1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án dạy thêm ngữ văn 12 (trọn bộ cả năm) chất lượng

430 107 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 430
Dung lượng 5,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo án dạy thêm ngữ văn 12 (trọn bộ cả năm) chất lượng Kế hoạch dạy thêm ngữ văn 12 (trọn bộ cả năm) chất lượng Kế hoạch bài dạy phụ đạo ngữ văn 12 (trọn bộ cả năm) chất lượng Giáo án phụ đạo ngữ văn 12 (trọn bộ cả năm) chất lượng

Trang 1

1 Kiến thức: Củng cố cách viết một đoạn văn nghị luận NLXH.

2 Kĩ năng: Nắm được các kĩ năng viết văn nghị luận XH.

- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn NLXH

- Nêu ý kiến nhận xét, đánh giá đối với một vấn đề NLXH

- Biết huy động những kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để viết bài NL XH

3 Định hướng năng lực:

- Năng lực tạo lập văn bản

- Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, công nghệ thông tin

4 Thái độ, phẩm chất:

Có thái độ ôn thi THPT QG nghiêm túc

B THIẾT KẾ BÀI HỌC

I SỰ CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1 Sự chuẩn bị của Giáo viên

- Soạn bài, chuẩn bị một số đề bài để trao đổi cùng HS

2 Sự chuẩn bị của học sinh

- Chuẩn bị bài vở kĩ lưỡng trước khi tới lớp

- Ý thức học tập nghiêm túc

1

Trang 2

1 Ổn định lớp

2 Bài mới:

Hoạt động 1: Nhắc lại lí thuyết

CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NLXH

Yêu cầu chung:

Với thiết kế đề thi như hiện nay, nếu suy nghĩ và trả lời sâu, chắc ở phần đọc hiểu, các

em sẽ rất thuận lợi khi triển khai vấn đề ở câu nghị luận xã hội Bởi vấn đề nghị luận không thể đi chệch khỏi nội dung tư tưởng quan trọng bao trùm nhất từ văn bản đọc hiểu Nội dung trả lời câu hỏi do đó sẽ liên quan gần như trực tiếp tới đoạn văn nghị luận xã hội Tuy nhiên,các em cần lưu ý phương pháp làm bài:

– Tránh kể lể, nhắc lại những chi tiết trong ngữ liệu đọc hiểu hoặc chép lại phần đọc hiểu “lắp ghép” vụng về vào đoạn nghị luận xã hội

– Với dung lượng khoảng 200 chữ, quỹ điểm là 2 và vấn đề nghị luận đã được khai thác sâu kỹ ở phần đọc hiểu, đoạn viết nghị luận xã hội nên dành thời gian nhiều nhất

là 20-25 phút, tránh lan man dài dòng ở câu hỏi này, làm ảnh hưởng tới quỹ thời gian cho câu nghị luận văn học có quỹ điểm nhiều nhất trong đề

– Khi viết đoạn văn 200 chữ, cần chú ý trình bày đúng quy tắc một đoạn văn là khôngngắt xuống dòng

– Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay

– Nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là diễn giải, quy nạp, tổng phân hợp… Tuy nhiên, nên ưu tiên sự lựa chọn hình thức tổng phân hợp để tạo

ấn tượng về một văn bản hoàn chỉnh, độc lập, đầy đặn

– Cần lưu ý nguyên tắc viết đoạn, tránh kể lể bàn luận lan man trùng lặp Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn Trong đó mở đoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kết đoạn viết về bài học cho bản thân…

– Trong phạm vi một đoạn văn ngắn, chỉ nên chọn một dẫn chứng mang tính tiêu biểu, điển hình và phù hợp làm nổi bật vấn đề nghị luận Tuyệt đối tránh kể chuyện lan man dông dài

Dàn ý gợi ý:

2

Trang 3

* Bàn về một vấn đề mang tính khái quát

Mở đoạn Nêu tư tưởng, đạo lí cần bàn Giới thiệu thẳng vấn đề cần bàn luận

bằng một câu tổng quát

Thân

đoạn

Giải thích (Là gì?) Giải thích ngắn gọn nội dung tư

tưởng, cách hiểu (1-2 câu)

Phân tích, chứng minh (Tại sao?

Kết đoạn Rút ra bài học nhận thức và hành

động

– Nhận thức ý nghĩa, tính đúng đắn, tác dụng của tư tưởng

– Hành động

(1-2 câu)

VD: Viết một đoạn văn “Tình người là sống tử tế với nhau”

Mở đoạn Nêu tư tưởng, đạo lí cần

bàn

Nhân loại đã sản sinh ra nhiều giá trị, chuẩn mực với mục đích làm cho xã hội trở nên văn minh hơn, trong đó có lối sống tử tế

Thân đoạn Giải thích (Là gì?) – Tử trong tử tế có nghĩa là nhỏ nhất; tế

trong tử tế có nghĩa là cẩn trọng.

3

Trang 4

nhỏ nhất cũng phải cẩn trọng, ý tứ.

Phân tích, chứng minh (Tại sao? Như thế nào?)

– Không tuân thủ những nguyên tắc đó ta sẽ trở nên dễ dãi, không chú ý đến hành vi,cử chỉ của mình; không hiểu thói quen, tập quán,sở thích của người khác sẽ dẫn đến thất bại trong giao tiếp

– Sống tử tế tình người sẽ trở nên ấm áp, con người sẽ trở nên tin cậy lẫn nhau

– Con người sẽ tránh xa được sự đố kị, dối trá, oán ghét, hoài nghi, chỉ còn lại là sự chânthành, tôn trọng, đối đãi lịch thiệp với

nhau…

Bàn luận, mở rộng vấn đề

– Tử tế không đồng nghĩa với hạ mình

– Phê phán những người cẩu thả, thô bạo trong cách hành xử,thiếu quan tâm đến ngườikhác từ những việc làm nhỏ nhất

– Thời gian và dung lượng còn lại tập trung vào vấn đề mà đề bài yêu cầu

2.2 Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống

* Bàn về vấn đề mang tính khái quát

4

Trang 5

bàn luận bằng một câu tổng quát

Thân

đoạn

Giải thích (Là gì?) Giải thích ngắn gọn hiện tượng

Biểu hiện, thực trạng Diễn ra ntn? ở đâu? Tính phổ biến?

Phân tích nguyên nhân/ tác hại hoặc

tác dụng (nếu là hiện tượng tốt)

– Nguyên nhân: chủ quan, khách quan; con người;thiên nhiên…

Biện pháp khắc phục/biện pháp nhân

VD: Bàn về hiện tượng “Like là làm”

Mở đoạn Nêu hiện tượng đời

Biểu hiện, thực Nêu các biểu hiện cụ thể

5

Trang 6

Phân tích nguyên nhân/ tác hại hoặc tác dụng (nếu là hiện tượng tốt)

– Sự lệch lạc trong suy nghĩ, muốn chơi ngông

và muốn nhanh chóng nổi tiếng

– Do đám đông vô cảm, hưởng ứng châm ngòi

Biện pháp khắc phục/biện pháp nhân rộng hiện tượng

Giải pháp khắc phục/thực hiện việc đó ntn?

