III MỞ ĐẦU 1 Tin cấp thiết của đề tài Tổ chức Hội Nông dân có vị trí, vai trò rất quan trọng, là nơi rèn luyện, giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông dân; nơi tuyên truyền vận động.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tin cấp thiết của đề tài
Tổ chức Hội Nông dân có vị trí, vai trò rất quan trọng, là nơi rèn luyện,
giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông dân; nơi tuyên truyềnvận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tạiđịa phương Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân pháttriển sản xuất, tuyên truyền các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng trong sảnxuất, tạo việc làm tăng thu nhập, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của hội viênnông dân; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của hội viên,nông dân với Đảng, chính quyền
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hoạt động Hội vàphong trào nông dân huyện Bát Xát những năm qua có những tiến bộ nhất định,
đã thu hút đông đảo nông dân vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Hội Nông dân từ huyện đến cơ
sở đã thực hiện chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng về cơ
sở, lấy cơ sở là trung tâm nòng cốt để thực hiện các phong trào của Hội, chú trọngcủng cố, kiện toàn Hội cả về số lượng và chất lượng, tăng cường các hoạt động hỗtrợ để nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh như đẩy mạnh hoạt động tư vấn,
hỗ trợ, giúp đỡ nông dân về vốn, giống, vật tư nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, tổchức dạy nghề, cung ứng vật tư nông nghiệp…
Các phong trào thi đua trong nông dân như phong trào nông dân SXKDgiỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, phong trào nông dânthi đua xây dựng nông thôn mới, phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốcphòng an ninh đã khích lệ động viên hàng ngàn hộ nông dân tích cực, chủ động,sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn,giống vào sản xuất kinh doanh; tích cực ủng hộ tiền, vật chất, hiến đất, đóng gópcông lao động xây dựng nông thôn mới
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vai trò của Hội Nông dân vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu trong việc vận động nông dân phát triển kinh tế, hoạtđộng Hội và phong trào nông dân ở Bát Xát nhiều nơi còn mang tính hình thức,
Trang 2chất lượng hội viên chưa cao, vị trí vai trò của tổ chức cơ sở Hội nhiều nơi chưađược khẳng định rõ ràng; chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng cònhạn chế, kém hiệu quả; nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn; chưa cónhiều hoạt động thiết thực để thu hút nhiều nông dân tham gia vào Hội; 3 phongtrào và các cuộc vận động của Hội chưa được rõ nét; các hoạt động dịch vụ, hỗ trợnông dân chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra…
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi chọn vấn đề: “Hội nông dân với công tác vận động nông dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội”,
làm Khóa luận tốt nghiệp trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu về Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động hộiviên tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội ở huyện Bát Xát, tỉnhLào Cai được phát huy nhằm góp phần tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sởtrong sạch vững mạnh; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác vận
động hội viên tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội trên địa bàn
huyện Bát Xát
* Nhiệm vụ của đề tài
- Trình bày một số vấn đề chung về nông dân, quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác vận động nông dân phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội.
- Phân tích, làm rõ đặc điểm nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở huyện BátXát, tỉnh Lào Cai
- Đánh giá thực trạng công tác vận động nông dân tham gia phát triển kinh
tế và xây dựng tổ chức hội địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Chỉ ra nguyên nhân của những kết quả và hạn chế trong công tác vậnđộng nông tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội của Hội ở huyệnBát Xát, tỉnh Lào Cai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu vai trò của Hội Nông dân huyện Bát Xát tỉnh Lào Caitrong vận động nông dân phát triển kinh tế và xây dựng hội từ năm 2018 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, khảo sát thực tế, tổng hợp, so sánh,tham dự để làm rõ nội dung trên
Trang 35 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tàigồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NÔNG DÂN VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỘI 1.1 Một số khái niệm và vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân
1.1.1 Một số khái niệm
* Hội Nông dân
Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nôngdân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,được thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôntrung thành với Đảng và dân tộc Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản ViệtNam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân vàcông cuộc xây dựng nông thôn mới
*Nông thôn
Theo Thông tư số 54/TT – NNPTNT ngày 21 - 08 - 2009 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, quy định: “Nông thôn là phần lãnh thổ khôngthuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hànhchính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
Nghị quyết 26- NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sảnxuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thịtheo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân tríđược nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôndưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”
1.1.2 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Hội Nông dân
Trang 4Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam được quyđịnh trong Hiến pháp và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam.
