BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Tên đề tài NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHA ĐẾN MỘT.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu xác định mối tương quan giữa tỷ lệ pha xơ sợi polyester đến các tính chất cơ lý của vải dệt thoi len lông cừu pha polyester, cụ thể như sau:
- Thử nghiệm và phân tích các tính chất cơ lý của vải, xác định ảnh hưởng cuả tỷ lệ pha đến tính chất của vải
- Đề xuất phương án lựa chọn vật liệu phù hợp cho từng phân khúc sản phẩm, ứng dụng ngành may
- Xây dựng bảng mẫu vải dệt thoi lông cừu pha polyester và sản phẩm áo vest nam làm hiện vật tham khảo.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan, xác định rõ các tính chất cơ lý của vải len
- Phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ lệ thành phần pha trộn đến một số tính chất cơ lý của vải thành phẩm
- Tổng hợp và thống kê số liệu, đưa ra kết luận
- Chọn mẫu vải phù hợp để tạo ra sản phẩm sử dụng trong thực tế
- Nghiên cứu lý thuyết: Khảo cứu các tài liệu liên quan
- Nghiên cứu thực nghiệm: Thực nghiệm đo đạc các tính chất của vải theo tiêu chuẩn quốc gia
- Nghiên cứu khảo sát ý kiến chuyên gia và đối tượng sử dụng
- Tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel, SPSS.
Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
Đề tài xác định mối tương quan giữa thông số tỷ lệ xơ sợi pha polyester và một số tính chất của vải dệt thoi lông cừu pha polyester, từ đó lựa chọn ra mẫu vải có tỷ lệ pha và tính chất phù hợp các yêu cầu của đối tượng sử dụng tại Tp HCM
Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà sản xuất nhằm lựa chọn thông số tỷ lệ pha phù hợp cho sản phẩm dệt Đồng thời cũng là kênh tham khảo cho người thiết kế khi lựa chọn vải cho sản phẩm cụ thể.
Kết quả nghiên cứu
Đề tài đã xác định được ảnh hưởng của thông số tỷ lệ pha polyester đến một số tính chất của vải dệt thoi lông cừu pha polyester
Kết quả nghiên cứu được đánh giá và ứng dụng để lựa chọn mẫu vải phù hợp để ứng dụng may áo vest công sở nam theo tiêu chí của sản phẩm và thị hiếu của đối tượng sử dụng
7 Bố cục của bài báo cáo
Nội dung bài báo cáo bao gồm 2 phần
- Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
1.1 Khái niệm và đặc trưng của xơ len lông cừu
Len là một loại xơ thu được từ lông của động vật có vú như cừu, dê, thỏ, lạc đà Mặc dù nhân loại cũng đã từng sử dụng lông vũ làm vật liệu may mặc nhưng chúng không được gọi là len
Cừu là động vật được thuần hóa từ 9.000 – 11.000 năm trước, tuy nhiên nuôi cừu để lấy len có thể đã bắt đầu khoảng 6.000 năm trước Công nguyên ở vùng Trung Cận Đông và hàng may mặc bằng len chi xuất hiện sớm nhất vào 2.000 – 3.000 năm sau đó Vải len được phát hiện Châu Âu có niên đại 1.500 năm trước Công nguyên ở đầm lầy Đan Mạch
Trước khi phát minh ra lưỡi dao, kéo để cạo hay cắt lông trong thời kỳ đồ sắt, có lẽ len đã được con người ngắt ra bằng tay hoặc chải rụng khỏi thân súc vật bằng lược Nền văn minh châu Âu đầu tiên đã sử dụng lanh, len và da thú làm vật liệu dệt may cho các cư dân của mình, tại đây đã sớm hình thành các trung tâm thương mại giao dịch hàng vải len ngay từ thời trung cổ và hưng thịnh cho đến tận thế kỷ thứ XVIII
Từ thế kỷ XIX đến nay, do sự xuất hiện các loại xơ sợi mới có sức cạnh tranh cao nên trung tâm sản xuất xơ len của thế giới đã chuyển về châu Úc, nơi có điều kiện chăn nuôi cừu tốt hơn Tuy nhiên sản lượng đã giảm dần và chỉ còn chiếm tỷ trọng khoảng 3 % trong các loại xơ dệt Có trên 100 nước còn nuôi gia súc để lấy len mặc dù xu thế hiện nay đã chuyển qua mục tiêu chỉ lấy thịt
Phân loại xơ len theo những giống cừu khác nhau
