1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích các quy định về xây dựng dự toán ngân sách đại phương theo luật ngân sách nhà nước 2015

10 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 28,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG I, Phân tích các quy định về xây dựng dự toán Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương c

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phân tích các quy định về xây dựng dự toán ngân sách đại phương theo luật ngân sách nhà nước 2015 Bình luận và lấy một số ví dụ thực tiễn để minh họa vai trò của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong xây dựng dự toán ngân sách địa phương.

NỘI DUNG

I, Phân tích các quy định về xây dựng dự toán

Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương(Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2015)

=>Dự toán ngân sách địa phương là bản dự trù các khoản thu, chi ngân sách theo các chỉ tiêu xác định trong một năm của nhà nước, được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương quyết định và là căn cứ để thực hiện thu, chi

1 Xây dựng dự toán thu ngân sách trên địa bàn

Địa phương phải dự toán toàn bộ các Khoản thu từ thuế, phí lệ phí và các Khoản thu khác trên địa bàn theo quy định tại Điều 7 của Luật NSNN năm 2015 và các quy định pháp luật có liên quan

Theo điều 7Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế

Căn cứ Mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, khả năng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế

-xã hội, trên cơ sở dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế, phạm vi thu NSNN theo quy định của Luật NSNN năm 2015 và các văn bản hướng dẫn Luật, dự báo nguồn thu đối với từng ngành, từng lĩnh vực, các cơ sở kinh tế của địa phương và những nguồn thu mới phát sinh trên địa bàn để tính đúng, tính đủ từng lĩnh vực thu, từng Khoản thu theo chế độ Phân tích, đánh giá

cụ thể những tác động tăng, giảm thu ảnh hưởng đến dự toán thu NSNN theo từng địa bàn, lĩnh vực thu, từng Khoản thu, sắc thuế

2 Về xây dựng dự toán chi NSĐP

Căn cứ dự toán thu NSNN trên địa bàn, thu NSĐP được hưởng 100% theo quy định của Luật NSNN năm 2015, mức chi cân đối NSĐP theo tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách (chi ĐTPT và chi thường xuyên) theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các Khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP, số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP (nếu có) Trên cơ sở đó, căn

cứ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chế độ chính sách chi tiêu hiện hành và tình hình thực tế của từng địa phương, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng

Trang 2

nhân dân cùng cấp quyết định: Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi thời kỳ ổn định ngân sách và định mức phân bổ NSĐP cho từng cấp chính quyền địa phương cấp dưới để xác định

số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các Khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương cho các năm trong thời kỳ ổn định phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương; đảm bảo định mức phân bổ NSĐP đối với các nhiệm vụ chi quan trọng (lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, lĩnh vực khoa học - công nghệ) không thấp hơn mức theo yêu cầu của các nghị quyết của Đảng, Quốc hội quyết định và Thủ tướng Chính phủ giao (riêng đối với dự toán chi nghiên cứu khoa học - công nghệ chỉ phân cấp cho ngân sách cấp tỉnh; không phân cấp cho ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã theo đúng quy định của Luật NSNN năm 2015) Đồng thời thực hiện những nội dung chủ yếu sau:

a) Đối với dự toán chi đầu tư phát triển( ĐTPT) trong cân đối NSĐP: Căn cứ quy định của Luật Đầu tư công và yêu cầu xây dựng kế hoạch đầu tư công, trên cơ sở dự toán chi ĐTPT trong cân đối NSĐP theo Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn ĐTPT bằng nguồn NSNN, ưu tiên nguồn vốn thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư những dự án, công trình trọng Điểm của địa phương sớm hoàn thành đưa vào sử dụng;

rà soát, giám sát chặt chẽ việc bố trí dự toán cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như khu kinh tế, khu công nghiệp, trong đó các dự án cơ sở hạ tầng có ý nghĩa phát triển kinh