Khoản 2, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Hội Nông dân Việt Nam là
tổ chức chính – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùngcác tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trongMặt trận Tổ quốc Việt Nam Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khẳng định: HộiNông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam có vai trò tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựnggiai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trongkhối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam xác định chức năng của Hội là: Tập hợp,vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tậpnâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xâydựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tưvấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam xác định nhiệm vụ của Hội là:
Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân hiểu và tích cực thựchiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghịquyết, chỉ thị của Hội Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cáchmạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân
Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới
Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân Trực tiếpthực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nôngthôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông
Trang 5thôn Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học côngnghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường.
Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nângcao chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo,bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham giagiám sát và phản biện xã hội theo quy chế; tham gia xây dựng cơ chế, chính sáchphát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Kịp thời phản ánh tâm tư nguyệnvọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chínhđáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giữgìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàndân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, thamnhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội
Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăngcường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quảng báhàng hóa nông sản, văn hóa Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các
tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới
1.2 Quan điểm cuả Đảng về vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động nông dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng Hội
Giai cấp nông dân luôn được Ðảng ta quan tâm, chăm lo xây dựng, đã vàđang từng bước thể hiện rõ vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xâydựng nông thôn mới Ðời sống của nông dân được cải thiện, điều kiện ăn ở, đi lại,học hành, chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn, số hộ khá, giàu ngày càng tăng.Nông dân hiện chiếm gần 70% dân số và khoảng 43% lực lượng lao động xã hội,luôn tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng và chính sách, pháp luật củaNhà nước; phát huy truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng; nêu cao ý chí
tự lực, tự cường, lao động cần cù, sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu, không camchịu đói nghèo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã đượctriển khai sâu, rộng trong cả nước, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và sựhưởng ứng tích cực của nông dân, đạt kết quả quan trọng Vị thế, vai trò của Hội
Trang 6Nông dân và giai cấp nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, nôngthôn, trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững ngày càng thể hiện
rõ, đóng góp quan trọng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việc thựchiện Phong trào "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" và cuộc vận động
"Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" đạt kết quả tíchcực Các phong trào thi đua do Hội phát động tiếp tục phát triển cả bề rộng vàchiều sâu, được nâng cao về chất lượng, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội
Tuy nhiên, hoạt động của Hội Nông dân các cấp đang đối mặt với không ítkhó khăn, hạn chế Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho nông dân có nơi, cólúc còn mang tính hình thức, việc triển khai các nghị quyết của Hội xuống cơ sởcòn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của hội viên, nông dân Việc nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng, khó khăn, bức xúc của nông dân chưa kịp thời Công tác tuyêntruyền phổ biến chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đốivới hội viên nông dân, nhất là ở một số nơi đạt hiệu quả thấp Chất lượng hoạtđộng của tổ chức Hội ở cơ sở chưa cao; việc duy trì sinh hoạt chi hội, tổ hội chưađược thường xuyên, chậm đổi mới, kém hiệu quả, nội dung sinh hoạt đơn điệu,thiếu hấp dẫn, chưa đáp ứng nhu cầu của hội viên, nông dân Công tác vận động,tập hợp, phát triển hội viên trong nông dân các dân tộc thiểu số, nông dân có đạochưa được quan tâm đúng mức…
Xây dựng Hội Nông dân trong sạch, vững mạnh với tổ chức, bộ máy tinhgọn, hoạt động hiệu quả, vì hội viên, vì nông dân, tích cực xây dựng nông thônmới là nhiệm vụ trọng tâm của Hội trong nhiệm kỳ mới Hội Nông dân Việt Namcần triển khai hiệu quả tốt công tác tập hợp, đoàn kết, phát huy dân chủ, sức sángtạo, khả năng liên kết, hợp tác của hội viên, nông dân Tham mưu cho Ðảng vàphối hợp các cơ quan chức năng xây dựng chủ trương, cơ chế, chính sách bảođảm lợi ích cho người nông dân; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp phápcủa hội viên, nông dân Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu quả Phong trào "Nôngdân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèobền vững" gắn với hỗ trợ nông dân khởi nghiệp, xây dựng các mô hình kinh tế,
mô hình liên kết, hợp tác theo chuỗi giá trị và đào tạo nghề, qua đó giúp nông dânphát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống Mở rộng
Trang 7và tăng cường hợp tác, khai thác các nguồn lực, để hỗ trợ hội viên, nông dântrong sản xuất kinh doanh và cải thiện điều kiện sống.
Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội Trong đó cần khơi dậy tinh thần yêu nước, tựchủ, tự lực, tự cường vươn lên của người nông dân Các cấp ủy đảng, chính quyềncần quan tâm sâu sắc, chỉ đạo quyết liệt các giải pháp thúc đẩy nông nghiệp, nôngthôn phát triển, đổi mới diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nông dân Từ đó, vai trò, vị thế của Hội Nông dân Việt Nam ngày càngđược củng cố vững chắc, làm điểm tựa cho hội viên phát triển kinh tế, xóa đói,giảm nghèo bền vững
Một, Tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhiệm vụ của Hội
Công tác tuyên truyền ở cơ sở làm nhiệm vụ phổ biến, giải thích cho cán
bộ, hội viên, nông dân hiểu rõ và nhận thức đầy đủ về chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các chủ trương, chính sách,pháp luật liên quan trực tiếp đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn; về các chủtrương công tác của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và nhiệm vụ của Hội
để hội viên, nông dân hiểu đúng và tự giác thực hiện có hiệu quả Đồng thời, côngtác tuyên truyền cần phổ biến, giải thích để nông dân hiểu rõ về tổ chức Hội, để
họ tự nguyện xin vào Hội, tự giác tham gia sinh hoạt và thực hiện các chươngtrình công tác của Hội
Hai, tuyên truyền, cổ vũ hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Công tác tuyên truyền ở cơ sở Hội cần tổ chức phổ biến các chương trình,
kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, của Hội các cấp; phátđộng phong trào nông dân thi đua thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,xây dựng nông thôn mới; vận động hội viên, nông dân định canh, định cư, thi đuasản xuất, kinh doanh giỏi, xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng; bảo vệmôi trường sinh thái như trồng rừng, không chặt phá rừng, giữ vệ sinh chung…,vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia xây dựng trường học, trạm xá,điện, đường giao thông Cán bộ cơ sở Hội cần phải phổ biến, giải thích cho hội
Trang 8viên, nông dân hiểu rõ ý nghĩa những việc họ phải làm và tạo điều kiện cho họtham gia bàn bạc, kiểm tra, giám sát Công việc này phải được tiến hành thườngxuyên, liên tục trong suốt quá trình thực hiện các nhiệm vụ của Hội Đặc biệt, cán
bộ Hội cần gương mẫu, tự giác thực hiện và cổ vũ, động viên mọi người cùngthực hiện
Ba, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật, công nghệ và kiến thức quản lý kinh tế cho hội viên, nông dân
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tếthế giới, việc nâng cao dân trí, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại,trình độ quản lý tiên tiến đã trở thành một nhu cầu tất yếu, cấp bách Do vậy, tùytheo điều kiện của mỗi vùng, miền, mỗi địa phương cần tuyên truyền, hướng dẫnhội viên, nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tiếp thu tri thức mới vềcông nghệ sinh học, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, về công nghệ chế biến, bảoquản nông sản; kế hoạch sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sao cho phù hợp, có hiệuquả Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, trước hết cơ sở Hội cần quan tâm tổ chứchọc tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ dân trí cho cán bộ, hội viên, nông dân ở cơ
sở mình Cơ sở Hội tập trung tham gia tích cực vào việc xoá mù chữ và chống tái
mù chữ cho hội viên, nông dân Tích cực vận động hội viên, nông dân cho con
em đến trường, không được để trẻ em thất học, mù chữ
Bốn, tuyên truyền, giáo dục hội viên, nông dân phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc, của Đảng, của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam
Giáo dục, khơi dậy và phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc, củaĐảng, của giai cấp nông dân và Hội Nông dân là một nội dung rất quan trọngtrong công tác tuyên truyền của Hội Nông dân Việt Nam Giai cấp nông dân ViệtNam nói chung, nông dân ở mỗi vùng, miền, mỗi dân tộc nói riêng đều có truyềnthống cách mạng vô cùng quý báu Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cáchmạng kiên cường, lòng tự tôn, ý chí tự cường dân tộc; là đức tính cần cù laođộng, tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau Do vậy, cán bộ Hội cầntuyên truyền cho hội viên, nông dân hiểu rõ, đầy đủ về những truyền thống tốtđẹp đó để họ gìn giữ, phát huy Đồng thời, cần khơi dậy ở cán bộ, hội viên, nông