Kết đoạn Rút ra bài học nhận

thức và hành động

– Nhận thức tác dung/tác hại– Hành động

* Bàn về khía cạnh vấn đề

Nhất thiết phải có:

– Giải thích hiện tượng

– Rút ra bài học

– Thời gian và dung lượng tập trung vào yêu cầu của đề Học sinh linh hoạt triển khai

2.3 Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong câu chuyện

– Xác định vấn đề xã hội được đặt ra từ phần đọc – hiểu/hoặc câu chuyện.

– Sau đó đưa vấn đề về đúng kiểu dạng và triển khai theo dàn ý gợi ý

* HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HOC

- Ôn tập các đơn vị kiến thức trọng tâm

*DẶN DÒ: Tiết sau học : Rèn kỹ năng viết đoạn văn nghị luận XH 200 chữ

* RÚT KINH NGHIỆM

6

Trang 7

Ôn tập các kiến thức về tác giả Hồ Chí Minh, về giá trị nội dung và nghệ thuật

của tác phẩm Tuyên ngôn độc lập.

2 Kĩ năng

7

Trang 8

- Kĩ năng nghị luận về văn bản chính luận hiện đại.

+ Năng lực tự học, tự khám phá tri thức, thu thập thông tin

+ Năng lực hợp tác (phối hợp với các thành viên để giải quyết các câu hỏi,bài tập khó, sưu tầm tài liệu…)

+ Năng lực sáng tạo

+ Năng lực tự quản bản thân

+ Năng lực giao tiếp

- Năng lực chuyên biệt:

+ Năng lực đọc – hiểu văn bản nghị luận hiện đại

+ Năng lực tạo lập văn bản nghị luận về tác phẩm nghị luận hiện đại

B THIẾT KẾ BÀI HỌC

I SỰ CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

- GV: + SGK, SGV Ngữ văn 12

+ Tài liệu hướng dẫn ôn tập

- HS : SGK, Vở ôn tập và các tài liệu tham khảo khác

II TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1 Ổn định tổ chức

2 Nội dung ôn tập

8

Trang 9

1 Tác phẩm tiêubiểu:

-Trước CMT8: Bản án chế độ thực dân Pháp(1925);

-SauCMT8:Tuyênngônđộclập(1945);Lờikêugọitoànquốckhángchiến(1946); Không có gì qúy hơn độc lập tự do(1966)

2 Đặc điểm phongcách:

-VănchínhluậncủaHCMthắmđượmtìnhcảm;giàuhìnhảnh;giọngđiệuđadạng: khi

ôn tồn, thấu tình đạt lí; khi đanh thép, mạnh mẽ, hunghồn

-Ngắngọn,súctích,lậpluậnchặtchẽ,lílẽđanhthép,bằngchứngthuyếtphục,giàu tính

luận chiến và đa dạng về bútpháp

Phần 2: ÔN TẬP TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP”

Nội dung 1: Tìm hiểu HCST, đối tượng, mục đích sáng tác, bố cục và mạch lập luận?

1.1 Hoàn cảnh sáng tác

Về sự kiện Bác đọc TNĐL, nhà thơ Tố Hữu viết:

Hôm nay, sáng mồng hai tháng chín,

Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình.

Muôn triệu tim chờ chim cũng nín,

Bỗng vang lên câu hát ân tình:

Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!

9

Trang 10

Trông đàn con đó vẫy haitay.

Cao cao vầng trán Ngời đôi mắt,

Độc lập bây giờ mới thấy đây!

Người đọc Tuyên ngôn Rồi chợthỏi:

Đồng bào nghe tôi nói rõ không?

Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi,

Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!

Cả muôn triệu một lời đáp: Có!

Như Trường Sơn say gió biển Đông

Vâng! Bác nói, chúng con nghe rõ,

Mỗi tiếng Người mang nặng non sông

Trời bỗng xanh hơn, nắng chói lòa,

Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta.

Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó,

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!

(Trích trường ca Theo chân Bác – Tố Hữu)

Trang 11

+ CMTT thành công, cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ Ngày 26 tháng 8 năm 1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc vềtới Hà Nội

+Ngày28tháng8năm1945:BácsoạnthảobảnTuyênngônđộclậptạitầng2,căn nhà số

48, phố Hàng Ngang, HàNội

+ Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường

Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước VNDCCH

1.2 Viết choai?

– Tuyên ngôn độc lập viết để hướng tới “đồng bào cả nước”, những ngườihơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược của TDP và phát xít Nhật, nay khiChiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hang Đồng minh, dưới sự

VM,đứngđầulàCTHCM,họđãnổidậygiànhchínhquyềntrêncảnướcvàotháng 8năm1945

– ĐốitượnghướngtớicủabảnTNcònlànhândântrêntoànthếgiới.Phầncuốicủatác phẩm, Bác đã viết:”Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước

VN DCCH, trịnh trọng tuyên bố với thế giớirằng:”

– HoàncảnhrađờicủabảnTNĐLcòngiúpchúngtanhậnthấymộtđốitượnghướn

g đến của tác phẩm là các thế lực thù địch và cơ hội quốc tế đang dã tâm tái nô dịchđấtnướcta,đặcbiệtlàTDPvàđếquốcMĩ.(TNĐLrađờigiữalúchaiđầuđấtnước đều có kẻthù ngoại bang đe dọa Phía Bắc là 20 vạn quân Tưởng đang ngấp nghé ở cửa biêngiới, chuẩn bị kéo vào miền Bắc nước ta, thay Đồng minh giải giáp quân đội Nhật.Phía sau đội quân “chấy rận” này là sự “ngấp nghé” “nhòm ngó”, muốn can thiệpvào Đông Dương của đế quốc Mĩ Ở phía Nam, thực dân Anh được giao nhiệm vụcủa phe Đồng minh Nhưng “mâu thuẫn Anh – Mĩ – Pháp là Liên Xô có thể làm choAnh – Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương Nhà cầmquyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp, bịquân

11

Trang 12

“bảo hộ” củaPháp.

1.3 Viết để làmgì?

– Tuyên ngôn độc lập chính là nhan đề văn bản đã cho thấy mục đích hướng đến của tác phẩm là tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thếgiới

– Tươngứngvớiđốitượngtrên,TNĐLcònnhằmmụcđíchbẻgãynhữngluậnđiệ

u xảo trá của kẻ thù đang dã tâm nô dịch trở lại đất nướcta

– Bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập dântộc

1.4 Bố cục và mạch lậpluận:

a/ Bố cục:

– Phần 1: Từ đầu đến “…không ai chối cãiđược”

-> Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập

Trang 13

gãy nhữngluậnđiệuxảotrácủakẻthù.VìvậybảnTNĐLtrướchếtphảixácđịnhcơsở pháp

lí, điểm tựa vững chãi, thuyết phục cho mạch lập luận ngay từ phần mở đầu Đây sẽ

là căn cứ thống nhất để vạch tội kẻ thù, chỉ ra tính chất phi nghĩacủa chúng, đồngthời cũng là cơ sở để khẳng định tính chính nghĩa thuận theo “lẽ phải” của ta (phầnnội dung) Từ đó mới đanh thép, hùng hồn khẳng định xóa bỏ chế độ quân chủ,

“tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước màPháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đấtnướcViệtNam”->Mạchlậpluậnthuyếtphụcngườiđọcởtínhlogicchặtchẽ:từ

cơ sở lí luận đối chiếu vào thực tiễn, rút ra kết luận phù hợp, đích đáng khôngthể không công nhận

Cách lập luận như trên chúng ta đã từng bắt gặp trong bản “TNĐL lần hai” củadân tộc – Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) Trước khi lời “đại cáo” (báo cáo rộngkhắp) cất lên cho ai nấy đều hay, điểm tựa lí luận quán xuyến được tác giả đặt ra là:Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Từ “nguyênlí” chungđó,giặcminhtrởthànhkẻDốitrờilừadânđủmuônnghìnkế–Gâybinhkết oán trảihai mươi năm, còn quân ta trong tư thế Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chínhân để thay cườngbạo

Nội dung 2: Ôn tập đọc – hiểu văn bản

Đề 01: Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền

tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình

13

Trang 14

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)

Câu 1 Nêu nội dung chính của đoạn văn?

