TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ SÀI GÒN TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG MỤC LỤC I Nêu rõ và giải thích nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp II Nêu và giải thích cải tiến quản trị doa.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ SÀI GÒN
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ
MÔI TRƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
I Nêu rõ và giải thích nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp.
II Nêu và giải thích cải tiến quản trị doanh nghiệp với mô hình business model casvas.
III Hãy phân biệt SWOT và TOWS và phân biệt cách sử dụng.
Trang 3Bài làm:
I Nêu rõ và giải thích nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp.
- Thứ nhất, những hạn chế cố hữu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam vẫn chưa được giải quyết một cách hiệu quả, dẫn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp.
Hạn chế về tầm nhìn chiến lược, năng lực quản trị, tính đổi mới sáng tạo, năng suất lao động là những yếu tố làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cụ thể:
+ Về tính năng động và đổi mới sáng tạo:
Năng lực kinh doanh và khả năng thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào ý tưởng của sản phẩm và đưa ý tưởng vào thực tế thị trường Đây là yếu tố cơ bản đầu tiên của mỗi doanh nghiệp, các yếu tố khác không thể thay thế và chỉ hỗ trợ được một phần nhỏ Một sản phẩm
có tính cạnh tranh không đơn giản là hơn các sản phẩm khác về giá cả,
Trang 4chất lượng Điều quan trọng là doanh thu phải đảm bảo bù đủ các chi phí, ngoài ra còn đem về lợi nhuận Điều này áp dụng cho cả các sản phẩm hàng hóa, các sản phẩm dịch vụ, các ngành công nghệ cao cũng như cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thủ công, cá thể Sẽ chẳng giúp ích được gì cho nhà doanh nghiệp nếu sản phẩm dù tốt hơn, rẻ hơn mà doanh thu vẫn không đảm bảo trang trải các chi phí cần thiết Như vậy tính cạnh tranh của một sản phẩm sẽ không phải do một kế hoạch, một đề án kinh doanh quyết định mà hoàn toàn do thị trường quyết định Rất có thể khi mới thành lập doanh nghiệp, sản phẩm có tính cạnh tranh thật nhưng sau đó không duy trì được lâu dài Doanh nghiệp nào không có sản phẩm có tính cạnh tranh thì nên rút lui sớm khỏi thị trường để hạn chế thiệt hại về vốn
- Thứ hai, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp còn kém.
Theo thông tin báo cáo tại Tờ trình số 83/TTr-BTC ngày 20/7/2018 của
Bộ Tài chính về đề nghị xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về xử lý tiền
nợ thuế, tiền chậm nộp hoặc tiền phạt chậm nộp của người nộp thuế đã phá sản, giải thể, không còn sản xuất kinh doanh và không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước, tính đến 31/12/2017, có 14.816 doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa điểm đăng ký nhưng không thực hiện thủ tục giải thể theo quy định Theo nhận định của Bộ Tài chính tại Tờ trình nói trên, một bộ phận chủ doanh nghiệp trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh đã có sự lựa chọn chưa phù hợp về ngành nghề, nguồn vốn
“mỏng”, chủ yếu là vốn vay ngân hàng; khi tình hình kinh tế gặp khó khăn, các doanh nghiệp này bị ảnh hưởng trực tiếp dẫn đến kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán nên đã chấm dứt hoạt động kinh doanh,
bỏ trốn để trốn tránh các nghĩa vụ về thuế và thanh toán các khoản nợ
- Quy luật cạnh tranh, thanh lọc, đào thải của thị trường
