tạo ra sự sợ hãi, bi quan Đó là những tình cảm làm nảy sinh và duy trì niềm tin tôn giáo
1.3 Tính chất của tôn giáo
- Tính lịch sử: Tôn giáo chỉ xuất hiện trong những điều kiện lịch sử nhất định; trong từng thời kỳ lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó
- Tính quần chúng của tôn giáo: Số lượng tín đồ theo các tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đông; tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hoá, tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân lao động
- Tính chính trị của tôn giáo: giai cấp thống trị lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình; đấu tranh tôn giáo là một bộ phận của đấu tranh giai cấp; tôn giáo thay đổi cùng với sự thay đổi của quan hệ chính trị-giai cấp
1.4 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội
- Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
- Khắc phục dần các ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, gắn liền với
Trang 6quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
- Phân biệt hai mặt chính trị và tôn giáo, phân biệt hoạt động tôn giáo bình thường và việc lợi dụng tôn giáo
- Có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo
2 Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước Việt Nam hiện nay
2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
- Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo
- Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen chung sống hoà bình và không có xung đột tôn giáo
- Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam phần lớn là nhân dân lao động, có lòng yêu nước và tinh thần dân tộc
- Chức sắc tôn giáo có vai trò, vị trí quan trọng trong xã hội, có uy tín và ảnh hưởng với tín đồ
- Các tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài
- Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động lợi dụng
2.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với
tôn giáo hiện nay
- Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH
- Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
- Hoạt động tôn giáo phải tuân thủ theo pháp luật
Phần 2: Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1 Liên hệ với thực trạng Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam
hiện nay
Với dân tộc Việt Nam, không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo là một trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hoá dân tộc, là một phần không thể thiếu trong nền văn hoá Việt Hơn 2.000 năm tồn tại ở Việt Nam, Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Phật giáo đã góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực trong lối sống của người Việt Nam
Phật giáo đã góp phần hình thành lối sống của con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay
Trang 7Thực tế lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng sự khoan dung, hiếu hòa, độ lượng trong đường lối trị quốc của các triều đại Lý-Trần (giai đoạn mà Phật giáo giữ vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội) là có sự đóng góp rất lớn của Phật giáo Các giai đoạn lịch sử sau này, mặc dù Phật giáo không còn là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội nhưng nó vẫn có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc điều chỉnh hành vi đạo đức của con người Việt Nam Nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo tham gia vào nền đạo đức của dân tộc trong lịch sử, giờ đây đã trở thành lời ăn tiếng nói, trở thành phương tiện diễn đạt quan niệm đạo đức truyền thống của người dân Việt Nam Thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật gặp gỡ với tín ngưỡng
thác sinh của người Việt từ lâu đã lan tỏa thành nếp sống, nếp nghĩ “ở
hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”, “nhân nào quả ấy”… trong nhân dân
Bên cạnh đó, cùng với Nho giáo và Lão giáo, thuyết Tứ ân của nhà Phật
đã hoà nhập với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và nâng tín ngưỡng này lên thành một đạo lý có tính bền chắc, tồn tại qua nhiều thế
hệ người Việt Có thể nói, những quan niệm đạo đức Phật giáo đã có tác động rất lớn đến đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam, góp phần hình thành nhân cách, lối sống của con người Việt Nam
Cách giao tiếp, ứng xử của người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của các quan niệm của Phật giáo.
Về ứng xử, giao tiếp trong gia đình, Phật giáo luôn đề cao sự hòa thuận
và trách nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ Đồng thời, Phật giáo cũng
đề cao sự hiếu thuận của con cái với ông bà, cha mẹ thông qua thực việc hiện Tứ ân Một gia đình hoàn mỹ, theo quan niệm Phật giáo, phải lấy tình thương yêu làm trọng tâm và các thành viên trong gia đình phải vừa
tự mình vượt khổ, vừa giúp nhau thoát khổ để đạt hạnh phúc Tục ngữ, ca dao Việt Nam cũng đề cập đến rất nhiều cách thức giao tiếp, ứng xử hòa
thuận, hiếu nghĩa của các thành viên trong gia đình, như “Công cha như
núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”; “Chị ngã, em nâng”; “Môi hở răng lạnh”; “Máu chảy ruột mềm”; “Anh em chém nhau đằng sống”…
Trong giao tiếp, ứng xử với cộng đồng, Phật giáo chủ trương thiết lập quan hệ bình đẳng giữa các tha nhân Theo quan niệm của nhà Phật, lời nói được sử dụng trong giao tiếp không chỉ nhằm mục đích đạt được hiệu quả giao tiếp, mà quan trọng hơn còn là xây dựng, củng cố tình thương giữa tha nhân Trong dân gian, người Việt cũng vẫn thường nhắn nhủ
nhau rằng, “Một điều nhịn, chín điều lành”, “Đời cha ăn mặn, đời con
khát nước”, “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”… Có thể nói, đây là những quan niệm của Phật giáo đã được Việt
hóa, trở thành những giá trị văn hoá truyền thống, thành thói quen giao tiếp ứng xử cộng đồng của người dân Việt Nam Không chỉ chú trọng
Trang 8cách thức giao tiếp trong quan hệ giữa người với người, Đức Phật còn chú trọng đến cả cách thức ứng xử của con người với môi trường thiên nhiên Ngay từ buổi đầu mới du nhập vào Việt Nam, quan niệm sống hài hoà với thiên nhiên của Phật giáo đã nhanh chóng được người dân Việt đón nhận, vì nó phù hợp với điều kiện và môi trường sống của người Việt Tôn trọng tự nhiên, sống hài hòa với tự nhiên đã trở thành một trong những lẽ sống của người Việt Lẽ sống ấy đã đi vào thi ca, nhạc họa và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của người Việt Nam
Phật giáo còn in đậm dấu ấn của mình trong phong tục, tập quán của người dân Việt Nam.