tế - xã hội không chỉ đối với riêng địa phương mà còn đối với cả vùng, trước khi triển khai thực hiện cần chủ động lấy ý kiến tư vấn, giám sát từ các cơ quan trung ương, ý kiến phản biện của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các địa phương có liên quan để đảm bảo hiệu quả kinh tế chung của địa phương và cả vùng; chú trọng thực hiện nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, xử lý các tệ nạn xã hội;

b) Đối với dự toán chi bổ sung có Mục tiêu vốn đầu tư từ NSTW cho NSĐP được xây dựng căn cứ vào khả năng cân đối của NSĐP, tình hình thực hiện dự toán đối với các Khoản được

bổ sung có Mục tiêu từ NSTW cho NSĐP, căn cứ các chính sách, chế hộ hiện hành, các chương trình, nhiệm vụ quan trọng thực hiện theo cơ chế bổ sung có Mục tiêu từ trung ương cho địa phương, căn cứ Nghị quyết của Quốc hội về chương trình Mục tiêu quốc gia, chương trình Mục tiêu, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ĐTPT và Kế hoạch đầu tư công, xây dựng dự toán số bổ sung có Mục tiêu từ NSTW

c) Bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA trên địa bàn thuộc trách nhiệm của địa phương; chủ động tính toán, bố trí nguồn để xử lý dứt Điểm các Khoản nợ xây dựng công trình, các Khoản nợ huy động phải trả khi đến hạn

d) Bố trí dự toán chi ĐTPT từ nguồn thu tiền sử dụng đất để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án di dân, tái định cư, chuẩn bị mặt bằng xây dựng; chủ động phân bổ lập quỹ phát triển đất theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng

5 năm 2014 của Chính phủ: Nguồn vốn của Quỹ phát triển đất được ngân sách nhà nước phân bổ, bố trí vào dự toán ngân sách địa phương, được cấp khi bắt đầu thành lập, bổ sung định kỳ hàng năm; huy động từ các nguồn vốn khác gồm: Vốn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ hoặc ủy thác quản lý của các tổ chức quốc tế, tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước theo chương trình hoặc dự án viện trợ, tài trợ, ủy thác theo quy định của pháp luật

Căn cứ kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ phát triển đất khi thành lập, mức trích bổ sung cho Quỹ phát triển đất cụ thể hàng năm cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, sử dụng quỹ phát triển đất của Thủ tướng Chính phủ và các quy định khác có liên quan để quyết định thành lập hoặc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của

Trang 3

Quỹ phát triển đất đã được thành lập trước đây và quyết định cơ cấu tổ chức, nguồn vốn, cơ chế hoạt động của Quỹ phát triển đất cho phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế tại địa phương

Sử dụng tối thiểu 10% số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, lập cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24 tháng 8 năm

2011 và Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2013

- Điều chỉnh, bố trí đủ kinh phí từ ngân sách địa phương trong năm 2013 cho từng huyện, xã

để thực hiện cấp giấy chứng nhận gắn với chỉ tiêu cấp giấy chứng nhận đã giao; bảo đảm dành tối thiểu 10% tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để đầu tư cho công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên;

- Bổ sung nhân lực, tăng cường trang thiết bị kỹ thuật, bố trí đủ kinh phí cho Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận lần đầu và đăng

ký biến động đất đai, xây dựng và cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

đ) Đối với nguồn thu xổ số kiến thiết (XSKT):từ năm 2017 nguồn thu này được tính trong dự toán thu cân đối NSĐP, sử dụng cho chi ĐTPT trong đó: Các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên bố trí tối thiểu 60%, các tỉnh Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long

bố trí tối thiểu 50% số thu dự toán từ hoạt động XSKT do HĐND cấp tỉnh quyết định để đầu

tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề và y tế Các địa phương bố trí tối thiểu 10% cho Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Sau khi đã bố trí vốn đảm bảo hoàn thành các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực nêu trên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, số thu còn lại (nếu có) bố trí cho các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu và các công trình quan trọng khác thuộc đối tượng đầu tư của NSĐP Số tăng thu thực hiện từ hoạt động XSKT so với dự toán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giao (nếu có), địa phương được chủ động phân bổ chi đầu tư cho các công trình quan trọng, trong đó ưu tiên cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế và nông nghiệp, nông thôn, ứng phó với biến đổi khí hậu

