Không gian kinh tế trong cơ chế thị trường không chỉ bao gốm các mốiquan hệ cung cầu về hàng hóa , mà đã xuất hiện và ngày càng phát triển quan hệ tiền tệ .Quan hệ này tất yếu sẽ dẫn đến
Trang 1Để hiểu rõ vấn đề này, tiểu luận tập trung phân tích “Thị trường tài
chính và vai trò của thị trường tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.”
Đây là một lĩnh vực hết sức hấp dẫn và chứa nhiều kiến thức hết sức phongphú vì vậy trong quá trình thực hiện không khỏi tránh những sai sót Do đómong được sự đóng góp của giảng viên để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn!
Trước khi đi vào phân tích thực trạng của thị trường tài chính ViệtNam, chúng ta cần làm rõ khái niệm về thị trường tài chính và những vấn đềmang tính chất lý luận chung về thị trường tài chính
I./ KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH(TTTC)
1 Khái niệm về thị trường tài chính:
TTTC là sự thể hiện nhạy cảm mọi hoạt động của thị trường hàng hóa vàdịch vụ Nó được ví như một “ nền kinh tế tượng trưng” hay một nền kinh tếphái sinh từ nền kinh tế thực ; nó đo lường và phản ánh hiệu quả kinh doanh vàhiện trạng của kinh tế thực Vì thế có quan điểm cho rằng TTTC là yếu tố cơbản nhất của kinh tế thị trường hiện tại TTTC ra đời đã làm đa dạng hóa vàphức tạp hóa mọi hoạt động tài chính Nó không chỉ nhận một cách thụ động
Trang 2các ảnh hưởng của nền kinh tế mà còn gây ra nhiều tác động đáng kể đến sựphát triển của nền kinh tế Và như thế , nó có những vai trò nhất định đối với
sự vận hành kinh tế và trở thành công cụ đắc lực giúp nhà nước quản lí hiệuquả nền kinh tế
Không gian kinh tế trong cơ chế thị trường không chỉ bao gốm các mốiquan hệ cung cầu về hàng hóa , mà đã xuất hiện và ngày càng phát triển quan
hệ tiền tệ Quan hệ này tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu vận động nguồn vốn từ nơithừa sang nơi thiếu, chủ yếu diễn ra tại các thi trường tài chính Thuật ngữ “ thịtrường tài chính” được sử dụng để phân biệt thị trường mua bán , giao dịch cácloại chứng khoán với các thị trường khác (thị trường hàng hóa, thị trường sứclao động…)
Cần lưu ý là thị trường tài chính khó định nghĩa một cách rõ ràng Ở ViệtNam , nhiều thuật ngữ kinh tế chưa được xác định rõ, thuật ngữ TTTC có nhiềunghĩa , tùy theo tác giả hay cơ quan sử dụng nó Trong bài này , TTTC xinđược hiểu như sau:
“Thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các sảnphẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau củacác chủ thể trong nền kinh tế” Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợinhuận thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu đầu tư khác Việc hình thànhquá trình giao lưu vốn giữa những chủ thể thừa vốn và thiếu vốn đã tạo nênmột thị trường với đầy đủ cơ chế như trong một nền kinh tế thị trường Đồngthời, do sản phẩm trên thị trường là sản phẩm tài chính, có tính nhậy cảm vàảnh hưởng đến mọi thành phần trong nền kinh tế nên thị trường tài chính là thịtrường bậc cao Do đó, thị trường tài chính phải là loại thị trường bậc cao, chỉtồn tại và hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
Thị trường tài chính có 3 yếu tố cơ bản:
Trang 3Đối tượng của thị trường tài chính : đó là những nguồn cung và cầu về
vốn trong xã hội của các chủ thề kinh tế như nhà nước ,doanh nghiệp các tổchức xã hội ,các định chế tài chính trung gian và công chúng
Công cụ của thị trường tài chính:đây là nguồn sống cho hoạt động của
thị trường bao gồm các loại cộng trái nhà nước, các loại chứng khoán do doanhnghiệp phát hành ,các loại trái phiếu của các định chế tài chính trung gian pháthành , cac` loại giấy tờ có giá như kì phiếu , séc…
Chủ thề của thị trường tài chính: đây là nhửng pháp nhân và thể nhân
đại diện cho những nguổn cung và cẩu về vốn tham gia trên thị trường tàichính
Vậy, thị trường tài chính hình thành trên cơ sở nào?