Câu 2 Trong đoạn văn tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào?

Câu 3 Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (1776) của Mĩ và Tuyên ngôn

Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1791) có ý nghĩa gì?

Câu 4 Hãy chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật viết văn chính luận của Hồ Chí

Minh được thể hiện trong đoạn văn

Câu 3 Ý nghĩa của việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn:

– Làm cơ sở tuyên bố độc lập dân tộc

– Dùng lí lẽ của chính đối thủ để bác bỏ luận điệu và hành động của chúng

– Thể hiện niềm tự hào dân tộc khi đặt Cách mạng tháng Tám ngang hàng với các cuộc Cách mạng của Pháp và Mĩ

Câu 4 Chỉ ra những đặc sắc của nghệ thuật viết văn chính luận được thể hiện trong

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp ( Trích Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, tập 1)

Trả lời câu hỏi

14

Trang 15

2 Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý gì?

3 Từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, anh, chị hãy viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 200 từ) bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay?

Gợi ý

1 Biện pháp điệp từ : “sự thật” có tác dụng khẳng định, nhấn mạnh quyền độc lập tự

do của dân tộc Việt Nam

Phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên là phong cách chính luận

2 Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý : Bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp trước dư luận thế giới Thuyết phục Đồng minh nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ nền độc lập của Việt Nam

3 Học sinh viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay? ( khoảng 200 từ)

Câu này kiểm tra năng lực viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh Học sinh có thểtriển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túcphù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội Các ý của bài như sau

– Trân trọng, biết ơn thế hệ cha anh đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước

– Ra sức học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp

Nội dung 3: Ôn tập Nghị luận văn học

GV yêu cầu HS lập dàn ý cho 3 đề bài sau:

Đề 1:

Nhận xét về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho

rằng: “Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá” Ý kiến khác lại nhấn mạnh: “Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực”.

Từ việc cảm nhận về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập, anh/ chị hãy bình luận

những ý kiến trên

Đề 02:

15

Trang 16

ngôn Độc lập” năm 1776 của Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791, trong đó có câu: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng

về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”;Sau đó Người lại viết: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng,

bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn

nhân đạo và chính nghĩa”.

Từ việc cảm nhận những câu văn trên, anh/chị hãy nhận xét về nghệ thuật lập

luận của Bác trong bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

Đề 03:

Nhận xét đoạn mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, có ý kiến

cho rằng: “Đoạn mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc” Bằng cảm nhận

của mình về đoạn trích mở đầu bài Tuyên ngôn, anh/chị hãy làm sáng tỏ điều đó

Từ đó, anh/chị hãy liên hệ đến bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh để thấy được nét thống nhất và đa dạng trong phong cách nghệ thuật của Người

Đề 04: ĐỀ NÂNG CAO (Dành cho HS Khối C, D):

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đánh giá Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ

Chí Minh như sau: “Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa

ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh

vì độc lập, tự do, vì nhân quyền của dân tộc và của nhân loại” (Giảng văn Văn học

Việt Nam, Tái bản lần thừ nhất – Nhà xuất bản giáo dục, 1997, trang 490) Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập để làm sáng tỏ ý trên

Trang 17

mạng tháng Tám, năm 1945 thành công.

– Về giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập có hai ý kiến:

+ “là văn kiện lịch sử vô giá”

+ “là áng văn chính luận mẫu mực”

II Thân bài

– Văn chính luận: là những tác phẩm văn chương sử dụng lập luận, dẫn chứng,

lí lẽ để khẳng định một tư tưởng nào đó khiến độc giả tin vào điều được khẳng định

là đúng sự thật

– Những áng văn chính luận mẫu mực: là những áng văn đạt chuẩn mực cao về

nội dung và nghệ thuật có sức thuyết phục, quy tụ lòng người

=> Hai ý kiến đều đánh giá cao tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Bác xét trên

hai góc độ chính trị lịch sử và văn chương nghệ thuật

B2: Chứng minh

*Ý kiến 1:Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá:

– Là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta

– Là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thếgiới

– Là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta

*Ý kiến 2:Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực:

17

Trang 18

luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc,

…Thể hiện:

- Lập luận chặt chẽ:

Tác phẩm có bố cục ngắn gọn, súc tích gồm 3 phần liên kết chặt chẽ với nhau trong hệ thống lập luận:

+ Phần mở đầu: Nêu cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản “Tuyên ngôn”

+ Phần thứ hai: Cơ sở thực tế của bản “Tuyên ngôn Độc lập”

+ Phần kết luận: Lời tuyên bố của bản “Tuyên ngôn”

- Lí lẽ sắc bén:

+ Sức mạnh của lí lẽ chính là sự thật Tác giả đã dùng hàng loạt thực tế lịch sử

để chứng minh: Thực dân Pháp đã không “bảo hộ” được Việt Nam Thực dân Pháp

đã phản bội Việt Nam, thực dân Pháp đã gieo rắc nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam

+ Dùng thực tế để khẳng định công lao của Việt Minh – đại diện duy nhất của nhân dân Việt Nam

+ Sự độc lập của Việt Nam phù hợp với lẽ phải, công lí và đạo lí

+ Dùng hàng loạt động từ, tính từ, quán từ … chính xác, giàu sắc thái biểu cảm

+ Cần chú ý thêm cách sử dụng hàng loạt điệp từ, điệp ngữ (có tính khẳng định

và nhấn mạnh)

18

Trang 19

Cả hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau tưởng như đối lập nhưng là

bổ sung cho nhau cùng khẳng định giá trị to lớn của bản tuyên ngôn Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử chính trị và văn chương nghệ thuật

=> “Tuyên ngôn Độc lập” là một văn kiện lịch sử vô giá, là áng văn chính luận

mẫu mực; là văn bản pháp lý, văn hoá của muôn đời; là hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh cũng như của toàn dân tộc Việt Nam – Bản Tuyên ngôn xứng đáng là áng văn lưu truyền muôn thuở

– Giới thiệu tác giả HCM và tác phẩm “TNĐL”

– Nêu vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về hai câu văn và nghệ thuật lập luận trong bản “Tuyên ngôn Độc lập”

– Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

– “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách : nền độc

lập vừa mời giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân

19

Trang 20

Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp Lúc này thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất

“bảo hộ” của người Pháp bị nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp

* Giá trị lịch sử và văn học, mục đích, đối tượng của bản “Tuyên ngôn Độc lập”

– Giá trị lịch sử: Là văn kiện lịch sử vô giá, là lời tuyên bố của một dân tộc đã