e) Đối với các nhiệm vụ ĐTPT kết cấu hạ tầng theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ Mục tiêu nhiệm vụ và nhu cầu nguồn vốn đầu tư đã quy định, kết quả đã đầu tư, khả năng thực hiện, các địa phương chủ động xây dựng, tính toán nhiệm vụ, trong đó chủ động bố trí, sắp xếp NSĐP và các nguồn tài chính theo chế độ quy định để thực hiện các nhiệm vụ trên, giảm dần sự phụ thuộc các Khoản bổ sung từ NSTW g) Xây dựng dự toán chi ngân sách, các địa phương chủ động tính toán dành các nguồn theo quy định để thực hiện chi cải cách tiền lương

h) Xây dựng dự toán chi trả nợ gốc và lãi:

Theo quy định của Luật NSNN năm 2015:

- Đối với chi trả nợ lãi, phí và chi phí khác: bố trí thành một Mục chi riêng trong chi cân đối NSĐP.( điểm e điều 42)

- Đối với chi trả nợ gốc: trường hợp có hạn mức dư nợ huy động vượt mức giới hạn dư nợ vay theo quy định của Luật NSNN năm 2015, thì trong dự toán ngân sách và các năm tiếp theo phải dành nguồn thu NSĐP được hưởng theo phân cấp, giảm kế hoạch chi đầu tư công

để bố trí tăng chi trả nợ gốc, bảo đảm mức dư nợ vay không vượt quá mức dư nợ vay của địa phương theo quy định của Luật NSNN năm 2015

Trang 4

3 Bội chi NSĐP:

Căn cứ giới hạn dư nợ vay theo quy định của Luật NSNN năm 2015, dự kiến mức dư nợ thực tế đến hết năm 2016 và nhu cầu huy động vốn thêm cho ĐTPT và bố trí nguồn trả nợ, các địa phương đề xuất mức bội chi ngân sách cấp tỉnh

Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương( khoản 6 điều 7)

a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;

b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;

c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp

Căn cứ giới hạn dư nợ công, khả năng huy động vốn trong nước bố trí nguồn trả nợ, Bộ Tài chính sẽ đề xuất mức bội chi NSNN nói chung, trong đó có mức bội chi của NSTW và bội chi của ngân sách tất cả các địa phương, mức bội chi của từng địa phương (nếu có), để trình

cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của Luật NSNN năm 2015

Bội chi ngân sách địa phương: (khoản 5 điều 7)

a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;

b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương

để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước

Cùng với việc đề xuất phương án bội chi NSĐP theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 Luật NSNN năm 2015, các địa phương cần xác định tổng mức vay của NSĐP, bao gồm vay để bù đắp bội chi NSĐP và vay để trả nợ gốc của NSĐP; trong đó:

3.1 Bội chi NSĐP được bù đắp từ các nguồn sau:

a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và các Khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

b) Vay từ nguồn Chính phủ vay về cho ngân sách địa phương vay lại

3.2 Vay để bù đắp bội chi ngân sách quy định tại Khoản 3.1 nêu trên không bao gồm số vay

để trả nợ gốc

3.3 Ngân sách cấp tỉnh từng địa phương được phép bội chi khi đáp ứng đủ các quy định và Điều kiện sau:

a) Chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 7 Luật NSNN;