2 Cơ sở hình thành thị trường tài chính:
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển luôn xuất hiện nguồncung và cầu về vốn đầu tư.Sự kết nối giữa cung và cầu về vốn được thực hiệndưới nhiều hình thức
Hình thức đơn giản nhất và cũng tồn tại lâu đời nhất là những quan hệvay mượn trực tiếp giữa các tầng lóp dân cư hoặc quan hệ tín dụng thương mạigiữa các doanh nghiệp Song với hình thức này qui mô vồn vận động khônglớn và phạm vi điều tiết vốn không rộng vì chủ yếu chỉ diễn ra trên cơ sở quenbiết và tín nhiệm giữa hai chủ thể trong quan hệ tín dụng
Hình thức thứ hai tương đối phổ biến đó là sự ra đời và phát triển củacác tồ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại ,các tổ chức tíndụng , các công ty tài chính Hoạt động của các tổ chức này thật sử là nhịp cầugiao lưu giữa cung và cấu vốn vì chúng vừa là ngưới đi vay vừa là người chovay
Hình thức thứ ba được phát triển khi mà chủ thể đại diện cho nhu cầuvốn đầu tư không muốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian mà họ sẽ
Trang 4chủ động tìm kiếm nguồn vốn đầu tư bổ sung bằng cách phát hành các chứng
từ có giá.Phát triển sớm nhất là những tờ công trái do ngân sách nhà nước pháthành để huy động vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu chi và sau này khi các doanhnghiệp cần tập trung vốn đầu tư thì các loại cổ phiều, trái phiếu ra đời ngàycàng nhiều trong nền kinh tế
Sự có mặt của các loại chứng từ có giá đã thu hút sự quan tâm của giớiđầu tư vì không những nó đa dạng và phong phú về chủng loại, người đầu tư sẽbiết được chính xác đường đi đồng vốn mình, mặc khác với đặc điểm có thểmua bán các chứng từ có giá dễ dàng trên thị trường nên người đầu tư cảm thấy
họ không bị bó buộc trong một phạm vi hạn hẹp.Trên thực tế một thị trườnggiao dịch các loại chừng từ có giá đã hình thành và phát triển ngày càng mạnh
mẽ mà người ta đã dùng thuật ngữ thị trường tài chính để chỉ ra nơi diễn ra cáchoạt động mua bán các chứng từ có giá trong nền kinh tế
Như vậy, có thể nói sự ra đời và phát triển của các loại chứng từ có giá
và quá trình giao lưu chuyển nhượng chúng trong nền kinh tế vừa có tác dụnggiải quyết nhu cầu vốn đầu tư cho các chủ thề vay vốn vừa là cơ sở hình thànhthị trường tài chính
3 Chức năng của thị trường tài chính:
Chức năng đầu tiên, cũng là chức năng quan trọng nhất của thị trường tàichính là khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nềnkinh tế xã hội Để thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo ra cáckênh huy động vốn từ nơi thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế,tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, … ở trong và ngoài nước để chuyển sangcác nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân, hộ giađình, …
Chức năng thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu
tư Thị trường tạo ra sân chơi, để những người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu tư
Trang 5như nhau và được tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư
có suất sinh lợi cao nhất, tạo thành thói quen tích lũy tiền tệ một cách thườngxuyên hơn, là một nguồn đầu vào không thể thiếu của thị trường Nếu thịtrường không kích thích được người dân tích lũy và tham gia vào thị trườngnhư là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể hoạtđộng tốt Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợcho các hoạt động đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho cóhiệu quả nhất, có hiệu suất sử dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời
và tích lũy Chính vì vậy, thị trường tài chính có chức năng nâng cao năng suất
và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, kích thích đổi mới, áp dụngkhoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả đầu tư, góp phần thúcđẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanhkhoản cho các tài sản tài chính Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyểnhóa các tài sản tài chính thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp,
là thị trường mua bán, giao dịch cổ phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hànhtrên thị trường sơ cấp Tính thanh khoản ở thị trường tài chính càng cao thìcàng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu các tàisản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu Do đó, mỗi thịtrường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ pháttriển các định chế tài chính của thị trường ấy Nếu các cơ chế của thị trườngthông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thôngthông suốt Ngoài ra, thị trường tài chính còn có chức năng định giá tài sản tàichính, phân phối vốn trên thị trường theo tín hiệu của thị trường
Tùy thuộc vào các chức năng khác nhau của thị trường cũng như các tiêuchí phân loại khác nhau, thị trường tài chính cũng có nhiều cách phân loại khác
Trang 6nhau Nhưng tựu trung lại, thị trường tài chính thường có ba cách phân loại cơbản: theo thời hạn, tính chất luân chuyển vốn và theo cơ cấu của thị trường.