đứng lên xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hòa nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách là một nước độc lập, dân chủ, tựdo

– Giá trị văn học:

+ Giá trị tư tưởng: “Tuyên ngôn Độc lập” là tác phẩm kết tinh lí

tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do Tác phẩm

có tính nhân văn sâu sắc

+ Giá trị nghệ thuật: Là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt

chẽ, lí lẽ đanh thép, những bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn

– Đối tượng: Nhân dân Việt Nam; Các nước trên thế giới; Bọn đế quốc, thực

dân đang lăm le xâm lược nước ta : Mỹ, Pháp

– Mục đích: Tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam và sự ra đời của nước

Việt Nam mới; Ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, thực dân

Giới thiệu vị trí, tái hiện hai câu văn:

– Câu: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự

do và bình đẳng về quyền lợi”(Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách

mạng Pháp năm 1791) thuộc phần mở đầu – cơ sở pháp lý của bản Tuyên ngôn Độc lập

– Câu “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn nhân đạo và chính nghĩa”.thuộc phần 2 – cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn

Độc lập

Phân tích:

20

Trang 21

Pháp “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

– Trước hết, để đưa ra cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc

Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã viện dẫn Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ – một cường quốc thế giới lúc này, Người cũng không quên đưa ra những khẳng định hùng hồn của người Pháp – đất nước trực tiếp đi đô hộ dân tộc Việt Nam – về quyền

con người: quyền tự do và bình đẳng về quyền lợi Đồng thời Người khẳng định đó là

những chân lí lớn của thời đại đã được thế giới công nhận, không ai có thể chối cãi được

– Ý nghĩa của việc trích dẫn:

+ Tuyên ngôn muốn được mọi người thừa nhận phải xuất phát từ lí lẽ, nền tảng vững chắc, có giá trị như một chân lí không ai chối cãi được Hồ Chí Minh đã mượn lời trong tuyên ngôn của hai nước Mĩ và Pháp, tức là xuất phát từ những nguyên tắc của hai cường quốc lớn trên thế giới

+ Việc trích dẫn này nhằm mục đích “gậy ông đập lưng ông” Cách viết của Hồ Chí Minh vừa khéo léo, vừa kiên quyết Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng lời của người Mĩ

và Pháp, tức là tôn trọng những đanh ngôn bất hủ Kiên quyết ở chỗ nhắc nhở bọn đế quốc đừng đi ngược lại những gì cha ông đã dạy, đừng đạp đổ lá cờ tự do, bình đẳng,bác ái mà tổ tiên chúng đã giương lên

* Câu “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn nhân đạo và chính nghĩa”.

– Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp trong suốt hơn 80 năm qua khi chúng “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” Hành động thực tế của chúng đã đi ngược lại với những chân lí tốt đẹp mà cha ông chúng tạo nên

– Ý nghĩa: là cơ sở để Hồ Chí Minh lần lượt đập tan luận điệu xảo trá “khai hóa”, “bảo hộ” của thực dân Pháp, tố cáo những hành vi trái hẳn nhân đạo và chính nghĩa của chúng đối với nhân dân ta ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội

Nhận xét nghệ thuật lập luận:

21

Trang 22

của Bác là quan hệ ngữ nghĩa đối lập: đối lập nội dung, đối lập chữ nghĩa, đối lập về thái độ Tất cả đã được diễn đạt trang trọng, chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn và xúc động.

+ Thứ nhất, đi từ một chân lý đã biết, đã được công nhận, suy ra một chân lý tương tự, có chung logic bên trong, làm cơ sở cho Tuyên ngôn của Bác

+ Thứ hai, đối chiếu mặt trái ngược để làm nổi bật điều mình muốn hướng tới làphương pháp lập luận so sánh tương phản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi đối chiếu nội dung đoạn trích “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp năm 1791, cho kết luận hết sức thuyết phục: “Thế mà hơn80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạovà chính nghĩa”

– Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén

– Cơ sở lập luận của kết luận trên được xây dựng bằng lí lẽ: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Rõ ràng, xét một cách hiển ngôn, tác giả “Tuyên ngôn Độc lập” đã đánh giá lời trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mĩ là “bất hủ” và lời trích dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp “là những lẽ phải không ai chối cãi được” thể hiện rõhành động chính trị, nhằm trả lời một đối một đối với những lí lẽ của những người chống đối hoặc phòng xa nguy cơ chống đối

=> Có thể nhận thấy, một mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tư tưởng chính trị chứa đựng trong những lời trích dẫn ấy được ghi bằng chữ vàng trong lịch sử không chỉ của nước Mĩ, nước Pháp mà cả toàn nhân loại; mặt khác Người lên án việc xâm phạm, áp bức các dân tộc, chà đạp nhân quyền là phi pháp lí và đạo lí, là phi văn hóa

Ở đây, chúng ta bắt gặp một cách nói, cách viết vừa khéo léo, vừa kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kết bài:

– Khẳng định giá trị của hai câu văn cũng như của toàn bộ tác phẩm

– Nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

Đề 03: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập”.

22

Trang 23

Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.

– Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tưtưởng cho toàn bài Nguyên lí của Tuyên ngôn độc lập là khẳng định quyền tự do độclập của dân tộc Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại dựa vào hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền

tự do” của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây chính là nghệ thuật “Lấy gậy ông đập lưng ông”

– Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽcủa tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy Cách viết như thế

là vừa khéo léo vừa kiên quyết:

+ Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người

Mĩ để “khoá miệng” bọn đế quốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thật lịch sử đã chứng tỏ điều này)

+ Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm dấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam

– Đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1791).– Ý kiến “Suy rộng ra” là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau TK XX

– Đoạn trích đã đưa ra căn cứ, lí lẽ xác đáng cho lập luận Quá trình dẫn dắt tới căn cứ, lập luận chính xác, chặt chẽ Qua đó có thể thấy tài năng lập luận bậc thầy,

sự sâu sắc trong tư tưởng, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ đanh thép hùng hồn tạo nên sức mạnh luận chiến bất ngờ và sức hấp dẫn kì lạ của văn chính luận Hồ Chí Minh

23

Trang 24

– Sự thống nhất, đa dạng trong phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh:

+ Thống nhất: Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại,phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng.Nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội Văn chương Hồ Chí Minh đều thống nhất ở lối viết ngắn gọn, hàm súc, đầy thuyết phục

+ Đa dạng: Thơ Bác tinh tế và nhạy cảm,có sự kết hợp rất tự nhiên giữa màu sắc

cổ điển và tinh thần thời đại Qua mỗi vần thơ người đọc luôn thấy bức chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh Văn chính luận của Người sắc sảo, lý lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục và kết hợp nhiều giọng điệu khác nhau

Đề 04: ĐỀ NÂNG CAO (Dành cho HS Khối C, D):

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đánh giá Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ

Chí Minh như sau: “Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa

ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh

vì độc lập, tự do, vì nhân quyền của dân tộc và của nhân loại” (Giảng văn Văn học

Việt Nam, Tái bản lần thừ nhất – Nhà xuất bản giáo dục, 1997, trang 490) Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập để làm sáng tỏ ý trên