Trang 5

b) Bội chi ngân sách cấp tỉnh hằng năm không vượt quá mức bội chi ngân sách hằng năm được Quốc hội quyết định cho từng địa phương cấp tỉnh theo quy định tại Điểm c Khoản 5 Điều 7 Luật NSNN;

c) Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm ngân sách trước năm xây dựng dự toán, không phát sinh nợ quá hạn đối với các Khoản nợ vay phải thanh toán trong năm ngân sách trước năm xây dựng dự toán Trường hợp đặc biệt, Bộ Tài chính trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định;

d) Vay bù đắp bội chi NSĐP được huy động chủ yếu từ các Khoản vay trung và dài hạn Hằng năm, căn cứ diễn biến thị trường vốn, Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội quy định

tỷ lệ tối thiểu các Khoản vay bù đắp bội chi NSĐP có thời hạn vay trung và dài hạn;

đ) Khi so sánh với giới hạn dư nợ vay, số dư nợ NSĐP được xác định bao gồm dư nợ từ các nguồn vay: Vay Kho bạc Nhà nước, vay Ngân hàng phát triển Việt Nam, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay ngoài nước và các Khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật Số dư nợ NSĐP, bao gồm cả số vay bù đắp bội chi theo dự toán, không vượt mức dư nợ vay quy định tại Khoản 6 Điều 7 Luật NSNN năm 2015 e) Việc xác định số thu NSĐP được hưởng theo phân cấp lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn chi thường xuyên quy định Khoản 6 Điều 7 Luật NSNN năm 2015 trên cơ sở dự toán thu, chi NSĐP được Quốc hội quyết định của năm dự toán ngân sách

3.4 Chi trả nợ gốc các Khoản vay

a) Nguồn chi trả nợ gốc các Khoản vay, gồm:

- Số vay để trả nợ gốc được Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hằng năm;

- Bội thu NSĐP cấp tỉnh (được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng dự toán thu ngân sách cấp tỉnh và tổng dự toán chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương trong một năm ngân sách);

- Kết dư NSTW và ngân sách cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 1 Điều 72 Luật NSNN;

- Tăng thu, Tiết kiệm chi so với dự toán trong quá trình chấp hành NSNN theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 59 Luật NSNN;

b) Các Khoản nợ gốc đến hạn phải được chi trả đầy đủ, đúng hạn theo cam kết và hợp đồng

đã ký

c) Khoản chi trả nợ gốc phải được quản lý, hạch toán qua Kho bạc Nhà nước

II, Bình luận và lấy ví dụ thực tiễn về vai trò của Hội đông nhân dân cấp tỉnh trong xây dựng dự toán ngân sách địa phương

Chức năng nhiệm vụ quyền hạn của HĐND cấp tỉnh theo điểm b, c khoản 3 điều 19 luật tổ chức chính quyền địa phương về cơ cấu tổ chức nhiệm vụ quyền hạn hoạt động của HĐND cấp tỉnh

b) Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Quyết định chủ trương đầu tư, chương trình dự án của tỉnh theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định các nội dung liên quan đến phí, lệ phí theo quy định của pháp luật; các khoản đóng góp của Nhân dân; quyết định việc vay các nguồn vốn trong nước thông qua phát hành

Trang 6

trái phiếu địa phương, trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật;

Theo luật ngân sách nhà nước 2015 Điều 39

1 Căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương quy định tại Điều 37 và Điều 38 của Luật này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo nguyên tắc sau:

a) Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đối với từng lĩnh vực

và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, trình độ quản lý của từng vùng, từng địa phương;

b) Ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ các khoản: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất;

c) Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ;

d) Trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải có nhiệm vụ chi đầu

tư xây dựng các trường phổ thông công lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác

2 Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia do Chính phủ giao và các nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp ở địa phương

Luật NSNN mới đã thực hiện phân cấp, phân quyền khá đầy đủ, toàn diện, rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế: Thẩm quyền của Quốc hội được quy định tại Điều 19, theo đó Quốc hội quyết định bội chi NSNN, bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP, chi tiết từng địa phương

và quyết định nguồn bù đắp bội chi NSNN Luật NSNN mới đã quy định một số thẩm quyền cho ý kiến và quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về NSNN tại Điều 20 Bên cạnh

đó, Luật NSNN mới đã phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTW và NSĐP (Điều