4 Phân loại thị trường tài chính:
Dựa trên nhiều tiêu thức phân loại mà có thể nhìn thị trường tài chínhtheo những cấu trúc khác nhau:
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thị trường tài chính được phân thành thịtrường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành lần đầu các chứng từ có giá
để huy động và tập trung vốn Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ đượcchuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoánmới phát hành Thị trường sơ cấp có đặc điểm là nơi duy nhất mà các chứngkhoán đem lại vốn cho người phát hành, tạo ra hàng hóa cho thị trường giaodịch và làm tăng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế Những người bán chứngkhoán trên thị trường sơ cấp thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, Công typhát hành, Tập đoàn bảo lãnh phát hành, …Thị trường sơ cấp thường diễn ratrong một thời gian nhất định
- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán trao đổi các chứng từ có giá
đã phát hành lần đầu Trên thị trường này, các nhà đầu tư chuyển nhượngquyền mua bán chứng khoán và điều đó làm cho chứng khoán đã phát hành cótính thanh khoản Khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về cácnhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà pháthành nên luồng tiền chỉ vận chuyển giữa những nhà đầu tư chứng khoán trênthị trường Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứngkhoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp Giao dịch trên thị trường thứ cấpphản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá giao dịch chứng khoán do cung - cầutrên thị trường quyết định
Trang 7Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Thị trường sơ cấp là cơ sở và là tiền đề cho sự hình thành và phát triểncủa thị trường thứ cấp; vì đó là nơi cung cấp hàng hóa chứng khoán lưu thôngtrên thị trường thứ cấp Ngược lại, thị trường thứ cấp là động lực, là điều kiệncho sự phát triển của thị trường sơ cấp; vì nếu không có thị trường thứ cấp đểlưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán thì rấtkhó để phát hành và thu hút nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Việc phân biệtthị trường sơ cấp và thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trên thực tế, tổchức thị trường không phân biệt đâu là thị trường sơ cấp, đâu là thị trường thứcấp Vì tại một thị trường có thể cùng diễn ra đồng thời hoạt động mua bánchứng khoán mới phát hành và chứng khoán mua bán lại Điều cần quan tâm làphải coi trọng thị trường sơ cấp vì đây là thị trường tạo vốn và có cơ chế giámsát chặt chẽ thị trường thứ cấp để bảo vệ thị trường tài chính ổn định.
Căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được phânthành thị trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn
- Thị trường công cụ nợ là thị trường phát hành, mua bán các chứng
khoán nợ Thực chất các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, …) là cácthỏa thuận có tính hợp đồng Trong đó, người vay vốn thanh toán cho ngườigiữ công cụ một khoản tiền cố định trong những khoản thời gian nhất định(thanh toán lãi) cho tới kỳ hạn cuối cùng thì thanh toán giá trị gốc Trên cơ sởkỳ hạn thanh toán, công cụ nợ được chia làm ba loại khác nhau:
Trang 8- Thị trường công cụ vốn là thị trường phát hành, mua bán các chứng
khoán vốn Vốn được huy động trên thị trường bằng việc bán cổ phần, chứngchỉ quỹ đầu tư, …Người nắm giữ cổ phiếu gọi là cổ đông, họ góp vốn vào cácdoanh nghiệp cổ phần trên cơ sở gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và được chia cổ tức dựa trên kết quả kinh doanh theo sốlượng cổ phần mà họ nắm giữ Chính vì vậy mà giá trị cổ tức không ổn địnhnhư người giữ công cụ nợ nhưng cổ tức có thể cao hoặc thấp hơn lãi trái phiếu,
vì nó tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng họ có quyềnbiểu quyết trong quản trị điều hành doanh nghiệp vì họ là chủ sở hữu Ngườigiữ chứng khoán vốn có nhiều rủi ro hơn người giữ chứng khoán nợ trongtrường hợp doanh nghiệp bị phá sản Người giữ chứng khoán nợ được ưu tiênthanh toán nợ trước
Ngoài ra, trong cách phân loại này, còn có thị trường công cụ phái sinh.Đây là thị trường phát hành và mua bán các chứng khoán phát sinh, như: chứngquyền, quyền chọn, hợp đồng tương lai, …
Căn cứ vào thời gian vận động của vốn, hay nói cách khác là kỳ hạnthanh toán của các chứng từ giao dịch trên thị trường ,thị trường tài chính đượcphân thành: thị trường tiền tệ, thị trường vốn
Ngày nay, một thị trường tài chính không nhất thiết phải có không gianvật lý Vì vậy, thị trường tài chính còn được phân theo thể thức sau:
- Thị trường thô sơ và thị trường vi tính hóa
- Thị trường thường trực và thị trường huy động
- Thị trường chứng khoán đã đăng ký và thị trường lưulượng chứng khoán
Mỗi cách phân loại thị trường tùy thuộc vào tiêu chí mà chúng ta muốnhướng đến Từ những cơ sở lý luận nêu trên, thị trường tài chính tại Việt Namcũng đã được hình thành và phát triển Nhằm đánh giá thực trạng của thị
Trang 9trường tài chính Việt Nam, tiểu luận này chỉ tập trung phân tích hai thị trườngtrong phân loại theo thời gian vận động của vốn Đó là thị trường tiền tệ và thịtrường vốn.
II./ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1 Khái niệm và cơ cấu của thị trường tiền tệ
1.1 Khái niệm
- Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có giángắn hạn Các chứng từ có giá ngắn hạn như: tín phiếu Kho bạc, khoản vayngắn hạn giữa các Ngân hàng, thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thươngphiếu, … Đây là thị trường nhằm thỏa mãn những nhu cầu vốn trong ngắn hạn.Căn cứ theo mục đích này của thị trường mà không cần quan tâm đến thời hạncủa các chứng từ có giá, khái niệm trên được hiểu theo nghĩa của thị trường mởthì thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán ngắn hạn các giấy tờ cógiá
1.2 Cơ cấu của thị trường tiền tệ
Ở các nước thông thường TTTT đều cấu thành bởi hai bộ phận thịtrường có các chức năng khác nhau:
Thị trường sơ cấp (Primary market): là thị trường mua bán lần đầu cácchứng khoán
Thông thường là thị trường đấu thầu chứng khoán nợ ngắn hạn củachính phủ như tín phiếu kho bạc ,trái phiếu chính phủ
Thị trường thứ cấp(Secondary market): là thị trường mua bán các loạichứng khoán có giá Hiểu theo nghĩa hẹp là thị trường lien ngân hàng, hiểutheo nghĩa rộng là thị trường mua bán lại các chứng khoán nợ ngắn hạn
Giữa hai thị trường có mối lien hệ đặc biệt:
Thị trường sơ cấp là thị trường tạo ra các công cụ hàng hóa chứng khoán
có khả năng chuyển nhượng , mua bán ở thị trường thứ cấp Ở thị trường sơ
Trang 10cấp nói chung giá cả của các chứng khoán thực chất là khoản tiền mà ngườicho vay chuyển cho người vay.