* Yêu cầu

24

Trang 25

của Hồ Chí Minh được thể hiện trong tác phẩm Tuyên Ngôn Độc Lập Các khía cạnh

đó đã được nói rõ và cụ thể trong câu trích của đề bài Vấn đề còn lại là qua văn bản của tác phẩm, tiến hành phân tích để làm sáng tỏ các khía cạnh nghệ thuật đó, làm nổi bật vẻ đẹp của tác phẩm

Bài làm cần phân tích lần lượt từng khía cạnh nghệ thuật của Tuyên ngôn Độc lập với những dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; sau đó cần tiểu kết lại, nêu giá trị nghệ thuật chung đặc sắc của tác phẩm: đó là một bài văn chính luận hùng hồn, đanh thép, đầy sức thuyết phục được xem như là mẫu mực của loại văn nghị luận Nghệ thuật ấy

đã chấp cánh cho nội dung tiến bộ, sâu sắc, tạo nên áng văn mở nước bất hủ của thời đại mới

* Bài làm tham khảo:

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một cây bút nghệ thuật đa phong cách Từ

“Truyện và ký Nguyễn Ái Quốc”, người đọc thích thú tiếp cận với những áng văn xuôi Châu Âu hiện đại vừa sắc sảo, sáng tạo, vừa dí dỏm thông minh với chất trào phúng đầy trí tuệ của một cây bút truyện ngắn hiện đại bậc thầy “Nhật kí trong tù” lại đi vào lòng người với những vần thơ hàm súc, thâm thuý, kết hợp nhuần nhuỵ chất cổ điển và hiện đại, bút pháp hiện thực nghiêm ngặt và lãng mạn bay bổng – những tác phẩm nếu đặt cạnh thi phẩm đời Đường, đời Tống ta cũng khó có thể phânbiệt được Nếu như đến với thơ ca kháng chiến, ngòi bút thi ca Hồ Chí Minh tươi tắn trong cảm xúc hồn nhiên, thì đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, ta lại bắt gặp áng văn chính luận mẫu mực của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới Bản tuyên ngôn có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn người nghe, người đọc bởi chính tài nghệ của Bác mà “Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được Và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại”, đúng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đánh giá Tác phẩm không chỉ kết tinh tâm hồn Bác – điểm hội tụ những nét đẹp tinh tuý của dân tộc, những tình cảm thiết tha và sâu lắng của thời đại; mà hơn hết, còn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh nói chung, rất độc đáo và đặc sắc.Ngược dòng thời gian, lật lại những trang sử vàng của dân tộc, ta như sống trongnhững âm vang náo nức của thời đại anh hùng Soi mình vào tấm gương văn học

25

Trang 26

ta thật sống động Và mấy ai có thể quên những ngày tháng Tám năm 1945 sôi nổi, hào hùng, xua tan màn đêm u ám, nặng nề của chế độ thực dân phong kiến, thổi vào cuộc đời mỗi kiếp lầm than làn gió hồi sinh nồng ấm Khi đó, cả dân tộc Việt Nam,

từ bùn lầy tăm tối của gông xiềng nô lệ đã “ Rũ bùn đứng lên sáng lòa”, vươn lên làm chủ đất nước Khi đó lịch sử cuộn chảy sang kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập,

tự do Nhưng dân tộc ta không bị ngủ trong men say và hào quang chiến thắng mà hơn lúc nào cần phải tỉnh táo nhận thấy tính mệnh “ ngàn cân treo sợi tóc”của đất nước, bởi núp sau danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, bọn đế quốc, thực dân với âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa, bởi những thế lực phản động trong nước đang ngóc đầu dậy nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ Chính trong giờ khắc trọng đại ấy của lịch sử, “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời, không chỉ là mệnh lệnh trái tim, là sự thôi thúc bên trong của tác giả mà quan trọng hơn, còn là tiếng nói của lịch sử, đáp ứng yêu cầu đặt nền móng pháp lí vững chắc đầu tiên xây dựng nước Việt Nam độc lập muôn đời

Đối tượng bản tuyên ngôn hướng tới là ai? Trên quảng trường Ba Đình rực nắng, giữa lồng lộng trời thu xanh cao buổi ấy, giọng của Bác “ấm từng tiếng, thấm vào lòng mong ước” (Tố Hữu): “Hỡi đồng bào cả nước” – hai tiếng “đồng bào” giản

dị mà rưng rưng một niềm cảm động, yêu thương Nhân dân là những người viết lên trang sử, những chủ nhân đất nước, nên lẽ tự nhiên, đó là đối tượng đầu tiên Bác hướng tới Chưa hết! Thay mặt nhân dân Việt Nam, Bác còn viết cho nhân dân thế giới, cho công luận quốc tế: “Chúng tôi … trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng …” nhưng có lẽ sâu xa hơn và cũng là trước hết, đối tượng “thế giới” ở đây trùng với đế quốc mĩ, Anh, Pháp và bè lũ phản động Trung Hoa Quốc dân đảng – những kẻ đã tung ra dư luận thế giới những lí lẽ hùng hồn, những luận điệu xảo trá nhằm “ hợp thức hóa” cuộc xâm lược nước ta Bản tuyên ngôn, một mặt lật tẩy bản chất xấu xa

đê hèn của chúng, mặt khác đập tan những luận điệu, bác bỏ những lí lẽ của chúng bằng một hệ thống lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được: Vừa thuyết phục về khoa học, lí trí, vừa lay động sâu

xa ý thức, tâm hồn người nghe, người đọc, thể văn chính luận trở thành vũ khí sắc bén và lợi hại vô cùng trong cuộc luận chiến với kẻ thù, kết tinh đỉnh cao tài năng của một ngòi bút sắc sảo, trí tuệ; và ẩn đằng sau đó, lung linh tỏa sáng “Một tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn” của con người đại diện mẫu mực cho tầm vóc lịch sử, cho sức mạnh trí tuệ của con người Việt Nam, của thời đại anh hùng

26

Trang 27

không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền

tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”

… “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn tự do vàbình đẳng về quyền lợi”

Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh mở ra bằng những câu văn trích trong hai văn kiện lập quốc: “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp 1791 Những lời bất hủ ấy về quyền sống bình đẳng, sống tự do, sống hạnh phúc, không ai không thể công nhận bởi nó đã được thực tế lịch sử chứng minh, đã trải nghiệm xương máu qua hai cuộc cách mạng dân tộc dân chủ điển hình của nhân loại Bác không khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc “rành rành định phận tại sách trời” (Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt), mà chỉ với việc trích dẫn những tuyên ngôn làm rạng danh truyền thống đấu tranh và văn hóa nước Mĩ , nước Pháp, những nguyên lí cách mạng có giá trị chân lí muôn đời, Bác đã “bắn một mũi tên trúng được nhiều đích” Đế quốc Mĩ núp sau danh nghĩa Đồng minh vào nước ta để cướp nước ư? Thực dân Pháp muốn quay trở lại tiếp tục “ bảo hộ” Đông Dương ư? Thì đây, ngay từ đầu âm mưu của chúng đã bị chặn đứng lại trước những lời răn dạy, cảnh tỉnh của chính tổ tiên, cha ông chúng Với đôi mắt sáng suốt , nhìn xa trông rộng, Bác đã thấy kẻ thù cụ thể trước mắt sẽ xâm lược dân tộc ta là thực dân Pháp, đằng sau đó là đế quốc Mĩ nên

mở đầu bản tuyên ngôn, Bác đã rung hồi chuông cảnh báo: nếu chúng xâm lược Việt Nam là đi ngược lại lời cha ông chúng, là đứa “thất hứa” Ý nghĩa sâu sắc và đanh thép ấy ẩn dưới cách nói khéo léo, tỏ ra tôn cao, tôn trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ, nhưng thật chất thể hiện sự mềm dẻo của sách lược, thắt bụng chúng như “lạt mềm buộc chặt” Thật thú vị và cũng thích đáng biết bao với cú đòn “lấy gậy ông đập lưng ông” của Bác Với phương pháp suy lí diễn dịch, câu nói

“đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” chốt lại đinh ninh đanh thép, khẳng định lập trường chính nghĩa và đặt cơ sở pháp lí vững chắc cho nền độc lập tự do củadân tộc Việt Nam Đúng là đọc tuyên ngôn phải đọc giữa hai dòng chữ thì mới thấm thía những ý vị sâu xa, mở ra bao nhiêu liên tưởng, phong phú nén chặt trong từng câu, từng chữ hàm súc, chắc chắn “ như đinh đóng cột” Cảm quan cách mạng nhạy bén, trí tuệ sắc sảo của tư tưởng lớn Hồ Chí Minh kết đọng, tỏa sáng với lời văn của bản tuyên ngôn

27

Trang 28

trong lịch sử nhân loại, bản tuyên ngôn của Bác đã nâng cao tầm vóc văn hóa của dân tộc Việt Nam, sánh ngang với ánh sáng văn minh thế giới, một dân tộc với bề dầy truyền thống “vốn xưng nền văn hóa đã lâu” Ta như gặp lại âm hưởng ngân vang, tự hào của áng “thiên cổ hùng văn” “Bình Ngô đại cáo” khi đặt nước Việt NamDân Chủ Cộng Hòa ngang hàng với những nước lớn trên thế giới, cũng như cha ông

ta xưa kia: “Từ Triệu, Đinh , Lê, Trần bao đời gây nền độc lập – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên xưng đế một phương” Hơn nữa, cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 cũng nâng lên tầm vóc thế giới, kết hợp vừa “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”, vừa “đánh đổ chế độquân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” những nhiệm vụ cuộc cách mạng Mĩ 1776 và cách mạng Pháp 1791 đã giải quyết Nối liền trong nguồn mạch dạt dào của truyền thống tự hào dân tộc, bản tuyên ngôn gợi mối dây lịch sử hiện nay với quá khứ ngàn xưa, niềm tự hào dân tộc từ ngàn xưa như kết tinh lại trong thời điểm hiện đại, cùng âm vang tha thiết hào hùng Tư tưởng Hồ chí minh

đã vượt phạm vi trong nước nhỏ hẹp vươn đến tầm cao nhân loại, vượt thời gian, không gian hiện tại, bắt gặp và lắng đọng “hồn thiêng sông núi”

Nét sáng tạo linh hoạt, mới mẻ của ngòi bút văn phong chính luận của Bác, không chỉ ở việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn trên mà Bác còn mở rộng, phát triển lên tư tưởng mới” “… lời bất hủ ấy ở trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng: dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Từ quyền con người Bác đã vận dụng thiết thực, sáng tạo vào quyền độc lập dân tộc Câu nói không chỉ thức tỉnh trí tuệ Việt Nam mà trí tuệ nhân loại cũng như bừng tỉnh, hay nói như giáo sư nguyễn Đăng Mạnh, đó là “phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX” Những lí lẽ sắc bén, chặt chẽ giàu sức thuyết phục thể hiện ngòi bút già dặn “ cao tay” của một nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn có tầm vóc nhân loại, kết tinh trí tuệ tình cảm tha thiết và sâu lắng của thời đại, của con người

Hệ thống lập luận của tuyên ngôn không chỉ chặt chẽ trong việc đặt cơ sở pháp

lí của nền độc lập dân tộc mà còn rất toàn diện khi đưa ra cơ sở thực tế của Tuyên ngôn Và có lẽ những “ bằng chứng sống” của hiện thực lịch sử, những lí lẽ của sự

28

Trang 29

nghe, nguời đọc.

Kẻ thù trước mắt đang lăm le quay trở lại xâm lược nước ta, đó là thực dân Pháp Và đòn đánh trực diện đầu tiên của bản tuyên ngôn đó là đoạn văn tố cáo tội áccủa chúng Bắt đầu từ hai tiếng “ Thế mà … “, mạch văn chuyển rất tự nhiên, lay chuyển nhận thức con người từ những nguyên lí cao đẹp vừa nêu trong hai bản tuyên ngôn đến thực tế nước Việt Nam Không nói gián tiếp kín đáo mà đến đây, ngòi bút sắc sảo của Bác như lưỡi dao sắc bén đi sâu vào bản chất thực dân Pháp, bóc trần danh nghĩa “khai hóa”, “Bảo hộ” mà chúng đã rêu rao, dưới lá cờ “Tự do, bình đẳng, bác ái”, chỉ thẳng “hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” Một

hệ thống luận cứ chặt chẽ, toàn diện, tiêu biểu và đầy ấn tượng tung ra dưới bút lực dồi dào, sắc sảo của Bác Mọi phương diện đời sống xã hội Việt Nam đều in dấu tội

ác của thực dân Pháp: về chính trị, chúng cướp nước ta, thủ tiêu quyền tự do dân chủ,chia cắt cơ thể thống nhất đất nước thành ba chế độ, ngăn cản khối đoàn kết dân tộc;

về kinh tế, chúng “Bóc lột dân ta đến xương tuỷ”, kìm hãm nền kinh tế dân tộc trong vòng què quặt, lạc hậu; về quân sự, chúng đàn áp nhân dân ta dã man, không những không “Bảo hộ” nước ta mà còn “bán nước ta hai lần cho Nhật” Từng câu, từng chữ bên cạnh những thuật ngữ chính trị còn ám ảnh, nhức nhối đến sâu thẳm tâm can người đọc bởi sức mạnh nghệ thuật văn chương Những câu ngắn như dồn nén bao căm hận, ẩn đằng sau đó là sôi trào máu và nước mắt thấm đầu ngòi bút Mỗi câu vang lên đanh thép, chất chứa hờn căm như những lời tuyên án, mở đầu là hàng loạt

từ “Chúng” với những hành động tàn bạo “Thẳng tay chém giết”, “tắm các cuộc khởinghĩa của chúng ta bằng những bể máu”, “ràng buộc dư luận”, “bóc lột dân ta đến xương tủy”… và từ đó dội xuống như búa tạ đến “nhân dân ta”, “nhà nước ta”, “nòi giống ta”, “dân tộc ta”… Nỗi đau đã lặn vào trong tù và từ trái tim yêu thương, nhân đạo thiết tha, từ tấm lòng đau đớn vì bị cứa những vết dao sắc của Bác bật lên những hình ảnh giàu sức gợi cảm, ngắn gọn, chính xác: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” Ta nghe trong lời của Bác âm vang tiếng nói cha ông – tiếng nói hờn căm tội ác “trời không dung, đất không tha” của kẻ thù khi chúng:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

(Cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi)