35, 36, 37, 38), đồng thời giao HĐND cấp tỉnh căn cứ nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSĐP đã được phân cấp để quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp

ở địa phương theo các nguyên tắc cụ thể quy định tại Điều 39

Đặc biệt, HĐND có quyền giao tăng chỉ tiêu thu NSNN trên địa bàn Điều này phù hợp với thực tế hiện nay khi Thủ tướng Chính phủ thực hiện giao dự toán thu NSNN trên địa bàn cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Đối với HĐND cấp tỉnh, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, còn có nhiệm vụ, quyền hạn: Quyết định kế hoạch tài chính 05 năm gồm các nội dung: mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của kế hoạch tài chính 05 năm; khả năng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; thu, chi ngân sách địa phương, bội chi ngân sách địa phương và giới hạn mức vay của ngân sách địa phương; giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch; Bội chi ngân sách địa phương và nguồn bù đắp bội chi ngân sách địa phương hằng năm; Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương; Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật này và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương; Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; Quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách

ở địa phương; Quyết định cụ thể đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ; Quyết định các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển

Trang 7

kinh tế – xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương Chính phủ quy định chi tiết điểm này

Quan trọng là cấp tỉnh được quyền chủ động đáng kể trong việc giao nhiệm vụ thu cho các cấp địa phương bên dưới Về phía chi ngân sách, thẩm quyền chi tiêu trong một loạt hoạt động đã được giao cho chính quyền tỉnh, cũng như cấp huyện và cấp xã nhưng ở mức độ thấp hơn., chính quyền tỉnh được trao thêm nhiều thẩm quyền hơn trong việc ưu tiên nguồn lực, bao gồm cả quyết định phân bổ ngân sách cho các ngành khác nhau và cho chính quyền địa phương cấp thấp hơn, tỉ lệ chi tiêu được quyết định ở các cấp địa phương lên đến gần một phần hai lượng chi tiêu công Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là nước phân cấp chi tiêu mạnh nhất ở Đông Á, sau Trung Quốc và Nhật BảnTheo một thước đo đơn giản là tỉ lệ chi ngân sách được quyết định ở cấp địa phương, thì Việt Nam là một nước phân cấp rất mạnh Mặc dù có ý định phân cấp xuống cho chính quyền địa phương ở cấp thấp nhất, song nhiều nguồn kinh phí vẫn nằm dưới sự quản lý của chính quyền tỉnh chỉ có một số chương trình (ví dụ chương trình 135) cấp xã là cấp quản lý ngân sách Nguồn kinh phí được cân đối cho cấp tỉnh để huyện và xã sử dụng trên thực tế được chuyển xuống hai cấp này khác nhau rất nhiều, phụ thuộc vào địa phương Tình trạng này đang dần dần được cải thiện, mặc dù năng lực của chính

Nhìn chung, chính quyền tỉnh đã được trao quyền rất nhiều trong quá trình phân cấp, hơn rất nhiều so với cấp huyện và xã Nhiều cơ chế trách nhiệm giải trình hướng xuống dưới mạnh nhất – đáp ứng nhu cầu của người dân thông qua quá trình tham gia, tăng cường minh bạch

và giám sát – diễn ra ở cấp xã, theo quy chế “dân chủ cơ sở”, vấn đề này sẽ được phân tích sau trong phần này Song liệu những quan hệ trách nhiệm giải trình có tương ứng để đảm bảo rằng chính quyền tỉnh đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của địa phương một cách tốt nhất hay không? Ở cấp tỉnh, những hình thức quan trọng về trách nhiệm giải trình hướng xuống dưới

