DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2 AUC Diện tích dưới đường cong area under the curve 3 Cmax Nồng độ tối đa của dược chất trong huyết tương 4 Tmax Thời gian đạt nồng độ tối đa củ
TỔNG QUAN
Vài nét về progesteron
Hình 1.1.Công thức cấu tạo của progesteron
- Khối lượng phân tử: 314,47 g/mol
- Danh pháp: Pregn-4-en-3,20-dion
- Lần đầu tiên, năm 1934, A Butenandt chiết được từ vật thể vàng của lợn [1]
1.1.2 Tính chất lý hóa a) Tính chất vật lý:
- Tinh thể không màu hay bột kết tinh trắng hoặc gần như trắng, đa hình [2]
- Nhiệt độ nóng chảy: 126-131 o C, dạng đa hình chảy ở 121 o C
- Độ tan: tan rất ít trong nước (7,00 – 8,81 mg/l), dễ tan trong alcol, ether, cloroform và dầu thực vật [1]
- Hệ số phân bố dầu nước: log P = 3,87 b) Tính chất hóa học:
- Chức ceton: phản ứng Zimmermann cho màu đỏ tím
- Phản ứng tạo tủa dioxim progesteron
Quá trình hấp thu progesterone phụ thuộc vào đường dùng thuốc Nếu progesterone được hấp thu qua đường tiêu hóa, nó sẽ trải qua sự chuyển hóa lần đầu ở gan mạnh mẽ, dẫn đến sinh khả dụng thấp Ngược lại, đường đặt âm đạo có sinh khả dụng cao hơn, hấp thu nhanh và tránh chuyển hóa lần đầu qua gan, giúp duy trì nồng độ trong huyết thanh và phát huy tác dụng tại chỗ So với tiêm bắp, đường đặt âm đạo cũng tiện lợi hơn và không gây đau.
Progesterone qua đường hô hấp, ở dạng xịt mũi, đã được chứng minh là hiệu quả trong điều trị và không gây kích ứng Các đường dùng khác như đường trực tràng, tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch không thuận tiện, đặc biệt khi điều trị lâu dài, và nồng độ progesterone trong huyết tương ở các đường dùng này tương tự nhau.
Progesterone liên kết chủ yếu với protein huyết thanh, chiếm 96–99% tổng lượng progesterone, với albumin gắn khoảng 50–54% và transcortin khoảng 43–48%, còn 1–2% tồn tại ở dạng tự do hoặc liên kết yếu Progesterone có thể qua được hàng rào máu não và có mặt trong sữa mẹ [34].
Progesteron được chuyển hóa chủ yếu tại gan, 5α-reductase là enzym chính tham gia và chịu trách nhiệm khoảng 60–65% quá trình chuyển hóa Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương là 20 α-hydroxy-∆-4-α-prenolon và 5 α-dihydroprogesteron Một số chất chuyển hóa của progesterone được bài tiết qua mật và có thể bị khử liên hợp để chuyển hóa thêm tại ruột Thời gian bán thải của progesteron trong tuần hoàn rất ngắn, dao động từ 3 đến 90 phút trong các nghiên cứu khác nhau [32].
1.1.3.4 Thải trừ Ở gan, progesteron chuyển hóa thành pregnadiol và liên kết với acid glucuronic rồi đào thải qua nước tiểu dưới dạng prednandiol glucuronic [3]
Progesteron là một hormon steroid tự nhiên được tiết ra chủ yếu từ hoàng thể ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt; ngoài ra nhau thai, tinh hoàn và tuyến thượng thận cũng tiết ra một phần Progesteron tác dụng lên giai đoạn hai của chu kỳ kinh nguyệt.
- Tác dụng làm dày niêm mạc, tăng sinh và nở to tử cung
- Tăng nội mạc, tuyến tiết, thể đệm
- Tăng tiết niêm dịch chuẩn bị cho sự đính của trứng đã thụ thai
- Làm giảm co bóp tử cung, giảm đáp ứng của tử cung với oxytocin
- Phát triển tuyến sữa để chuẩn bị cho sự bài tiết sữa dưới ảnh hưởng của prolactin
Ở liều cao, thuốc gây ức chế LH tuyến yên, làm giảm phóng noãn và do đó có tác dụng chống thụ thai; đồng thời nó cạnh tranh với aldosteron tại receptor mineralocorticoid ở ống thận, dẫn đến tăng thải Na+ [3].
- Sảy thai nhiều lần, dọa sảy thai, băng huyết, băng kinh, rối loạn kinh nguyệt
- Các rối loạn ở thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh
- Chống thụ thai, điều trị một số ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú [3]
1.1.6 Một số chế phẩm trên thị trường
Bảng 1.1 Một số chế phẩm thị trường chứa PGT Đường dùng Chế phẩm Chỉ định Âm đạo
Gel đặt âm đạo Crinone 8% - Vô sinh do thiếu hụt PGT
- Dùng hỗ trợ trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở phụ nữ vô sinh do thiếu hụt PGT
Tiêm bắp Dung dịch Gestone
- Dùng kèm estrogen để bổ sung cho phụ nữ tiền mãn kinh
- Điều trị rối loạn kinh nguyệt
- Ngăn ngừa sảy thai và duy trì thai kì khi thiếu hụt PGT Đường uống Viên nang
- Sử dụng trong liệu pháp thay thế hormon
- Dùng kèm estrogen để bổ sung cho phụ nữ tiền mãn kinh
- Hỗ trợ điều trị các bệnh u lành tính ở tuyến vú, các bệnh đau vú do mất cân bằng hormon estrogen và PGT.
Hệ thống phân loại công thức lipid
Hệ phân phối thuốc dựa trên lipid (Lipid Formulation Classification System, LBF) là một hệ thống lỏng đồng nhất có khả năng mang thuốc ổn định Hệ thống phân loại các công thức dựa trên lipid (LBFs) được C W Pouton xây dựng mô hình từ năm 2000 và được bổ sung vào năm 2006 Hệ thống này được chia thành các nhóm như sau:
Bảng 1.2 Phân loại hệ phân phối thuốc dựa trên lipid
Tá dược Tỉ lệ trong công thức % (kl/kl)
Pha dầu (triglycerid hoặc hỗn hợp diglycerid& monoglycerid) 100 40-80 40-80