29

Trang 30

đã vẽ lên bức tranh một thời kỳ lịch sử đau thương của dân tộc với những gam màu xám lạnh trên nền máu và nước mắt kéo dài “từ Quảng Trị đến Bắc kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói” Những trang văn ấy lay động mạnh mẽ tâm hồn người đọc,

là bằng chứng xác thực “không thể chối cãi được” tạo lí lẽ lật tẩy bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp, đi ngược lại truyền thống văn hóa của nước Pháp, của nhân loại Đằng sau những trang văn day dứt ấy là tâm hồn nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh –

“Người đã đói mọi cơn đói ngày xưa – Người đã chết hai triệu lần năm đói bốn lăm khủng khiếp” (Nhà thơ Cuba A.Rôđờrighết) Cảm xúc quyện hòa với lí trí tạo nên sức mạnh chiến đấu sắc sảo của văn phong chính luận Hồ Chí Minh

Để khẳng đinh trước công luận quốc tế nền độc lập tự do của dân tộc Việt

Nam “Tuyên ngôn Độc lập” rất độc đáo và chặt chẽ khi tạo nên thế đối lập giữa thựcdân Pháp và dân tộc ta Nếu như khi Nhật đến, Pháp bộc lộ rõ bản chất đê hèn “Quì gối đầu hàng, mở cửa nước rước Nhật” Khi Nhật đảo chính, thực dân Pháp bỏ chạy, hoặc đầu hàng, thì nhân dân ta anh dũng vùng lên quật khởi Âm hưởng ngợi ca trào lên với điệp khúc “sự thật” láy đi láy lại như tô đậm, khắc tạo hình ảnh dân tộc bất khuất, anh hùng Không những thế, nhân dân ta còn nhân đạo ngay cả đối với kẻ thù.Đập lại lập luận của thực dân Pháp, Đông Dương là thuộc địa của thực dân Pháp

và chúng có quyền trở lại Đông Dương là những khẳng định đanh thép – khẳng định bằng chân lí của sự thật: “Sự thật là từ mùa Thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa… Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp” Rõ ràng luận điệu xảo trá của thực dân Pháp đã bị đập tan bằng lí lẽ, bằng chứng xác đáng, đầy thuyết phục

Từ sự đấu tranh kiên cường của dân tộc tất yếu gặt hái được những kết quả chânchính: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” Bản tuyên ngôn thắt buộc các nước Đồng minh khi khẳng định Việt Nam đã “gan góc đứng về phe Đồng minh chống Phát xít mấy năm

nay” (Trong khi thực dân Pháp đầu hàng Phát xít Nhật) một lần nữa lại chận được

âm mưu của các nước đế quốc Những câu văn khẳng định: “chúng tôi tin

rằng…” hoặc phủ định của phủ định “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam” Những câu văn với những kết cấu song song: “một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” tạo nên những điệp khúc âm vang, vừa

30

Trang 31

“nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập – toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”, câu nói như chạm khắc ý chí sắt đá giữ vững nền độc lập của dân tộc ta trên trang sử vàng của dân tộc Tác phẩm kết lại cũng chính là mở đầu một thời kỳ mới đấu tranh giữ vững chủ quyền đất nước.

“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh xứng đáng là áng văn mẫu mực của dântộc Việt Nam trong thời đại mới Với hệ thống lập luận chặt chẽ, đi từ ràng buộc này đến thắt buộc khác, với hệ thống luận cứ toàn diện, kết cấu trùng điệp, văn phong sắcsảo, bản tuyên ngôn hướng tới nhiều đối tượng với nhiều giọng điệu khác nhau: tha thiết, sâu lắng yêu thương với quốc dân, đồng bào; Đanh thép, rắn rỏi cảnh tỉnh, bác

bỏ lý lẽ bọn đế quốc, thực dân phản động; Trang trọng tự tin tuyên bố độc lập trước công luận quốc tế… Tác phẩm thuyết phục người đọc bởi hệ thống lập luận khoa học, xác đáng, hơn nữa còn đi vào lòng người bằng vẻ đẹp văn chương gợi cảm, giàutính thẩm mĩ Bản tuyên ngôn thừa kế truyền thống các áng tuyên ngôn độc lập của cha ông chúng ta, đồng thời thở vào đó hơi thở của thời đại mới giàu chất trí tuệ, sắc sảo, hấp dẫn

Tạo nên áng văn chính luận mẫu mực ấy là tư tưởng, trí tuệ Hồ Chí Minh, một tầm văn hóa sánh ngang tinh hoa nhân loại Với cái nhìn sáng suốt, tỉnh táo, thấu suốtbản chất của kẻ thù, Bác đã vận dụng linh hoạt, khéo léo thể văn chính luận để lật tẩy

bộ mặt kẻ thù, đập tan luận điệu giả dối của chúng Với cái nhìn yêu thương, chủ nghĩa nhân đạo trí tuệ của người cộng sản, những trang văn của Bác thấm nhuần tư tưởng yêu nước, nhân ái của dân tộc, ca ngợi, tự hào sức mạnh quật cường của dân tộc và sâu sắc hơn, khơi dậy ngọn lửa đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của nhân loại, của dân tộc trên thế giới Tầm văn hóa lớn, những trải nghiệm bản thân đã giúp Bác đúc kết nên chân lý của dân tộc, lịch sử và thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi, như ngọn đuốc soi đường cho con người tiến lên xã hội văn minh, tiến bộ

Với tầm tư tưởng, tầm văn hóa ấy, “Tuyên ngôn độc lập” không có dung lượng

đồ sộ như những tác phẩm lớn trên thế giới mà ngược lại, tác phẩm rất “ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết”.Ngắn gọn trong số lượng câu, chữ của tác phẩm, có thể đếm được Trong sáng giản dị với những từ thuần Việt vừa chính xác, vừa hình tượng, câu

31

Trang 32

bản Tuyên ngôn: “Pháp thua, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, câu văn chỉ có bảy tiếng mà đã đi gần 100 năm lịch sử, khái quát những sự kiện trọng yếu của dân tộc

Sự thật lịch sử gợi lên trước mắt người đọc với không khí sử thi hoành tráng, không khí vùng lên quật khởi của dân tộc và tư thế của kẻ thù, tay sai bán nước Những câu văn ngắn gọn nhưng lại hàm chứa năng lượng thẩm mĩ lớn khi miêu tả tội ác đẫm máu của kẻ thù, rung động lòng người sâu sắc Âm vang của những câu văn còn dư

ba mãi Và đúng như câu nói “Cái đẹp nằm ngay trong sự giản dị”, “Tuyên ngôn độc lập” súc tích, nhưng dồn nén bao giá trị tư tưởng, nghệ thuật cũng như ý nghĩa lịch

sử to lớn của dân tộc ta trong mùa Thu lịch sử

Trước “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, ta đã có bài thơ: “Thần” của Lý Thường Kiệt, “Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi, những áng tuyên ngôn ấy khắc chữ vàng trên bia đá lịch sử muôn đời những mốc sơn rực rỡ của dân tộc Việt Nam qua nhiều thế kỉ đấu tranh vì “Độc lập, tự do, vì nhân quyền và dân quyền của dân tộc và của nhân loại” Có thể nói “Tuyên ngôn độc lập” là kết tinh truyền thống yêu nước của dân tộc và tinh thần của thời đại mà lắng lòng mình trong đó, ta có thể nghe thấy