đã được xúc tiến., quy chế về minh bạch tài chính công đòi hỏi chính quyền địa phương phải công khai dự toán và sử dụng ngân sách nhà nước hàng năm, các khoản bổ sung từ ngân sách cấp trên, việc thu và chi phần “nhân dân đóng góp”, một hình thức thuế tự nguyện Ngoài ra còn có những cơ chế khác được thực hiện cũng có thể tăng cường được sự minh bạch của chính quyền cấp tỉnh, như bắt buộc kê khai thu nhập và tài sản đối với cán bộ cấp cao ở địa phương, và nghĩa vụ phản hồi yêu cầu cung cấp thông tin của người dân trong vòng 10 ngày Một mốc quan trọng về trách nhiệm giải trình của chính quyền tỉnh là việc trao cho các cơ quan dân cử, tức Hội đồng Nhân dân Tỉnh quyền phê duyệt phân bổ nguồn thu ngân sách địa phương cho các cấp thấp, các tiêu chí và cơ chế phân bổ, thu phí và lệ phí, đóng góp của người dân Công tác giám sát tài chính của chính quyền tỉnh cũng được tăng cường thông qua việc thành lập Kiểm toán Nhà nước Việt Nam với chức năng kiểm toán độc lập tất cả các mục thu chi ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngân sách địa phương Ngược lại, sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình ra quyết định sử dụng ngân sách tỉnh lại không mấy tiến

bộ đã có yêu cầu dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh phải được tham vấn rộng rãi với người dân, song vẫn chưa có những hướng dẫn cụ thể và rõ ràng Tuy nhiên, chương này cũng phê duyệt, và phải đảm bảo theo đúng biên chế và tiêu chí do trung ương quy định Tiền lương cán bộ cũng phải tuân theo hướng dẫn của chính quyền trung ương

Ví dụ thực tiễn

Tại phiên thảo luận tổ chiều 11/7, các đại biểu HĐND tỉnh không chỉ nhìn thẳng vào những vấn đề “nóng”, mà còn đi sâu phân tích và truy trách nhiệm các cơ quan quản lý Điều này cho thấy các đại biểu đã thể hiện được bản lĩnh và trách nhiệm cao khi đi đến tận cùng những vấn đề cử tri quan tâm

Trang 8

Tham gia thảo luận tại các tổ, các đại biểu thẳng thắn đề cập đến trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với từng vấn đề vướng mắc, tồn đọng, gây bức xúc mà cử tri quan tâm Ông Hoàng Hữu Hùng - Phó Chủ tịch HĐND huyện Đô Lương nêu: “Người dân yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước và đơn vị chủ đầu tư sớm công bố tác động môi trường ở Nhà máy Xi măng Sông Lam đối với khu vực xung quanh, bởi cử tri chưa an tâm về đảm bảo môi trường và cho rằng

có dấu hiệu môi trường bị ảnh hưởng; kèm theo những giải pháp khắc phục”

Cũng liên quan đến vấn đề môi trường, đại biểu Nguyễn Thị Lan Phó Trưởng ban Văn hóa

-Xã hội HĐND tỉnh nêu những tồn đọng chưa được giải quyết từ kỳ họp HĐND tỉnh thứ 3:

“Tình trạng ô nhiễm môi trường tại cảng cá Lạch Vạn “được” giải quyết rất chậm Vấn đề được cử tri kiến nghị đã lâu, HĐND tỉnh đã yêu cầu giải quyết từ đầu năm nhưng đến ngày 15/5/2017, Chi cục Bảo vệ môi trường, UBND huyện Diễn Châu mới có công văn ngày 7/6/2017 yêu cầu các bên liên quan xử lý” Đại biểu Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư Tỉnh

ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng chủ đầu tư Nhà máy Xi măng Sông Lam công bố kết quả tác động môi trường và huyện Đô Lương giám sát việc thực hiện cam kết của nhà máy