Trang 9dân lòng biết ơn, quý trọng những người có công với dân, với nước, ý thức hướng
về cội nguồn, về cách mạng Đặc biệt là tưởng nhớ công ơn đối với các anh hùng,liệt sỹ, các thương, bệnh binh, các gia đình có công với cách mạng trong cuộc đấutranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc ngày nay Công tác tuyên truyền của Hội cần giáo dục, bồi dưỡng lòng yêunước, tinh thần cách mạng, tinh thần đoàn kết, nhân ái và đạo đức, lối sống lànhmạnh cho hội viên, nông dân; đấu tranh chống những biểu hiện của đạo đức, lốisống xấu xa, lạc hậu, các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, mê tín dị đoan gópphần tích cực vào việc xây dựng người nông dân văn hóa phát triển toàn diện, hàihoà, có trí tuệ, tâm hồn cao thượng, trong sáng, có thể lực và bản lĩnh vững vàng;góp phần tích cực vào xây dựng thôn, ấp, bản, làng văn hóa
Năm, tuyên truyền cho hội viên, nông dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch
Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách phá hoại công cuộc đổimới do Đảng ta khởi xướng, nhất là ra sức lôi kéo, kích động đồng bào dân tộcthiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số có đạo theo chúng để chống phácách mạng Một mặt, chúng xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước Mặt khác, chúng tiến hành bôi nhọ, nói xấu chế độ,các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,làm cho hội viên, nông dân giảm lòng tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa
Vì vậy, cán bộ cơ sở Hội phải nắm chắc tình hình hoạt động của kẻ xấu, kịp thờituyên truyền, giải thích cho hội viên, nông dân hiểu rõ để họ không nghe, khôngtin, không theo và đấu tranh chống lại chúng
Chương 2 THỰC TRẠNG HỘI NÔNG DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI TRONG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỘI 2.1 Khái quát Tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn và công tác Hội
Trang 10* Nông nghiệp: Bát Xát là huyện vùng cao biên giới có tiềm năng về lao
động, đất đai, khí hậu để phát triển nông, lâm nghiệp, có vị trí địa lý thuận lợi, cửakhẩu biên giới để phát triển thương mại, dịch vụ Trong những năm qua huyện BátXát xác định nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, là nhiệm vụ của cả hệ thốngchính trị Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khoá XXI, XXII ban hành chương
trình phát triển nông, lâm nghiệp tập trung triển khai Đề án“ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trọng tâm là đưa cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất gắn với phát triển chăn nuôi đại gia súc giai đoạn 2016- 2020”;
Thực hiện quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch hàng năm đảm bảo ổn định, tậptrung chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa như: Vùngsản xuất lúa chất lượng cao, vùng trồng chuối, chè nguyên liệu, rau an toàn, dược liệu,
cá nước lạnh, vùng cây ăn quả ôn đới Ứng dụng công nghệ cao, một phần công nghệcao vào sản xuất nông nghiệp tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị canh tác trungbìnhđạt từ 100-300 triệu đồng/ha; Cây vụ đông đã trở thành vụ chính, giá trị sảnxuất đạt trên 70 triệu đồng/ ha, đưa tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 43.977tấn Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng, năng suấtchất lượng cây trồng, vật nuôi được nâng lên; Chăn nuôi gia súc phát triển ổnđịnh tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 1,1%/năm Thực hiện phát triển đàn ngựatheo hướng hàng hóa, phát triển nuôi cá nước lạnh và thủy sản Công tác quản lý vàbảo vệ rừng được thực hiện có hiệu quả, tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,8%
* Nông dân: Toàn huyện hiện có trên 15 nghìn hộ nông nghiệp, nông thôn,