“Lời non nước – tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau” (Tố Hữu) Tác phẩm tiêu biểu cho văn phong chính luận sắc sảo, giàu tính chiến đấu, đồng thời thể hiện phong cáchnghệ thuật Hồ Chí Minh ngắn gọn, giản dị mà hàm súc, sâu sắc; kết hợp dân tộc và thời đại, thấu tình đạt lí… Người đọc không chỉ thấy được một cây bút nghệ thuật tài năng, trí tuệ mà còn bắt gặp, yêu thương tâm hồn nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh.Lịch sử đã lùi xa, nhưng mỗi lần đọc lại bản “Tuyên ngôn độc lập” của Bác, ta lại thấy thể hiện lên buổi sáng Ba Đình lịch sử với cờ hoa, nắng vàng rực rỡ, với bầu trời thu xanh lồng lộng và hình ảnh người cha già kính yêu Bác đứng đó, với mái đầu bạc gần gũi, với giọng nói trầm ấm mà âm vang cả sông núi, đất trời, và chỉ một câu hỏi “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” tâm hồn ta đã rung lên hòa điệu trong điệu hồn muôn người, điệu hồn dân tộc “Tuyên ngôn Độc lập”là văn kiện lịch sử có giá trị muôn đời, không chỉ đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc mà còn đóng góp cho tinh hoa nhân loại trí tuệ, tâm hồn Hồ Chí Minh Tác phẩm mãi mãi được gìn giữtrân trọng bởi giá trị nghệ thuật và tư tưởng sáng đẹp của Người

III RÚT KINH NGHIỆM

32

Trang 35

1

Trang 36

Ngày soạn: /10/2021

Ngày dạy:

Tiết 7 – 8 - 9: ÔN TẬP

TÂY TIẾN (Quang Dũng)

A MỤC TIÊU BÀI HỌC CẦN ĐẠT

1 Kiến thức:

Ôn tập các nội dung kiến thức cơ bản của tác phẩm:

- Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội nhưng mĩ lệ, trữ tình và hình ảnh người línhTây Tiến với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa

- Bút pháp lãng mạn đặc sắc, ngôn từ giàu tính tạo hình

2 Kĩ năng:

- Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại

- Rèn kĩ năng cảm thụ thơ và kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận về thơ hiện đại

3 Thái độ:

Có ý thức ôn thi THPTQG nghiêm túc

4.Định hướng các NL cần phát triển cho HS

- NL đọc hiểu văn bản thơ hiện đại giai đoạn 1945 -1975

- NL tạo lập VB nghị luận về thơ hiện đại giai đoạn 1945-1975

- Các NL khác: NL hợp tác, NL giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo

B THIẾT KẾ BÀI HỌC

I SỰ CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

- GV: + SGK, SGV Ngữ văn 12

+ Tài liệu hướng dẫn ôn tập

- HS : SGK, Vở ôn tập và các tài liệu tham khảo khác

II TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

Trang 37

1 Ổn định tổ chức

2 Nội dung ôn tập

Nội dung 1 : Nhắc lại kiến thức cơ bản

1 Vài nét về tác giả, tác phẩm

a Tác giả

+ Quê quán: Đan Phượng, Hà Tây

+ Nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc > Dấu ấn hội họa và âm nhạc in đậm trong các thi phẩm của Quang Dũng

+ Phong cách thơ: hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa >hào hoa là

chữ nói lên hồn cốt con người cũng như thơ ca Quang Dũng

b Tác phẩm

+ Hoàn cảnh ra đời:

- Đoàn binh Tây Tiến:

· Thời gian thành lập: đầu năm 1947

· Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp ở Thượng Lào và miền tây Nam Bộ của Việt Nam

· Địa bàn: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa (Việt Nam), Sầm Nưa(Lào) > địa bàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước độc

· Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách hào hoa, lãng mạn

· Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52

- Cuối năm 1948: Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Tại Phù Lưu Chanh, tác giả viết bài thơ Nhớ Tây Tiến

+ Nhan đề:

Trang 38

- Ban đầu Nhớ Tây Tiến > in lại đổi thành Tây Tiến.

+ Khái quát về nội dung và nghệ thuật:

- Khắc họa thành công 2 hình tượng: Thiên nhiên miền Tây Bắc vừa hung vĩ, dữ dội, vừa mĩ lệ, nên thơ; hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hung, vừa hào hoa

- Nghệ thuật nổi bật: cảm hứng lãng mạn và bút pháp tài hoa

Nội dung 2 : Luyện đề PHẦN I : ĐỌC – HIỂU

Đề bài: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

1 Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

2 Nêu nội dung cơ bản của văn bản

3 Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ ngữ đó

Trang 39

2 Văn bản tập trung khắc họa chân dung người chiến binh Tây Tiến (ngoại hình, tâmhồn, lí tưởng, sự hi sinh)

3 Những từ Hán Việt được sử dụng là: đoàn binh, biên giới, chiến trường, biên cương, viễn xứ, áo bào, độc hành Việc sừ dụng những từ Hán Việt ở đây đã tạo ra sắcthái trang trọng, mang ý nghĩa khái quát, làm tôn thêm vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, góp phần tạo ra vẻ đẹp hào hùng cho hình tượng

4 Phép tu từ nói giảm dược thể hiện trong câu thơ: “Áo bào thay chiếu anh về đất” Cụm từ “về đất” được thay thế cho sự chết chóc, hi sinh Phép tu từ này có tác dụng

làm giảm sắc thái bi thương cho cái chết của người lính Tây Tiến Người lính Tây Tiến ngã xuống thật thanh thản, nhẹ nhàng

5.Học sinh có thể tham khảo :

‘- Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến:

+ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, có bóng dáng của các tráng

sĩ thời xưa: Ý chí chiến đấu quên mình, tình yêu mãnh liệt với quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống

+ Vẻ đẹp của người lính không tách rời nỗi đau của chiến tranh ác liệt Sự hi sinh giankhổ của người lính được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi luỵ

– Vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn:

+ Không chỉ ở dáng vẻ “oai hùm” phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trongtừng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh

+ Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời mà hoà nhập vào nhau tạo nên một

vẻ đẹp vừa lí tưởng vừa hiện thực của hình tượng thơ

PHẦN 2 : LÀM VĂN

Câu 1 : Nghị luận xã hội

Từ bài thơ Tây Tiến, viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của

anh/chị về lí tưởng sống của thanh niên ngày nay.

Trang 40

- Lí tưởng sống là gì?

+ Lí tưởng là mục đích sống cao đẹp

+ Lí tưởng sống cao đẹp là lí tưởng sống vì mọi người

+ Lí tưởng sống của thanh niên Việt Nam trong những giai đoạn cách mạng vừa qua là sống chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

2 Bàn luận

- Vì sao con người cần sống có lí tưởng?

+ Có lí tưởng con người sẽ có hướng phấn đấu để vươn lên

+ Lí tưởng sống cao đẹp là điều kiện để con người sống có ý nghĩa; giúp con người hoàn thiện vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách

- Suy nghĩ về những tấm gương có lí tưởng sống cao đẹp

+ Nêu những tấm gương sống theo lí tưởng cao đẹp:

 Những chiến sĩ chiến đấu và hi sinh cho công cuộc cách mạng giành độc lập tự

Ngày đăng: 26/08/2022, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w