Tại tổ thảo luận số 2, bàn về vấn đề quỹ BHYT, đại biểu Phạm Thị Hồng Toan - Tổng Biên tập Báo Nghệ An đánh giá, việc thông tuyến trong khám chữa bệnh đã giúp nâng cao chất lượng của các cơ sở y tế và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân; tuy nhiên, hiện nay nổi lên vấn đề bội chi quỹ BHYT Đi vào cụ thể những bất cập trong xử lý của các ngành liên quan, nhấn mạnh nỗi lo xuất toán đang “bao trùm” lên các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh, đại biểu cho rằng, việc đặt vấn đề vượt trần, vượt quỹ với các cơ sở y tế là chưa thỏa đáng vì khi thông tuyến thì người có thẻ BHYT có quyền lựa chọn cơ sở y tế để khám, chữa bệnh

Mặt khác, ngành BHXH lo vượt quỹ, vượt trần, các bệnh viện lo đối phó làm sao khỏi bị xuất toán, nhưng ngành Y tế gần như chưa có động thái tham gia về chuyên môn mà đang để cho ngành BHXH, các bệnh viện tự thực hiện với nhau “Tỉnh, ngành Y tế phải vào cuộc rốt ráo việc này, trước hết là ổn định ở các bệnh viện trước nỗi lo xuất toán nhằm đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân” - đại biểu Phạm Thị Hồng Toan đề nghị

Quan tâm về chỉ số cải cách hành chính của tỉnh năm 2016 giảm 17 bậc so với năm 2015, đại biểu Trần Thanh Thủy - Giám đốc Viễn Thông Nghệ An đề nghị cần chỉ rõ ngành nào, địa phương làm "tụt" chỉ số cải cách hành chính; nghiêm khắc phê bình, gắn trách nhiệm các ngành, địa phương trong việc thực hiện cải cách hành chính Đại biểu đánh giá cao việc tỉnh

sẽ đánh giá xếp loại chỉ số cải cách hành chính của các địa phương, ngành nhưng đề nghị cần công bố bộ tiêu chí rõ ràng Đại biểu cũng cho rằng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính “Chúng ta có công cụ tốt nhưng các sở, ban, ngành không vào cuộc thì sự lãng phí lớn” - đại biểu Trần Thanh Thủy bày tỏ

Liên quan đến vấn đề xây dựng nông thôn mới, đại biểu Hoàng Danh Lai - Chủ tịch UBND huyện Quỳnh Lưu nêu lên vấn đề bất cập hiện nay là tình trạng nợ đọng nông thôn mới còn phổ biến, một số nơi có số tiền nợ khá lớn và băn khoăn liệu tỉnh có giải pháp nào để khắc phục! Đại biểu cũng cho rằng, hiện nay chỉ có 3 xã trong toàn tỉnh được đưa vào diện quy hoạch xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, trong đó có xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu)

Tuy nhiên, tỉnh chưa có cơ chế chính sách đặc thù đối với 3 xã này nên địa phương gặp khó trong việc hoàn thành mục tiêu Đại biểu Hồ Phúc Hợp - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy bày tỏ: “Trong vòng 1 năm, xoá nợ đọng chỉ đạt 100 tỷ đồng, chủ yếu là từ ngân sách của UBND tỉnh Trong khi đó, còn chưa tính đến những yếu tố phát sinh như phải duy trì bền vững các chỉ tiêu, nợ mới phát sinh Xây dựng nông thôn mới rồi gánh một cục nợ thế thì có phải nông thôn mới không?" và đề nghị UBND tỉnh và các cấp cần quan tâm đến vấn đề này

Trang 9

Vấn đề nông sản rớt giá ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nông dân được các đại biểu dành