Trang 5Trong mọi nền kinh tế thị trường luôn có một tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp bị giải thể, phá sản; việc đào thải, thanh lọc là một quy luật khách quan của nền kinh tế Theo đó, những doanh nghiệp yếu kém, không đủ sức cạnh tranh sẽ bị loại bỏ để thay vào đó là những doanh nghiệp mới với những ý tưởng kinh doanh mới có chất lượng hơn Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, nền kinh tế Việt Nam lại là một nền kinh tế năng động, đang có nhiều triển vọng, khoa học công nghệ không ngừng phát triển như hiện nay thì sức ép đối với doanh nghiệp càng lớn, tính cạnh tranh, thanh lọc càng thể hiện rõ rệt
- Môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn tồn
tại những hạn chế, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp
Những kết quả cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, như: quy định pháp lý về đầu tư, kinh doanh vẫn còn những chồng chéo, bất cập; quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh vẫn là rào cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp; doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực như tín dụng, đất đai; hiện tượng nhũng nhiễu, gây khó dễ cho doanh nghiệp vẫn còn xảy ra
- Sử dụng quá nhiều nhân viên
Chi phí cho nhân viên ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn và gần như cố định với các doanh nghiệp Nếu không sử dụng và bố trí nhân viên một cách hợp lý thì việc trả lương là một gánh nặng đối với doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp có biến động xấu thì việc giảm kịp thời nhân viên sẽ cứu doanh nghiệp khỏi bị phá sản Có thể các nhà quản lý vĩ mô, người làm chính sách chế độ không thích thú điều này nhưng thực tế đã
Trang 6chứng minh các doanh nghiệp sớm giảm bớt nhân sự là những doanh nghiệp thành công Khi một doanh nghiệp thất bại vì có quá nhiều nhân viên, người ta không quan tâm vì lý do xã hội hay không có khả năng quản lý và điều hành nhân viên
- Doanh nghiệp bị nợ quá nhiều
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là khi mới thành lập, thường vay nợ quá nhiều, nhất là khi có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn có tính khuyến khích, hỗ trợ Nhiều doanh nghiệp nhận biết quá muộn rằng không phải lãi suất của tín dụng mà thực chất là tổng khối lượng tín dụng phải hoàn trả mới quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Các hợp đồng vay vốn dài hạn thường là khó khăn lớn cho doanh nghiệp khi quyết định nhầm lẫn nhưng khó có thể giải quyết ngay được Nhiều doanh nghiệp tính toán phiêu lưu, cho rằng sẽ được chiết khấu, tiết kiệm được nhiều thuế nếu tăng cường vay vốn để đầu tư mua sắm, thuê tài chính, thuê máy móc, xe
cộ Điều đó chỉ đúng khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi và lãi nhiều Khi gặp khó khăn, không tạo ra lợi nhuận thì gánh nợ và vốn vay
sẽ là đòn quyết định làm cho doanh nghiệp chóng bị phá sản
Trang 7-Nhà doanh nghiệp quá chú ý đến tiện nghi
Bất kể một tiện nghi nào thì nhà doanh nghiệp đều phải chi phí Các nhà kinh doanh thành công đều bắt đầu từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến tiện nghi Trước đây các nhà doanh nghiệp bắt đầu sự nghiệp kinh doanh phần lớn đều từ ngay căn hộ mình đang ở hay nhà kho, nhà để xe được tu sửa Bây giờ quá nhiều doanh nghiệp trẻ khởi sự lại thích tiện nghi ngay từ ban đầu, thuê những văn phòng, trụ sở đắt tiền, sang trọng Đó là chưa kể những tu sửa tốn tiền, mua sắm đồ dùng văn phòng cho hợp với sở thích của mình Họ quá thiên lệch, thậm chí nhầm lẫn khi cho rằng thế mới là cách tạo uy tín nhanh chóng cho doanh nghiệp của mình Thực ra họ ưa thích tiện nghi dường như quên mất rằng chính chất lượng dịch vụ và sản phẩm của doanh nghiệp mới tạo nên uy tín lâu dài của doanh nghiệp
- Chỉ nghĩ đến doanh số