Chùa trong tâm thức của người dân Việt Nam không chỉ là nơi thờ Phật,
mà còn là nơi thờ Mẫu, thờ Thần, thờ tổ tiên và thờ các anh hùng dân tộc Chính vì vậy, người dân Việt Nam đến chùa không phải chỉ để lễ Phật,
mà còn lễ mẫu, lễ thần, tưởng nhớ tổ tiên, dòng tộc và tưởng nhớ các anh hùng dân tộc Đối với đại đa số người dân Việt Nam, mặc dù không tự nhận mình là người theo Phật giáo nhưng vẫn thường xuyên đến chùa Họ không hiểu thấu đáo những lý thuyết của nhà Phật, nhưng họ có thể tin những điều đó dưới góc độ luân lý, đạo đức Đa số người Việt đến chùa, người nhiều thì có thể thuộc một vài bài kinh, còn lại chỉ biết mấy câu niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát” Họ đến chùa không phải với mong muốn hiểu thấu đáo giáo lý nhà Phật, mà với mong muốn cầu mong Thần, Phật đem lại cho gia đình họ nhiều may mắn, phúc lộc, tai qua nạn khỏi Phật giáo từ lâu đã ăn sâu vào cuộc sống tâm linh của cộng đồng làng, xã Việt Nam Chùa thờ Phật trở thành chùa làng, trở thành nơi giải trí chung của cả cộng đồng Sinh hoạt Phật giáo
đã trở thành một sinh hoạt văn hoá trong đời sống thường nhật của người dân Chùa thờ Phật còn là không gian thiêng để người dân Việt gửi gắm niềm tin Họ tin vào niềm tin linh thiêng nhân quả của nhà Phật, tin vào
sự chứng giám anh minh, ở hiền gặp lành của một Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay thấu hiểu mọi khổ ải của chúng sinh, tin vào sự trợ giúp của các
vị Thần nơi cửa Phật Chính vì niềm tin ấy, ngày mùng một, ngày rằm hàng tháng rất đông người dân từ thành thị đến thôn quê đã đến chùa lễ Phật, cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, mong bình an hạnh phúc cho bản thân và gia đình Các ngày lễ lớn của Phật giáo, như rằm tháng tư, rằm tháng bảy… hiện không còn là ngày lễ của riêng Phật giáo mà đã trở thành ngày
lễ chung của rất nhiều người dân Việt Nam Không chỉ đến chùa lễ Phật, vào ngày rằm, mùng một hàng tháng, đại đa số các gia đình Việt Nam hiện nay đều sắm lễ để thắp hương tổ tiên gia tộc trong gia đình mình Vào ngày tết cổ truyền của dân tộc rất đông người dân từ thị thành đến thôn quê thường kéo nhau đến chùa lễ Phật và hái lộc đầu năm Dân gian tin rằng, hái lộc và lễ chùa đầu xuân sẽ đem lại nhiều may mắn và tốt lành cho bản thân họ và gia đình trong một năm mới Bên cạnh đó, tục phóng sinh, ăn chay và bố thí vào các dịp lễ của Phật giáo cũng đang dần trở thành nếp sống của một bộ phận nhân dân Việt Nam Một số chùa ở các
Trang 9thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh… thường xuyên tổ chức nấu cơm chay vào ngày rằm và mùng một hàng tháng để phục vụ các phật tử và khá đông khách thập phương đến lễ chùa Cùng với phóng sinh, ăn chay, tinh thần từ bi, cứu khổ của nhà Phật hiện nay không chỉ chi phối hành động của các tín đồ Phật giáo, mà còn có sức lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội
Hạn chế của Phật giáo Việt Nam
Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam đã bị một số người lợi dụng và cố tình hiểu sai lạc đi, biến Phật giáo, chùa chiền thành một nơi xa lánh, tách biệt với xã hội, cúng kiến mê tín và bị kẻ xấu lợi dụng để xin xăm, bói quẻ, đốt vàng mã, là những sinh hoạt biến dạng vốn không phải của Đạo Phật
Tổ chức Phật Giáo không chặt chẽ: Phật Giáo không có giáo quyển, không thống nhất cách tu hành, có nhiều tông phái và sơn môn Vì vậy
mà giữa các tông phái, sơn môn giữa các nước cũng như trong cùng một nước không có sự thống nhất về cách tu hành
1.2 Ý nghĩa của khẩu hiệu: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội
của giáo hội Phật giáo Việt Nam
Đạo pháp
Có thể thấy, trong cụm từ này có hai phần: Đạo và Pháp
● Đạo :
Có nhiều cách hiểu khác nhau về “đạo"; thậm chí, một tôn giáo lại
sử dụng khái niệm này để chỉ một nội dung, một lĩnh vực khác nhau Trong kinh Tăng nhất chi bộ III, Đức Phật đã khẳng định:
“Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này
Paharada, Pháp và Luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”
“Pháp và Luật” ở đây tức là “Đạo” Như vậy, với Phật giáo, “Đạo” chỉ có một mục tiêu duy nhất tối hậu là: “Giải thoát”.
● Pháp :
Đặt trong mối quan hệ với “Đạo”, Pháp được hiểu là lời nói, hành động, phương pháp và cách thức phù hợp để đưa Đạo (chân lý) đến với đời, với Phật tử và chúng sinh Nếu phạm trù “Đạo” là bất biến, là không thay đổi, thì pháp là yếu tố có thể thay đổi, tức là tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên – xã hội, trình độ,nhận thức… của người tiếp nhận đạo mà sử dụng các phương pháp, cách thức
truyền đạo cho phù hợp và hiệu quả
Tóm lại, Đạo là chân lý duy nhất và không thay đổi Tuy nhiên, nếu chỉ có Đạo mà không có Pháp thì Đạo không thể đi vào cuộc
Trang 10sống, không thể vì chúng sinh và mục đích cao cả mà Đức Phật đã
đề ra là không thể thực hiện Vì vậy, Đạo cần có Pháp để được lưu chuyển, được hoằng hóa trong cuộc đời Nhưng nếu không có Đạo thì Pháp không có mục đích, cũng chẳng thể phát huy tác dụng, không thể thể hiện được sự mềm dẻo, dễ thích nghi của mình Bởi thế, giữa Đạo và Pháp có mối quan hệ biện chứng với nhau, quan
hệ chặt chẽ với nhau và cùng tôn đẩy nhau, tạo thành hai mặt của một chỉnh thể thống nhất và không thể tách rời
Dân tộc
Chọn Dân tộc (thậm chí làm vệ trung tâm) trong phương châm, Giáo hội Phật giáo Việt Nam muốn khẳng định: Phật giáo luôn luôn gắn bó, đồng hành với đất nước Việt Nam và con người Việt Nam Và lịch sử dân tộc
đã chứng minh điều này: Hiếm có một tôn giáo nào lại gắn bó mật thiết với người Việt, đất Việt như Phật giáo Trong mọi lúc thịnh suy của quốc gia ta luôn thấy sự cùng chung vai gánh vác của Phật giáo, và vì thế, so sánh lịch sử của dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam, ta thấy có một sự đồng điệu đến lạ kỳ: khi nước nhà độc lập thì Phật giáo cũng hưng thịnh, khi Tổ quốc lâm nguy thì Phật giáo cùng chịu chung số phận suy tàn Thậm chí, Dân tộc và Phật giáo đã hòa quyện với nhau thành một khối thống nhất, không thể tách rời Như vậy là dù đất nước ở trong thời bình hay thời chiến, Phật giáo vẫn sát cánh cùng người dân Việt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là sự kết hợp hài hòa giữa sự phát triển của Phật giáo với lợi ích dân tộc, chung tay góp sức cùng nhân dân
cả nước xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa Với ý thức trách nhiệm đó, các hoạt động Phật sự ngày càng đi vào nề nếp và hiệu quả hơn
Chủ nghĩa xã hội
Xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa là mục tiêu hướng tới, là lý tưởng của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mục tiêu của sự nghiệp xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rất rõ ràng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
Đặt mệnh đề này trong phương châm hoạt động của Giáo hội, Phật giáo Việt Nam một lần nữa muốn khẳng định, tinh thần ‘nhập thế”, “khế lí khế cơ” luôn luôn được theo đuổi và thực hiện một cách triệt để của mình Đó
là, không chỉ luôn đồng hành, gắn bó, mà Phật giáo luôn luôn kề vai sát