sự quan tâm đặc biệt và thảo luận, phân tích một cách khách quan với cái nhìn tham chiếu từ nhiều phía Đề cập đến vấn đề thị trường nông sản, đại biểu Phạm Văn Hóa - Chánh Văn phòng HĐND tỉnh cho rằng “thị trường nông nghiệp của chúng ta mất kiểm soát toàn diện” Nêu băn khoăn tình trạng giá chanh leo thời điểm đầu năm 2017 rớt giá, chỉ còn 1/2 giá so với năm 2016, mặc dù cây chanh leo nằm trong đề án cây trọng điểm của tỉnh, đại biểu Lưu Văn Hùng - Phó Chủ tịch HĐND huyện Quế Phong đề nghị tỉnh cần có cơ chế, chính sách để đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững; trong đó cần quan tâm công tác quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh và thực hiện quản lý tốt quy hoạch, tránh phát triển tự phát Ông Hùng dẫn chứng, trước đây mô hình cây hành tăm được trồng ở huyện Anh Sơn thu lãi 100 triệu đồng/ha; sau đó, hành tăm được bà con Đô Lương, Nghi Lộc trồng ồ ạt, đến khi giá hành tăm quá rẻ các cấp, các ngành vận động "giải cứu" hành tăm Hay ở huyện Con Cuông có cây mây và cây đinh lăng hàng chục năm không hiệu quả, cần chấm dứt các

mô hình này để xây dựng mô hình nông nghiệp phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân

Đại biểu Đặng Thị Thanh - Phó Chủ tịch HĐND huyện Diễn Châu băn khoăn về việc thịt lợn, vịt giảm nhưng thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức giá cao Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Trần Đình Toàn lại chỉ ra: “Thực tế cho thấy nông sản sạch chăn nuôi theo phương pháp truyền thống vẫn tiêu thụ tốt, được giá Trong khi đó, chăn nuôi công nghiệp làm cho chất lượng sản phẩm kém, thị trường không chấp nhận, dẫn đến “khủng hoảng thừa”, mất giá Do

đó, cần chấn chỉnh và định hướng cho người nông dân sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường”

Cùng quan tâm vấn đề nông sản, một số ý kiến đi sâu phân tích một số nguyên nhân, bất cập, không chỉ có trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của người nông dân và một

số tổ chức liên quan Đại biểu Nguyễn Thị Nhàn - Phó Chủ tịch HĐND huyện Yên Thành cho rằng, các hợp tác xã cần nâng cao vai trò hoạt động sau chuyển đổi để làm tốt vai trò chức năng của mình, trong đó có vấn đề cung cấp phân bón cho nông dân đảm bảo chất lượng, giá cả Hội Nông dân không nên “lấn sân” kinh doanh, trong đó có cả dịch vụ cung cấp phân bón như hiện nay Đồng tình với vấn đề này, đại biểu Vương Quang Minh - Phó Chủ tịch MTTQ tỉnh cho rằng các cơ quan chức năng cần tăng cường vấn đề kiểm tra, quản

lý phân bón để sản phẩm phân bón đến tay người nông dân đảm bảo chất lượng, không để xảy ra tình trạng phân bón giả, kém chất lượng

Bên cạnh các vấn đề nói trên, các đại biểu còn thảo luận nhiều vấn đề cử tri toàn tỉnh quan tâm như tình trạng lao động việc làm còn nhiều bất cập, lãng phí; tình trạng tái lấn chiếm trật

tự hành lang ATGT; các chương trình hỗ trợ giảm nghèo chưa thực sự mang lại hiệu quả… Những vấn đề đại biểu HĐND tỉnh thảo luận tại 8 tổ đã được đại diện các sở ngành trao đổi, giải trình, tiếp thu Sự vào cuộc đầy trách nhiệm và bản lĩnh của đại biểu HĐND ngay từ phiên thảo luận tổ, hứa hẹn những nội dung thảo luận tại hội trường vào sáng ngày 12/7 và phiên chất vấn chiều ngày 12/7 thực sự sẽ làm cho kỳ họp thứ 4 HĐND tỉnh khóa XVII tiếp tục là những phiên làm việc đáp ứng kỳ vọng về chất lượng hoạt động của cơ quan đại diện cho quyền lợi người dân, do dân và vì dân

KẾT LUẬN

Trang 10

Trên đây là một vài phân tích bình luận về vai trò của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong xây dựng dự toán ngân sách địa phương theo quy định luật ngân sách nhà nước 2015, qua bài viết giúp hiểu thêm về vai trò của HĐND cấp tỉnh.

Ngày đăng: 25/08/2022, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w