Rất nhiều nhà doanh nghiệp chỉ mải mê nghĩ đến doanh số mà quên mất rằng thực ra mục đích kinh doanh là lợi nhuận chứ không phải doanh số Nhiều doanh nghiệp mới thành lập đã vội tự hào về sự phát triển kinh doanh, mở rộng qui mô nhanh chóng Đặc biệt thể hiện bằng một vài hợp đồng hay công trình lớn doanh nghiệp vội vã đầu tư dây chuyền lớn, hiện đại, tuyển nhiều nhân viên Nhưng kết cục lại đáng buồn doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm tổ chức và điều hành qui mô lớn hơn, nhiều vấn đề mới phát sinh mà chưa có kinh nghiệm Hơn thế, nhiều khi nhóm khách hàng nhỏ dễ bị sao nhãng, thậm chí bỏ rơi Khách hàng lớn và hợp đồng lớn thì không có Làm gì với số tài sản và nhân sự mới được đầu tư, tuyển nhận? doanh nghiệp rất dễ có nguy cơ phá sản trong những trường hợp như vậy Khi các doanh nghiệp lớn tăng doanh số, tăng thị phần, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó duy trì hoạt động tốt Bởi đó là chính sách kinh doanh phù hợp với các tập đoàn, các công ty quốc tế trường
Trang 8vốn Tất nhiên nếu không có doanh số thì không thể có lợi nhuận Nhưng không có nghĩa là doanh số càng cao thì lợi nhuận càng cao Sẽ rất nguy hiểm cho sự tồn tại của doanh nghiệp nếu doanh số tăng mà lợi nhuận thực tế lại không tăng tương xứng Nếu lợi nhuận vẫn như cũ thì doanh nghiệp phá sản chỉ còn là vấn đề thời gian vì doanh nghiệp sẽ không chịu nổi những chi phí tăng thêm
- Không lập quĩ dự phòng tài chính
Kể cả những nhà doanh nghiệp có tài nhất cũng không tránh khỏi có những lúc phán đoán sai diễn biến của thị trường hay có những lúc chịu bất lực trước một biến động mang tính rủi ro Những lúc đó, doanh nghiệp nhất thiết phải có những dự phòng tài chính nhất định, được tích lũy từ lợi nhuận những năm trước Kinh nghiệm cho thấy, nếu có biến động, tác động kinh tế lớn thì các ngân hàng, các nhà tài trợ cũng bị ảnh hưởng và họ cũng hạn chế cho vay Kể cả khi ngân hàng không bị ảnh hưởng thì họ cũng rất cẩn trọng và không đầu tư vào các lĩnh vực đang có rủi ro Có nguồn dự trữ tài chính, doanh nghiệp hoàn toàn chủ động, không phụ thuộc vào ngân hàng và tự mình vượt qua những lúc khó khăn, tránh được nguy cơ phải bán một phần hay toàn bộ doanh nghiệp
Trang 9- Quá tin vào người khác
Nhiều doanh nghiệp thất bại và phá sản chỉ vì một nguyên nhân đơn giản
là quá tin vào người khác Họ đủ các đối tượng, từ nhà tài trợ, đối tác, nhân viên của chính doanh nghiệp đến khách hàng Ví dụ, nếu quá tin vào ngân hàng khi bắt đầu đầu tư, nhưng nửa chừng ngân hàng lại quyết định không cho vay tiếp Quá tin vào nhân viên của mình, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những hậu quả bất ngờ, thậm chí phải nhờ pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp quá tin vào khách hàng cũng có thể bị từ chối nhận hàng, không chịu thanh toán đủ và đúng hạn Một doanh nghiệp khi hợp tác, liên kết kinh doanh với bạn hàng, đối tác thường quá tin tưởng, thậm chí phó mặc cho họ Thực ra cuối cùng, tất cả là do thiếu cẩn trọng, không có biện pháp phòng ngừa phù hợp Người chịu hậu quả chính là doanh nghiệp, thậm chí dẫn đến phá sản
- Mở rộng phát triển quá nhanh
Nhiều người nhầm lẫn giữa thành công và tốc độ mở rộng kinh doanh Đã
có nhiều trường hợp thất bại khi khởi nghiệp do công ty phát triển quá nhanh chóng Họ không thể chuẩn bị tốt nguồn nhân lực, tài chính cho hoạt động mở rộng Khi đó, doanh nghiệp sẽ khó đáp ứng được nhu cầu khách hàng Đồng thời nhân viên cũng bị quá tải với khối lượng công việc quá lớn
Tập trung vào tăng trưởng chậm nhưng ổn định là cách tối ưu nhất đối với các doanh nghiệp trẻ Khi đã có cơ sở dữ liệu khách hàng và dòng tiền lưu thông ổn định, bạn có thể đưa ra các quyết định chính xác về tốc
độ tăng trưởng cho doanh nghiệp
Trang 10II Nêu và giải thích cải tiến quản trị doanh nghiệp với mô hình business model casvas.