Cừu là loại động vật cung cấp nhiều xơ len nhất trên thế giới hiện nay Cừu ăn cỏ và được thuần hóa từ xa xưa Con người đã lai tạo để có các giống tốt nhất cung cấp xơ cho ngành công nghiệp dệt may Những giống cừu tiêu biểu: Cừu cheviot, cừu merino, cừu rambouillet, cừu karakul, cừu romney, cừu Corriedale
Hình 1.1: Con cừu nuôi chủ yếu nuôi để lấy xơ Cừu Merino được chăn nuôi khắp nơi trên thế giới, chủ yếu dùng để lấy xơ dệt vải dùng trong may mặc Cừu Merino cho lông quăn và mềm với khoảng 100 sóng uốn trong 1 inch, chiều dài xơ trung bình 65 – 100 mm, đường kính xơ thường nhỏ hơn 24 am, hàng năm mỗi con cừu cho khoảng 3 – 6 kg len mỡ đối với giống Saxon Merino, có thể đến 18 kg len mỡ đối với giống Peppin Merino Trước đây thuật ngữ len Merino được dùng chỉ cho loại len lấy từ cừu Tây Ban Nha, nhưng ngày nay chất lượng len của cừu Merino của Úc, New Zealand cũng tương đương nên trong giao dịch hương mại từ Merino được dùng cho len được lấy ra từ con cừu Merino nói chung và chúng phải có độ mịn nhỏ hơn 25 𝜇m
Cừu Rambouillet là cừu Pháp được lai tạo từ giống cừu Merino của Tây Ban Nha và có kích thước, thể trọng lớn hơn cũng như cho chất lượng len cao hơn Cừu Rambouillet được phát triển ở Mỹ và Australia
Cừu Cheviot và cừu Romney có nguồn gốc từ Vương quốc Anh với kích thước lớn, chịu được khí hậu lạnh ẩm ướt hay nóng khô và khan hiếm thức ăn nên thích hợp cho các vùng phía Nam nước Úc cũng như ở New Zealand Xơ len dài từ 75 – 120 mm nhưng hơi thô (đường kính khoảng 27 – 33 𝜇m), ít xoắn, mỗi con cho khoảng 2,5 – 4,5 kg len mỡ trong một năm Hiện nay hai giống cừu này được nuôi nhiều ở New Zealand và là nguồn xuất khẩu thịt chủ yếu của nước này
Cừu Corriedale là giống lai giữa cừu Merino và cừu Lincoln, được nuôi nhằm mục đích lấy thịt và lấy lông có chất lượng trung bình, hiện đang phát triển nhiều ở Úc, New Zealand và Mỹ Đây cũng là giống cừu được nuôi phổ biến ở Uruguay Đường kính xơ từ 24,5 – 31,5 𝜇m, chiều dài từ 90 – 150 mm và có thể thu hoạch 4,5 – 7,7 kg xơ len mỡ/con/năm
Cừu Karakul là loại cừu gốc Trung Á, sống trong các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tương đối khắc nghiệt Ngoài việc khai thác xơ len, người ta chăn nuôi cừu Karakul chủ yếu lấy thịt và da Xơ len của cừu Karakul tương đối thẳng, thô (đường kính thường lớn hơn 30 𝜇m) và dài hơn 150 mm nên thường dùng để dệt thảm, vải phủ nội thất, thổ cẩm
Phân loại xơ len theo hình dáng cấu tạo
Người ta thu hoạch xơ len từ cừu bằng cách xén lông Thời gian xén có thể theo mùa hay tùy theo tập quán chăn nuôi Nếu hàng năm chỉ xén một lần thì len thu được có độ bền cao nhưng cứng và dài; Có thể sau 8 tháng hay sau 6 tháng thì xén, lúc đó lông sẽ mịn hơn nhưng ngắn và kém bền Ngoài len từ cừu sống, người ta còn sử dụng len cừu thịt cạo ra từ da và chúng được gọi là len chết Sau khi xén lông người ta được từng bộ lông cừu với tên gọi là len mỡ, chúng được chọn lựa và phân ra làm
4 loại chất lượng khác nhau dựa theo các tiêu chí như: độ quăn (crimp) tính theo sóng nhăn trên chiều dài 1 inch, độ mịn tính bằng đường kính xơ theo đơn vị 𝜇m; chiều dài chủ thể (mm), độ bền kéo đứt, độ đàn hồi, độ bóng, màu sắc và độ sạch
Tùy theo loại cừu, len mỡ có chứa khoảng 40 % khối lượng là mỡ (lanolin), bùn bẩn, da chết, mồ hôi, thuốc trừ sâu, cây cỏ, Lanolin và một số tạp chất được loại ra trong quá trình nấu với nước ấm cùng với chất tẩy, chất kiềm bằng thiết bị chuyên dùng Sau đó len được ngâm với acid sulfuric, rửa và sấy khô nhằm hóa than (carbonization) tất cả các tạp chất có nguồn gốc thực vật Sản phẩm sau cùng là len nguyên liệu hay len thương mại sẽ được đóng kiện đem đấu giá và cung cấp cho các nhà máy kéo sợi
Hình 1.2: Hình dáng cấu tạo của các loại xơ từ động vật a) Vảy xơ len nhìn trên kính hiển vi b) Các dạng xơ len nhìn trên kính lúp Trong ngành dệt may, lông động vật được chia làm bốn loại (xem hình 1.2b):