Vì vậy thị trường sơ cấp là thị trường phát hành ra các giấy tờ cógiá Giấy có giá là một tờ giấy ghi lời hứa trả của người phát hành nó ,là sẽhoàn trả lại khoản tiền xin vay vào một thời điểm cụ thể trong tương lai và cáckhoản lãi đã được ấn định
Thị trường thứ cấp là thĩ trường mua bán lại các giấy tờ có giá đã đượcphát hành để tạo thanh khoản cho người chủ sở hữu khi họ cần tiền mặt.Một thịtrường có tính thanh khoản càng cao càng tạo ra động lực phát triển cho thịtrường sơ cấp , bởi vì người mua CK trên thị trường sơ cấp được đảm bảo rằngbất cứ lúc nào cần tiền cũng có thể chuyển sang tiền mặt bằng cách bán lại CK
đó trên thị trường thứ cấp
Có 3 khía cạnh cần xem xét ở một thị trường :
Thị trường đáng tin cậy
tệ dưới dạng này sang dạng khác trên một thị trường gọi là TTTT.Chính trênthị trường này mà người có tiền chưa chưa cần sử dụng có thể gặp được đối tác
là người cần sử dụng để hai bên có thể đạt được mục tiêu đem lại lợi ích cho cảhai bên
b/ Tạo thanh khoản cho nền kinh tế
Trang 11Chức năng này xuất phát từ chức năng thanh toán của tiền tệ.Khi mộtngười sở hữu một số giấy tờ có giá ,lúc cần tiền để thanh toán ,trả nợ hay tiêudùng ,người đó có thể đem chúng ra bán trên TTTT một cách dễ dàng để thutiền mặt về.Tính thanh khoản là một trong những đặc trưng quan trọng nhất củaTTTT.
c/ Ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ
Từ hai chức năng trên , tiền sẽ được điều từ nơi thứa đến nơi thiếu để tạo
ra một sự cân bằng thỏa mãn các nhu cầu xã hội.Không có TTTT thì việc điếuhòa tiền tệ sẽ không thể thực hiện được, vì lượng cung về tiền sẽ không thể tìm
ra được lượng cầu đầy đủ.NHTU thông qua thị trường mở sẽ mua vào hoặc bán
ra các trái phiếu chính phủ hoặc các công cụ khác có tác dụng bơm hoặc húttiền tệ lưu thông nhằm điều hòa khối lượng tiền trong lưu thông làm cho TTTThoạt động hiệu quả và ổn định hơn
III.THỊ TRƯỜNG VỐN
1 Khái niệm và cơ cấu tổ chức của thị trường vốn
1.1 Khái niệm thị trường vốn
- Thị trường vốn là một bộ phận quan trọng của TTTC , hoạt động của
nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thànhnhững nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp , các tổ chức kinh tế
và nhà nước để phát triển sản xuất ,tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầutư
Thị trường vốn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán vàcác giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn thường từ một năm trở nên.Công cụ trao đổitrên thị trường vốn đa số là các chứng khoán , nên thị trường vốn còn được gọi
là thị trường chứng khoán (TTCK).Nội dung của các mối quan hệ về giao lưuvốn dài hạn trên TTCK được thể hiện tập trung bằng các hoạt động kinh doanh
Trang 12CK trên TTCK Vậy, TTCK là nơi mua bán giao dịch các loại chứng khoán đảđược phát hành và đang lưu hành trên thị trường.
1.2 Cơ cấu tổ chức của thị trường vốn
Thị trường sơ cấp : đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán mớiphát hành Thị trường sơ cấp tạo điều kiện tăng qui mô vốn đầu tư và là nơicung ứng chứng khoán vào lưu thông.Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo rahàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường thứ cấp : Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu các loạichứng khoán đã phát hành và lưu thông trên thị trường Thị trường thứ cấpkhông làm thay đổi qui mô vốn đầu tư trong nền kinh tế.Thị trường thứ cấpthực hiện vai trò điều hòa , lưu thông các nguồn vốn , đảm bảo chuyển hóa cácnguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn, để đầu tư và phát triển kinh tế Nhờ có thịtrường thứ cấp,những người có vốn nhàn rỗi tam thời có thể yên tâm đầu tưvào chứng khoán, vì khi cần tiền , họ có thể bán lại các chứng khoán của mìnhcho các nhà đầu tư khác trên TTCK
IV./ MỐI LIÊN QUAN GIỮA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG VỐN
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thảnh nên TTTCcùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế , do đó cácnghiệp vụ hoạt động ở cả trên hai thị trường có mối lien quan bổ sung và tácđộng hỗ tương
Lãi suất trên TTTT có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua báncác chứng khoán trên thị trường vốn.Nếu lãi suất ngân hàng trả cho ngưởi tiếtkiệm cao ,điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân hàng
để hưởng lãi suất cao và rủi ro thấp hơn là mua chứng khoán Mặt khác cácbiến đổi về giá cả và lãi suất trên TTTT thường kéo theo các biến đổi trực tiếp