Business Model Canvas là một bảng gồm 9 ô mô tả các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp hoặc sản phẩm liên quan đến: giá trị cung cấp cho
khách hàng, hạ tầng, khách hàng, tài chính… Mục đích chính của nó
là hỗ trợ công ty hợp nhất các hoạt động bán hàng bằng cách minh họa các tiêu chí đánh đổi tiềm năng
bằng cách đơn giản hóa các bản chiến lược bán hàng dày cộp theo một cách trực quan và dễ nắm bắt, mô hình trên đã được hưởng ứng rộng lớn trong giới bán hàng vì lợi ích và hiệu quả mà nó đem lại hiện nay, rất nhiều công ty tại Việt Nam đã áp dụng mô hình bán hàng Canvas để phân tích tình hình công ty và tìm ra phương thức tạo lợi nhuận tối ưu
Trang 119 yếu tố trong Business Model Canvas cung cấp cho bạn một cái nhìn tổng quan về ý tưởng cũng như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Phân khúc khách hàng: Đây là yếu tố giúp doanh nghiệp xác định
được đối tượng khách hàng tiềm năng Những đối tượng này có thể
là thị trường ngách (niche market), thị trường đại chúng (mass market), thị trường hỗn hợp (multi – sided market)
Giải pháp giá trị: Các giá trị được doanh nghiệp đưa ra bắt buộc
phải dựa trên căn cứ nhu cầu và vấn đề của đối tượng khách hàng Tức là doanh nghiệp cần bán sản phẩm mà khách hàng cần
Các kênh truyền thông: Đây là cách thức đưa sản phẩm dịch vụ
đến với khách hàng Các kênh truyền thông phổ biến mà doanh
Trang 12nghiệp có thể sử dụng là kênh phân phối gián tiếp (đại lý bán hàng, cửa hàng của đối tác…), kênh bán hàng trực tiếp (đội bán hàng trực tiếp, gian hàng trên mạng, điểm bán hàng trực tiếp)…
Quan hệ khách hàng: Doanh nghiệp cần xác định các mối quan
hệ muốn thiết lập Đồng thời doanh nghiệp phải phát triển và duy trì mối quan hệ này với các đối tượng khách hàng
Dòng doanh thu: Đây là yếu tố mô tả nguồn lợi nhuận mà doanh
nghiệp thu được từ các đối tượng khách hàng
Nguồn lực chính: Nguồn lực chính là tài nguyên chiến lược quan
trọng của doanh nghiệp Để tạo ra được các giá trị đã nêu trên, bạn cần phải có nguồn lực chính để duy trì việc kinh doanh Đó có thể
là những nguồn lực tri thức, nguồn lực vật lý, nhân lực và tài chính
Hoạt động chính: Đây là yếu tố mô tả các hoạt động phát triển,
sản xuất cũng như cung cấp dịch vụ đến với phân khúc khách hàng
mà doanh nghiệp hướng cần triển khai để duy trì việc kinh doanh
Đối tác chính: Đây là yếu tố mô tả các đối tác, tổ chức hoặc các
nhà cung cấp sẽ giúp đỡ doanh nghiệp trong việc duy trì và phát triển kinh doanh Các đối tác chính bao gồm đối tác chiến lược giữa các công ty không phải là đối thủ của nhau, đối tác giữa các công ty là đối thủ của nhau…
Cơ cấu chi phí: Yếu tố này mô tả các chi phí mà doanh nghiệp cần
có để duy trì và phát triển kinh doanh
Mô hình kinh doanh Canvas không nhằm phục vụ cho một kế hoạch kinh doanh Thay vào đó, Canvas được sử dụng để tóm tắt và minh họa trực quan thông tin quan trọng nhất của mô hình kinh doanh
Trang 13Mô hình kinh doanh Canvas hợp để minh họa các mô hình kinh doanh hiện có, bất kể doanh nghiệp có mới hay không Canvas cũng thích hợp
để hình dung các mô hình kinh doanh mới cho các công ty khởi nghiệp,
vì nó giúp tổ chức và hợp nhất các ý tưởng xung quanh các chức năng chính của bạn Bên cạnh đó, bạn cũng cần lưu ý rằng mô hình kinh doanh Canvas nên được xem xét định kỳ, vì tất cả các yếu tố được liệt kê có thể thay đổi theo thời gian
Ứng dụng của mô hình bán hàng Canvas
Mô hình bán hàng Canvas thường được in trên một tờ giấy lớn để một đội nhóm có thể cùng suy nghĩ và thảo luận về các yếu tố trong kinh doanh Bên cạnh đó, công cụ này còn giúp nhân viên kinh doanh phát triển tư duy, sáng tạo, thảo luận và đo đạc mọi thứ một cách hiệu quả Dưới đây
là các ứng dụng của mô hình bán hàng Canvas:
hàng
tăng trưởng mới
Trang 14 Sáp nhập và mua lại (M&A).
Ví dụ về mô hình Business Canvas Model của Grab
Ưu điểm của Business Canvas Model
Business Canvas rất phổ biến với các chủ doanh nghiệp và những nhà lãnh đạo nhằm mục đích cải tiến mô hình kinh doanh Về căn bản có 3 ưu điểm chính
-Tập trung: con người đang loại bỏ 50+ trang giấy viết chiến lược bán
hàng truyền thống và ngày càng nhiều các công ty nổi tiếng trên thế giới
sử dụng
-Linh hoạt: Khi Mọi thứ được viết trên một trang giấy, ta có thể chỉnh
sửa và thử nghiệm Tất cả mọi thứ dễ dàng hơn rất nhiều
Trang 15-Bài bản: cộng sự của bạn sẽ mất ít thời gian để đọc và hiểu kế hoạch
kinh doanh của bạn hơn và họ có thể dễ tiếp nhận tầm nhìn của bạn hơn khi Tất cả mọi thứ được bày ra trên một trang giấy
III Hãy phân biệt SWOT và TOWS và phân biệt cách sử dụng.
Sự khác biệt chính giữa phân tích SWOT và TOWS là thứ tự mà các nhà quản lý quan tâm về điểm mạnh, điểm yếu, mối đe dọa và cơ hội trong việc đưa ra các quyết định chiến lược
SWOT là mô hình tóm tắt những điểm mạnh và điểm yếu chiến lược nội
bộ của chiến lược tiếp thị hoặc kinh doanh và các cơ hội và mối đe dọa chiến lược bên ngoài dành cho tất cả các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Ma trận TOWs xem xét không chỉ tình hình thông qua các điểm mạnh và điểm yếu bên trong cũng như các cơ hội và mối đe dọa bên ngoài, mà còn cho thấy bốn hộp để tạo ra các chiến lược để thành công trên thị trường.ét đẹp của TOWs – nó giúp xác định hướng đi trong tương lai thay vì chỉ tập trung vào hiện tại
-Trong phân tích TOWS, trọng tâm ban đầu là các mối đe dọa và cơ hội, điều này có thể dẫn đến các cuộc thảo luận quản lý hiệu quả về những điều xảy ra trong môi trường bên ngoài thay vì xem xét về điểm mạnh và điểm yếu của công ty