với trên 60 nghìn nhân khẩu, chiếm trên 90% dân số sống ở khu vực nông thôn Sốngười trong độ tuổi lao động nông nghiệp trên 40 nghìn người, chiếm trên 90% sovới lao động toàn huyện Nông dân các dân tộc trong huyện với tinh thần lao độngcần cù, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, có tinh thần yêu nước, truyềnthống đoàn kết, tập trung ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, thực hiệnchuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã cơ bản thay đổi về nhận thức về sản xuất hàng hóatheo vùng,thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là chủ thể trong xây dựng nôngthôn mới, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng sự quản lý điều hành của nhànước Thu nhập bình quân đầu người 31 triệu đồng/người/năm, tăng 5,97 riệu đồng
Trang 11so với năm 2012 Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh năm 2017 còn 28,33%, giảm bìnhquân hàng năm từ 5- 6 %/năm; Điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sứckhỏe ngày càng được quan tâm hơn Trình độ dân trí được nâng lên; dân chủ được
mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy
*Nông thôn: Thực hiện Đề án số 02 của BCH Đảng bộ huyện khóa XXII
về xây dựng nông thôn mới;diện mạo nông thôn mới có nhiều đổi mới, đã trở thànhphong trào thi đua sôi nổi và rộng khắp thu hút đông đảo nông dân tham gia Đã
có 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 85,6% số thôn bản có điện, 84,6
% số hộ hộ có điện lưới quốc gia thắp sáng; 87% số hộ được sử dụng nước hợp
vệ sinh; 99,6% trẻ em trong độ tuổi được tới trường, 18,3 giường bệnh/vạn dân;42% lao động được đào tạo nghề; 100% số xã có các điểm điện thoại di động vàIntenet; 95% số hộ được xem truyền hình; 100% số hộ được nghe đài tiếng nóiViệt Nam; tỷ lệ hộ nghèo còn 28,33% giảm bình quân 8,39%/năm; 5/22 xã hoànthành 19 tiêu chí nông thôn mới, không còn xã đạt dưới 5 tiêu chí, phong trào xây dựngthôn nông thôn mới, thôn kiểu mẫu được triển khai có hiệu quả đã có 7 thôn hoàn thànhthôn kiểu mẫu và 16 thôn hoàn thành thôn NTM An ninh và trật tự an toàn nôngthôn được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được cải thiện
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông dân, nông thôn còngặp không ít khó khăn như: do biến đổi khí hậu gây hậu quả khó lường, dịch bệnhtiềm ẩn nguy cơ bùng phát cao Sản xuất nông nghiệp nhìn chung là phân tán vànhỏ lẻ, chưa hình thành được vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn,
mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, một phần công nghệ cao vào sản xuấtcòn ít, quy mô nhỏ Thị trường tiêu thụ sản phẩm cho nông dân không ổn địnhđầu ra sản phẩm nông sản còn gặp nhiều khó khăn
Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân từng bước được cải thiện xong tỷ lệ
hộ nghèo còn cao tập trung chủ yếu là nông dân; việc thu hồi, đề bù giải phóng mặtbằng đất nông, lâm nghiệp dẫn đến một bộ phận nông dân mất đất sản xuất, thunhập thấp, thiếu việc làm tình trạng nông dân đi làm thuê trái phép vẫn còn sảyra
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn thiếu đồng bộ; vốn đầu tư choxây dựng nông thôn mới chưa đáp ứng được yêu cầu Chính sách khuyến khích đầu
Trang 12tư vào nông nhiệp chưa đủ mạnh vì vậysố doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệpcòn ít Một số tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ, Chấp lượng nguồn nhân lựcchưa đáp ứng yêu cầu Tình hình an ninh trật tự còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp Tìnhtrạng ô nhiễm môi trường nông thôn, tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệthực vật, thuốc trừ cỏ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
* Công tác hội
Công tác phát triển hội viên và nâng cao chất lượng hội viên được chú trọng; Tổchức Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệuquả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Ban Chấp hành HộiNông dân các cấp có cơ cấu phù hợp đã thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyệnvọng chính đáng của hội viên, nông dân Trong nhiệm kỳ qua, kết nạp 2058 hộiviên mới vượt 4,3% nghị quyết đại hội; nâng tổng số hội viên lên 11.696 chiếm89,3% số hộ nông nghiệp, bằng 73,4 % tổng số hộ nông nghiệp nông thôn Toànhuyện có 23 cơ sở Hội với 225 chi Hội giảm 21 chi Hội so với đầu nhiệm kỳ.Chất lượng hoạt động của các sơ sở Hội và chi, tổ Hội được nâng lên; số cơ sởHội khá và vững mạnh đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra; hội viên tích cựctham gia sinh hoạt, thực hiện tốt các phong trào do Hội phát động, tin tưởng vàgắn bó với tổ chức Hội
Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động gắn với cao chất lượng tổ chức Hội
và hội viên Kịp thời kiện toàn Ban chấp hành, Ban Thường vụ và cán bộ chủchốt các cấp Trong nhiệm kỳ đã kiện toàn 186 ủy viên ban chấp hành, trong đó: (cấp huyện 17 đồng chí; cấp cơ sở 169 đ/c ); đến nay đội ngũ cán bộ chủ chốt củahội đủ về số lượng, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Hàngnăm được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ hội cơ sở Thường xuyêntham mưu cấp ủy trong công tác quy hoạch cán bộ, gắn quy hoạch với đào tạocán bộ, quan tâm đến cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số cótrình độ chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm Chỉ Đại Đại hội điểm tại xã BảnQua đến nay 100% cơ sở hội đã tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ Đại hội cấp cơ
sở đã bầu ra 337 đồng chí uỷ viên Ban chấp hành; 93 đồng chí BTV đảm bảo đủ sốlượng, cơ cấu, thành phần, đủ năng lực lãnh đạo công tác Hội và phong trào nông dân
và nghị quyết Đại hội đề ra
Trang 13Thực hiện Đề án số 24 của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và chỉđạo của Hội Nông dân tỉnh về xây dựng mô hình chi, tổ hội nghề nghiệp, HộiNông dân huyện đã chỉ đạo thành lập 04 tổ hội nghề nghiệp thôn Lùng Thàng xãBản Qua, thôn Làng Mới xã Sàng Ma Sáo, tổ nuôi ong thôn Ngải Trồ xã DềnSáng, Tổ trồng chè bát tiên thôn Coóc Ngó xã Mường Hum có 52 thành viên cócùng sở thích đây sẽ là điểm để rút kinh nghiệm nhân rộng trong nhiệm kỳ tới.
Việc xây dựng Quỹ hội, nhằm mục đích duy trì hoạt động của cơ sở Hội,chi Hội, tổ Hội Các cấp Hội đã chủ động đảm nhận một số công trình ở địaphương, tạo việc làm để hội viên tăng thu nhập khi nông nhàn và lập quỹ Hội.Đến nay tổng số tiền quỹ hội là 570,46 triệu đồng, trong đó Quỹ hỗ trợ huyện là
360 triệu đồng, quỹ Hội cơ sở 70,2 triệu đồng; quỹ chi hội 140,26 triệu đồng.Bình quân quỹ Hội cơ sở đạt 3,05 triệu đồng đạt 101,7% nghị quyết đại Hội Quỹchi Hội bình quân đạt 594.000 đồng Việc quản lý, sử dụng quỹ hội của các cấphội đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng mục đích, có hiệu quả từ đó làm cho hội viêncàng gắn bó với tổ chức Hội
2.2 Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động nông dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội
2.2.1 Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, hội viên, nông dân
* Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững
Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi được xác định phongtrào là phong trào thi đua nòng cốt của hội được hội viên nông dân tham gia tíchcực, phong trào tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu có sức lan tỏa trongnhiều lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn và đã đạt đượcnhững kết quả to lớn, tạo động lực khích lệ, động viên hội viên, nông dân hănghái thi đua lao động sản xuất, đổi mới cách nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu vàgiúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơcấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn để đầu tưphát triển sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuậtvào sản xuất, chế biến, bảo
Trang 14quản nông sản phẩm, tạo vùng sản xuất tập trung; tư vấn, giới thiệu những giốngcây trồng, vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao; tổ chức tập huấn chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật, tư vấn nghề; xây dựng các mô hình trình diễn; tín chấp cho nông dânvay vốn, mua vật tư nông nghiệp, máy nông cụ; hướng dẫn phát triển các hìnhthức kinh tế tập thể; đẩy mạnh triển khai Đề án số 01 về “ Đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa cây trồng có giá tri kinh tế cao vào sản xuất gắnvới phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng hàng hóa giai đoạn 2016 – 2020”
và Đề án số 07 về “ Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020’’của BCHĐảng bộ huyện huyện Bát Xát Các hoạt động trên đã được triển khai đồng loạt ởcác cấp Hội Vì vậy, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phongtrào Bình quân hàng năm có trên 3.000 lượt hộ đăng ký Kết quả năm 2017 có
1.784 hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp ( Cấp trung ương: 9 hộ; Cấp tỉnh: 103 hộ; Cấp huyện 265 hộ; cấp xã, thị trấn 1407 hộ)
bằng 11,3 % tổng số hộ nông nghiệp nông thôn.Từ phong trào đã xuất hiện ngàycàng nhiều nông dân đạt danh hiệu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; Năm 2017 số hộ
có mức thu nhập trên 200 triệu đồng/ năm có 364 hộ tăng 342 hộ so với năm
2013, trong đó số hộ có mức thu nhập trên 01 tỷ đồng/ năm Tiêu biểu như: Hộông Giàng Văn Dín thôn Kim Thành 2 xã Quang Kim với mô hình trồng trọt,chăn nuôi và sản xuất gạch không nung cho thu nhập 996 triệu đồng/năm; Hộ ôngPhàn Vần Chỉn thôn Nậm Giàng 2 xã Dền Sáng với mô hình trồng trọt kết hợpvới chăn nuôi đại gia súc cho thu nhập 498 triệu đồng/năm; Hộ ông Sùng A Trừ
xã Trung Lèng Hồ trồng trọt chăn nuôi, trồng rừng cho thu nhập 254 triệu đồng/năm và nhiều hộ nông dân biết làm kinh tế giỏi có tinh thần tương trợ giúp đỡnhau trong sản xuất Hội đã giúp đỡ 15 hộ nghèo vượt khó vươn lên thoát nghèobền vững đạt tiêu chí hộ sản xuất giỏi
Phong trào đã khuyến khích, động viên nông dân phát huy truyền thốngđoàn kết, tương thân, tương ái, giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bằngnhiều hình thức: giúp về vốn, giống, ngày công lao động, về cách làm ăn Các cấpHội đã vận động các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tạo việc làm tại chỗcho 6.526 lượt lao động, trong đó có trên 4000 lượt lao động có việc làm thườngxuyên, hơn 2000 lượt lao động có việc làm theo mùa vụ; giúp đỡ vốn, giống cây,
Trang 15con và kinh nghiệm sản xuất cho 3.737 lượt hộ nông dân; giúp hơn 200 hộ nôngdân thoát được nghèo, trên 700 hộ nghèo cải thiện điều kiện nhà ở Phong tràonông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói giảmnghèo và làm giàu chính đáng đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển, xây dựng Hội vững mạnh
* Tổ chức dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân
Các cấp Hội đã phối hợp với 2 Ngân hàng tạo điều kiện cho nông dân vâyvốn phát triển sản xuất, giảm nghèo, xây dựng mô hình trang trại với tổng sốnguồn vốn 175,770 tỷ đồng cho 3129 hộ vay.Tham mưu với BCĐ 61 huyện tổchức vận động bằng hình thức xã hội hóa Quỹ hỗ trợ nông dân được 360 triệuđồng Xây dựng 05 dự án từ nguồn quỹ tỉnh, quỹ huyện hỗ trợ 72 hộ vay vốn thựchiện dự án chăn nuôi trâu sinh sản và cá chép lai cho thu nhập mỗi hộ từ 25- 50triệu đồng/năm, trong 5 năm lũy kế cho vay đạt 2.560 triệu đồng, có 72 hộ nôngdân được hưởng lợi từ nguồn vốn Quỹ HTND
Để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp, nâng cao hiểu biết, ý thức tôntrọng và chấp hành pháp luật cho cán bộ, hội viên, nông dân; các cấp Hội đã phốihợp tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân thông qua các lớp bồidưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp
lý cho cán bộ, hội viên, nông dân Hội đã phối hợp với UBND tổ chức các lễ hộigiới thiệu, tiêu thụ nông sản, hàng hóa cho nông dân Hoạt động dịch vụ, hỗ trợnông dân về chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ của các cấp Hội
đã đạt kết quả tốt Các cấp phối hợp với các ngành, doanh nghiệp cung cấp vật tư,hàng hoá theo phương thức trả chậm trên 5.000 tấn phân bón Hội đã chủ độngphối hợp với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, công ty tổ chức 165 lớptập huấn, chuyển giao khoa học- kỹ thuật cho 8.709 lượt hội viên, nông dân, xâydựng được 22 mô hình kinh tế do Hội nông dân cơ sở hướng dẫn thực hiện tại chỗ
để nông dân học nông dân, nông dân hướng dẫn nông dân làm giàu có hiệu quảthiết thực
* Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể