1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc

106 1,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội
Trường học Trường Đại học Xây dựng
Chuyên ngành Quản lý quy hoạch đô thị
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 27,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cấp bách của thực tiễn hiện nay, nhóm nghiên cứu đã chọn thực hiện đề tài: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nộ

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ 4

1 1 Khái niệm về phát triển đô thị bền vững 4

1.1.1 Phát triển bền vững nói chung 4

1.1.2 Phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV) 4

1.2 Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV 8

1 2.1 Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững 8

1.2.2 Yêu cầu đối với quá trình PTĐTBV 8

1.2.2.1 Phát triển kinh tế 8

1.2.2.2 Phát triển dân số lành mạnh 9

1.2.2.3 Quy hoạch xây dựng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị 9

1.2.2.4 Cung cấp đầy đủ các dịch vụ hạ tầng 9

1.2.2.5 Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên 10

1.2.2.6 Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hóa bền vững 10

1.2.2.7 Quản lý hành chính đô thị 10

1.2.2.8 Tài chính đô thị 10

1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững 10

1.3.1 Các nhà sinh thái 11

1.3.2 Các nhà ngân hàng 11

1.3.3 Các nhà quản lý 11

1.4 Thực tiễn về phát triển đô thị bền vững 11

1.4.1 Tình hình phát triển tại các đô thị trên thế giới 11

1.4.2 Mối quan tâm của các tổ chức quốc tế tới PTBV 12

1.5 Thực tiễn phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam 13

Trang 3

2.1.1 Về quy hoạch – kiến trúc đô thị 19

2.1.2 Quản lý đất đai xây dựng đô thị 21

2.1.3 Về giao thông 23

2.1.4.Môi trường đô thị 24

2.1.5 Quản lý nhà ở 25

2.1.6 Phát triển đô thị với sự tham gia của cộng đồng: 27

2.2 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững đô thị 29

2.2.1 Ở Vương Quốc Anh: 30

2.2.2 Ở Mỹ 32

2.2.3 Bộ chỉ tiêu PTBV Malaysia 34

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu PTBV của Trung Quốc: 40

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ TÍNH BỀN VỮNG TRONG PHÁT TRIỂN CÁC ĐÔ THỊ MỚI TẠI HÀ NỘI 44

3.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội có ảnh hưởng đến thực trạng phát triển các khu đô thị mới 44

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển khu đô thị mới tại Hà Nội 44

3.1.2 Các điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội 47

3.1.3 Thực trạng các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội 49

3.1.3.1 Quy mô các khu đô thị mới 49

3.1.3.2 Tình trạng vi phạm quy hoạch và các tiêu chuẩn xây dựng 51

3.1.3.3 Tình trạng thiếu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội 52

3.1.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội 56

3.1.5 Những vấn đề đặt ra cần tháo gỡ, cần giải quyết trong thời gian tới 56

CHƯƠNG IV: ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC ĐÔ THỊ MỚI TẠI HÀ NỘI 57

Trang 4

4.1.2.Đối tượng 57

4.1.3 Thời gian 57

4.1.4 Đại điểm và quy mô 57

4.2 Thực tế sau khi điều tra, phỏng vấn người dân tại các khu đô thị mới 58

4.2.1 Vấn đề môi trường 58

4.2.1.1 Chất lượng không khí 58

4.2.1.2 Mức độ tiếng ồn 59

4.3 1.3 Rác thải 60

4.3 1.4 Cấp thoát nước 61

4.1 1.5 Giao thông 63

4.1.1.6 Mức độ che phủ và diện tích m2 đất/người 65

4.2.2 Xã hội 66

4.2.2.1 Giáo dục 66

4.2.2.2 Y tế 68

3.2 2.3 Dịch vụ 69

3.2.2.4 Quản lý 70

3.2.3 Kinh tế 71

3.2.4 Các mặt khác 73

CHƯƠNG V:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU ĐÔ THỊ MỚI CỦA HÀ NỘI 75

5.1 Định hướng phát triển bền vững cho các đô thị tại Việt nam 75

5.2 Phương hướng phát triển đô thị bền vững 78

5.3 Các mục tiêu phát triển bền vững các khu đô thị mới của Hà Nội trong thời gian tới 80

5.4 Các giải pháp cơ bản đẩy mạnh phát triển bền vững các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội 81

Trang 6

Bảng 3.1: Quy mô dân số Hà Nội qua các năm 47

Bảng3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hà Nội giai đoạn 1996 – 2009 48

Bảng 3.3: Biểu đồ đánh giá về quy mô 131 khu đô thị mới tại Hà Nội (tính đến tháng 7 năm 2009) 50

Bảng 3.4: Số lượng trường học tại một số khu đô thị mới ở Hà Nội 54

Bảng 4.1 Thống kê số phiều điều tra tại mội khu đô thị 57

Bảng 4.2 : Kết quả điều tra về chất lượng không khí 58

Bảng 4.3: Biểu đồ đánh giá của người dân về chất lượng không khí 59

Bảng 4.4: Kết quả điều tra về tiếng ồn 59

Bảng 4.5: Biểu đồ đánh giá mức độ tiềng ồn 59

Bảng 4.6: Kết quả điều tra về rác thải 60

Bảng 4.7: Biểu đồ đánh giá về lượng rác thải 61

Bảng 4.8: Kết quả về cấp thoát nước 62

Bảng 4.9: Biểu đồ đánh giá cấp thoát nước 62

Bảng 4.10: Kết quả về giao thông 63

Bảng 4.11: Biểu đồ đánh tình trạng giao thông 64

Bảng 4.12: Kết quả về mức độ lấp đầy đô thị 65

Bảng 4.13:Biểu đồ mức độ che phủ 65

Bảng 4.14: Kết quả về diện tích căn hộ 66

Bảng 4.15:Biểu đồ diện tích căn hộ 66

Bảng 4.16: Kết quả về giáo dục 67

Bảng 4.17: Biểu đồ về giáo dục đào tạo 67

Bảng 4.18: Kết quả về y tế 68

Bảng 4.19:Biểu đồ số lượng cơ sở y tế 68

Bảng 4.20: Kết quả về dịch vụ 69

Bảng 4.21:Biểu đồ dịch vụ 70

Trang 7

Bảng 4.25: Các vần đề khác 73 Bảng 4.26:Biểu đồ sức lan tỏa của đô thị 73

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Cách đây khoảng 20 năm, quá trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra ở Việt Nam, và trong khoảng 10 năm trở lại đây, đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ và nhanh chóng Năm 1990, tỷ lệ đô thị hoá mới đạt khoảng 17-18%, đến năm 2000, con số này đã là 23,6% và hiện nay đạt 28% Dự báo, năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam sẽ đạt khoảng 45% Trong xu thế đó, cùng với thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất Ước tính đến năm

2011, tỷ lệ đô thị hóa đạt ở Hà Nội là 35 - 40% và nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm

2020 Song song với quá trình này là sự gia tăng dân số tại thủ đô Năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000 lên được 2,67 triệu thì đến năm 2009 đã đạt tới con số 6,5 triệu dân Như vậy trong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng 4 triệu người, tạo sức ép lớn cho thành phố về vấn đề nhà ở cũng như các tiện ích xã hội phục vụ dân cư

Để đáp ứng tốc độ đô thị hóa, đồng thời giải quyết bài toán nhà ở cho dân cư, một trong các giải pháp được thành phố Hà Nội đưa ra là xây dựng các khu đô thị mới Tính đến giữa năm 2010, trên địa bàn thành phố có khoảng hơn 200 dự án đô thị mới, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha, và đang có xu hướng tăng mạnh trong tương lai

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các khu đô thị mới này Đó là tình trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá dày, thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâm chăm sóc sức khỏe,công viên, trường học, hệ thống giao thông công cộng; ô nhiễm môi trường nước, không khí, thu gom và xử lý rác thải và nhiều vấn đề khác liên quan đến công tác quản lý

Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thị hiện nay, còn rất nhiều vần đề bất cập như đã nêu Chỉ có con đường duy nhất để cải thiện tình trạng trên là phát triển bền vững các đô thị (PTĐTBV) Phát triển đô thị bền vững là mục tiêu mà các quốc gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam Hà Nội, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước thì quá trình phát triển bền vững các đô thị là một tất yếu khách quan

Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiện trạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất cập để có hướng phát triển trong tương lai Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững các đô thị để

từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp phát triển các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội là hết sức cần thiết.Với mong muốn đóng góp vào việc giải quyết một vần đề

Trang 10

cấp bách của thực tiễn hiện nay, nhóm nghiên cứu đã chọn thực hiện đề tài: Phát

triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội

2.Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của nhóm hướng tới hai mục tiêu chính là nghiên cứu các kinh nghiệm PTBVDT trên thế giới, đồng thời phát hiện các vấn đề đang tồn tại ở các khu đô thị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội, và trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp cũng như các kiến nghị để khắc phục và phát triển các khu đô thị này

3.Đối tượng nghiên cứu

- Thực tế tình hình phát triển đô thị bền vững trên thế giới, các nghiên cứu báo cáo về PTĐTBV

- Thực trạng PTĐTBV tại Hà Nội

4.Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề

- Về mặt nội dung: Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện phát triển bền vững đô thị

- Về mặt không gian: Nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra thực tế tại 5 khu đô thị mới: Khu ĐTM Định Công, KĐTM Đại Kim, KĐTM Linh Đàm, KĐTM Lĩnh Nam, KĐTM Nam Trung Yên và KĐTM Trung Hòa Nhân Chính

5 Phương pháp nghiên cứu

* Tổng quan, phân tích, tổng hợp các tài liệu, báo cáo trong và ngoài nước về PTBV,PTBVĐT

+ Phương pháp thống kê phân tích tổng hợp: sử dụng số liệu thống kê về phát triển đô thị mới tại Hà Nội

+ Phương pháp điều tra xã hội học ( phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp… ) các số liệu thu thập được qua điều tra được nhóm tiến hành xử lý, phân tích bằng phần mềm excel

* Nguồn số liệu: nhóm nghiên cứu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp + Các số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo của các Bộ, Viện, phòng ban, các cuộc hội nghị hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước;

+ Các số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát tai các khu đô thị

Trang 11

6 Kết cấu, nội dung của đề tài

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm các chương sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững đô thị

Chương II: Kinh nghiệm phát triển bền vững đô thị và đánh giá phát triển bền vững các đô thị trên thế giới

Chương III: Thực trạng phát triển và tính bền vững trong phát triển các đô thị mới tại Hà Nội

Chương IV: Điều tra mức độ phát triển bền vũng các đô thị mới tại Hà Nội

Chương V: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phát triên các khu đô thị mới của Hà

Trang 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG ĐÔ THỊ

1 1 Khái niệm về phát triển đô thị bền vững

1.1.1 Phát triển bền vững nói chung

Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm1987 trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới (Brundtland Commission 1987) Khái niệm này cho rằng sự phát triển phải thỏa mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai, phải đáp ứng cả yêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường Năm 1991 Ngân hàng châu Á (ADB) xác định thêm nội dung của phát triển bền vững, nhấn mạnh thêm khả năng của thế

hệ hiện tại đáp ứng cho các nhu cầu của các thế hệ tương lai Kể từ đó một phương pháp phát triển mới được định hình và được chấp nhận rộng rãi

Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sản xuất phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngày nay phải có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc để lại những di sản và tài nguyên có giá trị Phương thức phát triển mới này được xây dựng với nội dung bao gồm ba vế phát triển kinh tế, phát triển môi trường và phát triển xã hội, là sự tổng hợp của các chỉ tiêu chủ yểu về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và nhất là hướng tới tương lai

1.1.2 Phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV)

Cho đến này,chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô thị Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên cứu.Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có những quan điểm khác nhau Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được trình bày rất đa dạng

Quan điểm của thế giới

-Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổ chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bền

vững:

Trang 13

"Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các khu vực đô thị"

Phát triển đô thị bền vững trên thực tế được định nghĩa chi tiết hơn tùy theo từng khu vực địa lý, trình độ phát triển và góc nhìn

Phát triển đô thị bền vững cũng được xem xét dưới một thuật ngữ khác, đó là

“phát triển cộng đồng bền vững” theo đó:

"Phát triển cộng đồng bền vững là năng lực đưa ra quyết định phát triển tôn trọng mối tương quan giữa ba khía cạnh – kinh tế, sinh thái, và bình đẳng:

Kinh tế - Hành vi kinh tế cần đem lại những điều tốt đẹp chung cho cả cộng

đồng, có thể tự làm mới, và tạo ra tài sản và có khả năng tự túc

Sinh thái – Con người là một phần của tự nhiên, tự nhiên có những giới hạn,

và cộng đồng phải có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng các tài sản thiên nhiên

Bình đẳng – Cơ hội tham dự hoàn toàn trong các hoạt động, lợi ích, và quá

trình ra quyết định của một cộng đồng."

(Swisher, Rezola, & Sterns; 2009)

-Trung Tâm môi trường khu vực miền Trung và Đông Âu ( REC), một tổ chức quốc tế với nhiệm vụ trợ giúp trong việc giải quyết các vần đề môi trường, trong đó có phát triển đô thị bền vững đã đưa ra các quan điểm khác nhau về phát triển đô thị bền vững:

(http://archive.rec.org/REC/Programs/Sustainablecities/)

* Ấn Độ, một quốc gia đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hóa hàng đầu Châu

Á đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững:

"Một cộng đồng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứng nhu

cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai Nó tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và một cuộc sống chất lượng tốt hơn cho tất

cả cư dân của nó bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và phát huy tối đa hiệu quả, và phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nền kinh tế địa phương "

Trang 14

* Quan điểm của Argentina về phát triển đô thị bền vững

“ Một thành phố bền vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế

và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai”

* Theo Viện Môi Trường Stockholm của Thụy Điển, một thành phố bền vững

có thể được định nghĩa là "một thành phố tại đó tiền hành các hành động được đề

ra bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triên các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai"

Quan điểm của Việt Nam về phát triển đô thị bền vững:

- Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị-Nông Thôn-Bộ Xây Dựng (Dự án VIE),trên

cơ sở các khái niệm về PTBV, một phạm trù PTĐTBV đô thị cũng được xây dựng mang tính đặc thù hơn.Nhìn chung PTBV đô thị tập trung giải quyết các vần đề sau:

* Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị

* Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội

* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ

ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị

Như vậy PTĐTBV luôn đồng hành với PTBV nói chung.Đương nhiên,theo

ý nghĩa này, PTĐTBV không bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnh vực Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theo cách nhìn nhận mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là:

 Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông qua việc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia Hình thành thị trường nhà ở với những chức năng đầy đủ và thích hợp Huy động sự tham gia của cộng đồng Cải thiện và đảm bảo tính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất Cải thiện việc huy động tài chính nhà ở Và cung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản

 Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo bất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết được 3 tiều chí quan trọng này Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về

Trang 15

phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với người nghèo Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình

 Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị Cải tiến công tác tiếp cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường Bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững

 Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả Điều ấy có nghĩa, các nhà chức trách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trong công cuộc phát triển kinh tế cho địa phương mình, cho đô thị mình Tuy nhiên, năng lực của chính quyền địa phương nói chung còn rất hạn chế Vì thế việc nâng cao năng lực cho chính quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc PTBV kinh tế địa phương

 Quản lý và điều hành đô thị theo các tiêu chí: Khuyến khích tư vấn thảo luận

và đối thoại giữa cộng đồng, những người có liên quan đến các quyết định, sự ưu tiên và sở hữu Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để xây dựng các tiêu chí đánh giá.Nâng cao năng lực thông qua việc chia sẻ kinh ngiệm và thông tin.Hình thành mạng lưới truyền thông liên kết người dân với chính quyền địa phương, chính quyền quốc gia và toàn cầu

-Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam (Ashui), đã định nghĩa về phát triển đô

thị bền vững như sau:” Mối quan hệ hữu cơ,mật thiết giữa: A) Kinh tế đô thị;B) Văn

hóa xã hội đô thị;C) Môi trường-Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản lý đô thị”

Tóm lại, PTĐTBV là một lĩnh vực đặc thù, PTĐTBV cần sự phối hợp phát triển đa nghành, đa cấp và của đại bộ phận dân cư PTĐTBV thể hiện một cách thức suy nghĩ và một hướng giải quyết về đô thị hóa mà trong đó việc xây dựng các đô thi sẽ được diễn giải trên cơ sở duy trì những hiểu biết về kinh tế,văn hóa và bảo vệ môi trường PTĐTBV là nền tảng vững chắc để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó có thể hiểu một cách đơn giản PTĐTBV là một cách sửa chữa những thiếu sót của quá trình đô thị hóa, trên cơ sở xem xét lại toàn bộ cách thức quy

Trang 16

hoạch xây dựng đô thị hiện nay và tìm ra một xu thế phát triển mới trường tồn trong tương lai

1.2 Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV

Mặc dù, mỗi quốc gia, mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau về PTĐTBV, nhưng tựu chung lại PTĐTBV phải đảm bảo các yêu cầu chung nhất

1 2.1 Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững

Nguyên lý mang tính quy luật của phát triển đô thị bền vững, đó là sự kết hợp tối ưu giữa các quy luật vận động của tự nhiên và các quy luật vận động kinh tế- xã hội của đô thị, nhằm xây dựng nên một môi trường nhân tạo (kỹ thuật), đảm bảo mối quan hệ hài hòa về: Kinh tế, xã hội và môi trường trong đô thị, vùng lãnh thổ

đô thị và ngoài vùng lãnh thổ đô thị theo những giai đoạn phát triển nhất định Điều

đó có nghĩa là: đô thị sẽ có những biến đổi về chất và lượng (quy mô) theo không gian và thời gian

Nguyên tắc bao trùm của phát triển bền vững là: thỏa mãn các nhu cầu phát triển của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai

Cụ thể, phát triển bền vững đô thị có các nguyên tắc cơ bản sau:

* Xu hướng phát triển của đô thị không làm thế hệ tương lai phải trả giá, bởi

sự yếu kém về: Chiến lược phát triển, quy hoạch và quản lý đô thị, nợ nần, suy thoái môi trường, cũng như các hậu quả xấu khác của thế hệ hiện tại để lại

* Đô thị phát triển cần bằng giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Nói một cách khác, nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển, đó là sự thay thế liên tục từ trạng thái cân bằng này đến trạng thái cân bằng khác

* Một đô thị chỉ phát triển bền vững trong mối quan hệ bền vững với vùng lãnh thổ đô thị, các vùng và các đô thị khác mà nó chịu ảnh hưởng cũng phát triển bền vững (thông qua các luồng trao đổi vật chất, thông tin, văn hóa )

1.2.2 Yêu cầu đối với quá trình PTĐTBV

1.2.2.1 Phát triển kinh tế

Đô thị cần được tính toán phát triển phù hợp với tiềm năng sẵn có và triển vọng phát triển kinh tế của địa phương.Cân đối vốn đầu tư theo khả năng tăng trưởng KT-XH theo từng giai đoạn/theo từng nhóm ngành/theo kế hoạch PTĐT ngắn và dài hạn đã được QHXDĐT được duyệt quy định, ngoài ra kinh tế đô thị cần được tính toàn sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên: đất đai, nguồn nước, năng lực và lao động đô thị

Trang 17

1.2.2.2 Phát triển dân số lành mạnh

Về yếu tố xã hội, đô thị cần được đánh giá đầy đủ về dân số lao động, tỷ lệ đô thị hóa, dòng dịch cư và xu hướng di dân, sức chứa tối đa, khả năng chịu tác động của thiên tài, tác động của địa chấn đến phát triển dân số đô thị Tăng cường quản lý dân số từ ngoài thành phố vào, điều chỉnh phân bố dân cư thúc đẩy phát triển dân số hài hòa với phát triển KT-XH và bảo vệ giữ gìn tài nguyên môi trường

1.2.2.3 Quy hoạch xây dựng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị phải đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồn tài nguyên để đánh giá đúng vị trí, chức năng, vai trò của từng đô thị Cân đối đất đai,cơ sở vật chất và tạo lập môi trường thích hợp cho người dân là chủ thể của đô thị được sống, làm việc và nghỉ ngơi tốt nhất để tái tạo sức lao động cao nhất cho xã hội

Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đô thị phải được lập theo hướng cân bằng giữa đô thị và nông thôn, giữa phát triển mới và cũ và có kế hoạch dài hạn với các khu đất dự phòng

Quy hoạch phải đề xuất được một hệ thống kết nối không gian tạo sự hấp dẫn cho đô thị (hấp dẫn mang cả ý nghĩa tạo vẻ đẹp cho đô thị và tạo sự hấp dẫn cho các nhà phát triển)

Đảm bảo đánh giá tác động môi trường cho các dự án quy hoạch cải tạo và quy hoạch PTĐT; đề xuất được các dự báo PTĐT ngắn và dài hạn đúng và đủ đối với điều kiện KT-XH-MT của địa phương

Việc xây dựng và cung cấp các dịch vụ này phải được thực hiện trên quan điểm tiết kiệm, chống hao mòn thất thoát, chống gây ô nhiễm môi trường và phải triệt để tuân thủ theo QHXDĐTBV đã được duyệt

Trang 18

1.2.2.5 Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên

Môi trường đô thị cần quan tâm xử lý môi trường ô nhiễm (gồm phòng chống

ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn, ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm tiếng ồn, điện tử, hóa chất độc hại và các chất phóng xạ)

Cải thiện môi trường sinh thái đô thị (gồm xây dựng các tuyền vành đai xanh

đô thị, tăng cường bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, tăng cường quản lý nguồn nguyên liệu sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng)

Tạo dựng môi trường cảnh quan, môi trường văn hóa, xã hội phù hợp với sinh thái địa phương và thể hiện rõ tất cả các giá trị vật chất và tinh thần của đô thị

1.2.2.6 Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hóa bền vững

Xã hội hóa công tác PTĐT trên cơ sở quan tâm nâng cao sự hiểu biết của chính quyền địa phương và cộng đồng về công tác PTĐT và ĐT hóa bền vững, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào công tác lập, thực hiện và quản lý quy hoạch, phát triển đô thị

1.2.2.7 Quản lý hành chính đô thị

Quản lý thực hiện PTĐT phải được phối hợp hai chiều từ cấp quản lý TW/quản lý địa phương đến người dân và ngược lại Đề xuất quy chế, gắn kết quy hoạch với thể chế quản lý hành chính công tại địa phương

1.2.2.8 Tài chính đô thị

Huy động và cân đối hợp lý các nguồn tài chính đô thị trên cơ sở tăng cường

sự tham gia của cộng đồng trong công tác QHXDĐT Ngoài ra quản lý PTĐT còn cần quan tâm điều chỉnh công tác quản lý hành chính và phân phối vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản theo định kỳ, hàng năm, 5 năm/lần và dài hạn

Các nội dung trên phải được nồng ghép vào các chương trình lập quy hoạch và

kế hoạch hành động PTĐT và ĐT hóa bền vững quốc gia Đương nhiên theo ý nghĩa này, PTĐT và ĐT hóa bên vững phải được thực hiện cả theo định hướng của nhà nước và cũng rất cần các chương trình hành động thể hiện sự đồng tình ủng hộ của đông đảo các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng

1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững

Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiều nhà khoa học, dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra các tiêu chí đánh giá khác nhau về phát triển đô thị bền vững

Trang 19

1.3.1 Các nhà sinh thái

Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững như sau:

- Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt bằng;

- Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;

- Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;

- Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị;

- Khuyến khích tiết kiệm nước;

- Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;

- Tái sinh vật liệu phế thải

1.3.2 Các nhà ngân hàng

Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính Theo họ, phát triển đô thị bền vững có 4 tiêu chí:

- Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;

- Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;

- Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);

- Quản lý đô thị tốt

1.3.3 Các nhà quản lý

Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:

- Lấy chỉ tiêu HDI để đánh giá đô thị chứ không dựa vào quy mô dân số, kinh

tế hay xây dựng như trước đây;

- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;

- Sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý

1.4 Thực tiễn về phát triển đô thị bền vững

1.4.1 Tình hình phát triển tại các đô thị trên thế giới

Phát triển đô thị bền vững đã có hơn 30 năm trước Tuy nhiên mức độ phát triển đô thị bền vững phụ thuộc vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia Đối với các nước phát triển công nghiệp hóa cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật… tỷ lệ dân tập trung tại các đô thị trên 70% thì xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật PTĐTBV đã đạt được mức độ cao và từng bước đáp ứng được các yêu cầu về PTĐTBV

Như chúng ta đã thấy đô thị phản ánh cả hai mặt tốt và xấu Cái được hay không được là ở chỗ nó sẽ trở nên tốt hay xấu Thực tế cho thấy sự phát triển tốt hay xấu

có ảnh hưởng rất nhiều đến người dân đô thị Ngày nay, hiện đại hoá ngày càng

Trang 20

được phổ cập và lan rộng, không gian đô thị ngày càng được nâng cấp cải tạo và khuyếch chương Ví dụ từ năm 1980 đến 1990, dân số châu Á tăng rất nhanh, hiện chiếm khoảng 62% dân số thế giới Trong đó có 990 triệu người sống ở đô thị và trong tương lai đến 2020 con số này sẽ là 2,4 t ỷ, tại Châu Á sẽ có nữa số dân sống

ở các đô thị (Johanna Son,1995) Nhìn lại thời điểm những năm 1950, toàn thế giới chỉ có 83 thành phố có dân số 1 triệu người, đến nay con số này đã tăng lên 280 và vượt 500 tại thời điểm 2015

Ngoài ra cũng còn nhiều thống kê khác cho thấy giai đoan từ 1950 –1990 dân số

ở các nước chậm phát triển đã tăng gấp 5 lần, trong đó dân số đô thị chiếm 40% (Robert D Kaplan, 1996) Cụ thể ví dụ, năm 1990 Trung Quốc có 467 thành phố lớn nhỏ, 2000 tăng lên thành 660 thành phố lớn và 17.000 thị xã thi trấn, đưa dân số

đô thị của Trung Quốc thành 350 triệu người, theo dự kiến các thành phố lớn của Trung Quốc sẽ còn tăng lên trên con số 800 vào đầu thế kỷ 21 và sẽ có 630 triêu người dân sẽ sống ở đô thị Ba thành phố lớn nhất Trung Quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến là 3 thành phố nằm trong danh sách các thành phố cực lớn (Megar-City) của thế giới với dân số lớn hơn 10 triệu người (Antoaneta Bezlova,1997)

1.4.2 Mối quan tâm của các tổ chức quốc tế tới PTBV

Thế giới đã quan tâm tới phát triển đô thị như thế nào? Liên hợp quốc (UNESCO) quan tâm hàng đầu tới vấn đề con người tới việc thoả mãn nhu cầu sống

và làm việc cho con người tại các khu đô thị với 5 mục tiêu chính: (1) Nhằm vào các khu dân nghèo thành thị (2) Việc cung cấp dich vụ, hàng hoá, tái sử dụng các vật liệu và xử lý môi trường (3) Kiểm soát dân số (4) Vấn đề khí hậu môi trường

và những biện pháp giảm thiểu việc sử dụng nhiên liệu (5) Vấn đề tắc nghẽn giao

thông, chống ô nhiễm tiếng ồn và dich bệnh Bằng những nỗ lực lớn nhất, Liên hợp

quốc đã dành khá nhiều đầu tư tìm kiến giải phát PTBV cho toàn cầu, trước tiên đến với chiến lược bảo vệ môi trường (trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20), trên cơ sở xác định bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp sống còn của nhân loại Ngân hàng thế giới hưởng ứng chương trình hành động của LHQ bằng việc tập trung vốn

Trang 21

đầu tư bảo vệ sinh thái môi trường và tích cực giúp đỡ chương trình xoá đói giảm nghèo cùng lúc đó đầu tư cho văn hoá với các dự án bảo tồn di sản

Sau 1995, UNESCO bắt đầu dành những ngân quỹ lớn hơn cho các đề tài nghiên cứu về văn hoá - môi trường và PTBV Hiệu quả bước đầu thể hiện qua việc tái thiết lập lại các chính sách văn hoá đồng thời xúc tiến xem xét lại sự tồn tại của các nền văn hoá trên toàn thế giới Tại các hội nghị thượng đỉnh văn hoá được xem như là mục tiêu hướng tới phát triển, với hy vọng mang lại sự thịnh vượng cho mọi người ở tất cả mọi nơi trên trái đất Văn hoá sáng tạo và biểu lộ sự trưởng thành của các dân tộc vì vậy việc giữ gìn và củng cố “tính đa dạng văn hoá” là chiến lược mang tính toàn cầu (UNESCO,1998 )

Xung quanh chủ đề PTBV vẫn còn khá nhiều tranh cãi, Munn (1992) cho rằng PTBV là (1) Qua trình tiến hoá nhưng giữ vững được nhịp độ (2) Một số sự cơi nới được chấp nhận và đáng mong chờ (3) Cải thiện chất lượng cuộc sống Còn Giles Clarke (1994) thì cho rằng PTBV cho bất cứ đô thị nào trên thế giới phải tính đến: (1) Hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng nguồn lực phát triển mà vẫn duy trì được tiềm lực tự nhiên theo hoặc trên mức độ hiện tại của các của các đô thị (2) Bình đẳng xã hội trong việc phân phối của sự phát triển giữa chi phí và lợi ích (3) Tránh những thế chấp không cần thiết cho sự lựa chọn trong tương lai; Dovers (1996) nhấn mạnh vào mục tiêu chung của xã hội coi trọng đạo đức và tính công bằng giữa các thế hệ, coi trọng các chính sách và kế hoạch thực hiện cụ thể của chính phủ Hiện nay LHQ cùng các các tổ chức quốc tế đang dốc toàn lực nhằm hỗ trợ các quốc gia xây dựng các tiêu chí PTBV cho riêng họ

1.5 Thực tiễn phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam

Công cuộc đổi mới đất nước trong gần 20 năm qua chứng kiến nhiều thành tựu

vĩ đại của dân tộc ta, trong đó có sự nghiệp đô thị hóa Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trong nhiều năm dài, chúng ta đã dành được độc lập, thống nhất đất nước và tạo đà tăng trưởng kinh tế toàn diện làm cho bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày, nhất là ở khu vực đô thị với tỷ lệ tăng từ 17% lên đến 25% trong quá trình đổi mới đất nước

Theo số liệu mới nhất được Bộ Xây dựng công bố, tính đến tháng 12/2010, cả nước có 755 đô thị Tỷ lệ đô thị hóa hiện đạt gần 30% Ngoài 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, TP HCM), có 10 đô thị loại I, 12 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 634 đô thị loại V Đó là kết quả của một thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cùng các chính sách mở cửa, chính sách mới về nhà đất và sự

Trang 22

quan tâm của Nhà nước đối với công tắc quy hoạch, đầu tư cải tạo và xây dựng cơ

sở hạ tầng… giúp cho các đô thị nước ta phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nên một khối lượng xây dựng gấp hàng chục lần trước đây, đáp ứng được sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, trở thành những nhân tố tích cực và chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống đô thị nói riêng và phát triển kinh tế-xã hội nói chung Trên bình diện đó các đô thị đã đảm nhiệm được vai trò là trung tâm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các ngành nghề mới, trung tâm phát triển và chuyển giao công nghệ trong vùng, trung tâm giao lưu thương mại trong và ngoài nước ; thu hút đầu tư nước ngooài, phát triển kinh tế đối ngoại ; phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao đầu tư trong nước và phát triển nguồn lực ; giữ vai trò quan trọng làm tăng thu ngân sách cho Nhà nước hàng năm và góp phần to lớn đảm bảo an ninh, quốc phòng

Tuy nhiên so với các nước phát triển và một số nước đang phát triển trong khu vực, tỷ lệ đô thị hóa ở nước ta vẫn còn thấp, vị trí đô thị vẫn còn tình trạng lạc hậu

do kết quả của những năm chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với trình độ phát triển lực lượng săn xuất ở mức thấp làm cho nền kinh tế còn kém hiệu quả, bị tác động bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trong dài hạn, cộng thêm với một số quyết định chưa thật thích hợp trong chính sách quản lý và phát triển đô thị, đặc biệt

là sự tác động của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn đầu đã để lại những mâu thuẫn khá gay gắt ở các điểm sau:

* Cơ sở kinh tế-kỹ thuật hoặc động lực phát triển đô thị cò yếu, tăng trưởng kinh tế chưa cân đối vơi tăng trưởng dân số Điều này được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị trung bình hàng năm của đô thị tuy đạt 13-15 %, mỗi năm giải quyết được việc làm cho trên dưới 1 triệu lao động, nhưng hai ngành dịch vụ và công ngiệp - những động lực phát triển đô thị quan trọng nhất mới chỉ thu hút được 27,7% tổng số lao động xã hội.Trên thực tế tỷ lệ dân số trong đô tuổi lao động chưa

có việc làm tại các đô thị vẫn còn cao, nhất là các đô thị lớn chiếm khoảng 15-20%

Số người sống lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư; các khu định cư bất hợp pháp, kém chất lượng đang là một trong những vần đề xã hội và môi trường bức xúc, cũng phần lớn xảy ra ở các đô thị lớn

* Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị đang tiềm ẩn mối nguy cơ không nhỏ đối với vần đề an toàn lương thực

và thực phẩm Thực tế hiện nay cho thấy, trên 70% đô thị và dân số đô thị được phấn bố tại các vùng đồng bằng, ven biển, nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông

Trang 23

nghiệp cả nước, trong đó phân lớn là đất tốt cho năng suất sản phẩm cây lương thực cao Nếu giữ nguyên tình trạng phân bố dân cư như hiện nay thì quỹ đất nông nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗi năm khoảng 3.800 ha Một con số báo động cho vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm

* Cơ cấu tổ chức không gian hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nước mất cân đối, đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị-nông thôn, giữa phát triển-kém phát triển còn lớn và đang có xu thế diễn biến ngày một xấu hơn Thực tế cho thấy hình thức phân bố dân cư đô thi-nông thôn ở nước ta trước đây có mối quan hệ tương đôi gắn bó giờ đây đang trở nên cách biệt hơn về kinh tế, xã hôi, văn hóa, dịch vụ và nghỉ ngơi giải trí Tình trạng này đang duy trì một tỷ lệ cách biệt lớn giữa vùng chậm phát triển và chưa phát triển chiếm 82% diện tích tự nhiên cả nước, trong khi chỉ có 18% diện tích thuộc về phát triển Về toàn cục thế cân bằng chiến lược phát triển giữa ba vùng Bắc-Trung-Nam chưa được hình thành Điểm cốt yếu

là khu vực miền Trung vẫn chưa có được các trung tâm kinh tế lớn xứng đáng là đối trọng với các vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và miền Nam Trong khi đó hệ thống các đô thị trung tâm vẫn chưa hình thành đều khắp các vùng; có đến gần 50% dân số đô thị hiện nay đang tập trung tại 2 thành phố lớn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.Tại các vùng trung du, miền núi và hải đảo còn thiếu các đô thị-trung tâm tạo cực tăng trưởng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội trong vùng Ngược lại các đô thị lớn có sức hút mạnh đang tọa ra sự tập trung dân cư-công nghiệp quá tải, gây áp lực lớn cho môi trường sống dân cư ở các nơi đó Trên thực tế các đô thi nhỏ

và vừa hiện nay còn kém sức hấp dẫn, rất khó có khả năng đảm đương nhiệm vụ một cách trọn vẹn vị trí và vai trò trung tâm của mình trong mạng lưới đô thị của tỉnh,vùng cũng như Quốc gia

* Quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị chưa phản ánh thật đậm đà bản sắc văn hóa văn hóa dân tộc, các đặc thù sinh thái nhân văn và sinh thái tự nhiên trong quy hoạch và kiến trúc đô thị Điều này rất dễ nhận dạng khi không ít những đô thị miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng ven biển, vùng đồng bằng sông Cửu Long được nghiên cứu qua những đồ án quy hoạch và triển khai xây dựng không khác biệt nhiều nhau nhiều để thể hiện tính đặc thù trong các nét bản địa, tính đặc trưng văn hóa, nét kiên trúc địa phương, các biểu trưng về sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội Trong các giải pháp quy hoạch tổ chức không gian,

bố cục cơ cấu chức năng và xây dựng từng công trình thường chỉ hướng đến đô thị hiện đại mà quá ít đầu tư cho những đặc thù truyền thống của mỗi đô thị

Trang 24

* Cơ sở hạ tầng đô thị còn phát triển hạn chế không nhìn nhận đồng bộ trên diện rộng, nhiều nơi còn xây dựng manh mún và nói chung còn yếu kém, không đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thi tương xứng với điều kiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa Một số nét nổi bật về vần đề này cho thấy :

+ Về hạ tầng xã hội, sự hạn chế rõ rệt là diện tích nhà đô thị mới đạt bình quân 5,8m2 người Những tình trạng bất bình đẳng về nhu cầu ở còn chênh lệch cao làm cho một bộ phận dân cư vẫn phải sống trong điều kiện hết sức khó khăn Nhìn chung cơ sở hạ tầng xã hội công cộng và kỹ thuật ở các khu đô thị vẫn còn rất thiếu đồng bộ, nhiều nơi bị xuống câp nghiêm trọng đã tác động tiêu cực không ít đến chất lượng môi trường ở đô thị

+ Về hạ tầng kỹ thuật tuy đã có nhiều cố gắng trong đầu tư xây dựng, nhưng mọi hoạt động vận hành vẫn còn xa mới đáp ứng yêu cầu cuộc sống Hoạt động giao thông vẫn chưa thuận lợi trong lưu thông giữa đô thị với các vùng lân cận, với nông thôn ; chưa thỏa mãn được việc liên kết giữa ba môi trường làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi giải trí Tại các đô thị lớn giao thông công cộng còn chiếm tỷ lệ rất thấp

đã dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông phổ biến Nhìn chung tỷ lệ đất dành cho giao thông, nhất là giao thông tĩnh chỉ đạt dưới 5% diện tích đất đô thị.Cấp nước mới chỉ đảm bảo cho khoảng 47% dân cư đô thị, trong khi tỷ lệ thất thoát nước có nơi lên tới 45% Kế hoạch khai thác toàn diện nguồn nước cho phát triển công nghiệp, sinh hoạt đô thị chưa đặt ra hợp lý Trong khi đó mạng lưới thoát nước và

vệ sinh đô thị giải quyết chưa tốt và không triệt để cho từng khu vực đã dẫn đến nạn ngập úng, ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng, nhất là ở các thành phố lớn.Công tác phân loại thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn cúng đang là một vần đề bức xúc vì hiện nay mới có khoảng 50% chất thải rắn được thu gom và xử ly tại các thành phố lớn.Khu vức các thi xã, thị trấn thì hâu như chưa được xem xét để có giải pháp khắc phục

* Những vấn đề thời sự có tầm vĩ mô trong mối quan hệ vùng, đô thi với công tác bảo vệ môi trường đang là mối quan tâm lớn đối với sự phát triển bền vững của

cả nước Đó là việc tài nguyên thiên nhiên sử dụng chưa thật sự hợp lý thiếu kế hoạch đang làm cho quỹ rừng bị suy giảm rất nghiêm trọng, nhất là đồi với rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn nên khí hậu đang có nhiều biến động với thiên tai thường xuyên xảy ra và ngày càng đe dọa nghiêm trọng cuộc sống dân cư ở nhiều nơi Trong đó ở các vùng đô thị hóa, bộ khung bảo vệ thiên nhiên đang bị xâm phạm, không được quy hoạch và có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt đối với các vành

Trang 25

đai xanh,hệ thống công viên, vườn hoa, mạng lưới hồ điều hòa… Tiêu chuẩn đất dành cho cây xanh đô thị quá thấp, trung bình mới đạ chỉ 0,5-1,0m2 /người Nhiều

di sản văn hóa, lịch sử có giá trị cũng chưa được quan tâm đúng mức đang bị cuộc sống đô thị chen lấn, vi phạm và có chiếu hướng suy thoái dần theo thời gian Nhìn chung tình trạng nay đang dẫn đến mức báo động về tình trạng ô nhiễm nước, đất

và không khí ở một số khu công nghiệp và đô thị

* Công tác quản lý đô thị tuy đã được quan tâm, chỉ đạo và quán triệt đến các cấp hành chính đô thị nhưng vẫn đang còn nhiều tồn tại Phản ánh tổng quan về vấn

đề này thể hiện ở chỗ nhận thức về nôi dung, khái niêm trong công tác quả lý Nhà nước về đô thị còn chưa được đổi mới, thậm chí đôi khi còn chưa thật rõ ràng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến yêu cầu phát triển đô thị vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời bảo đảm được sức trường tồn của môi trường sinh thái trong quá trình phát triển bền vững ; Thực tế đó dẫn đến tình trạng phát triển đô thị lộn xộn, vi phạm dọc các trục quốc lộ, thực hiện sai ý đồ quy hoachh, coi thường pháp luật trong xây dựng… đang còn khá phổ biến nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn Kiến trúc đô thị phát triển chưa có định hướng Chính sách, biện pháp cơ chế tạo vốn và tạo điều kiện phát huy sức mạnh cộng đồng vào mục đích xây dựng đô thị còn rất thiếu.Thủ tục hành chính chuyển giao đất, cấp phép xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư còn phiến hà, rườm rà và thiếu hiệu lực Các tồn tại lịch sử trong quản lý đô thị chậm được giải quyết… Tất cả đang là trở ngãi cho việc lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý đô thị cũng như huy động mọi nguồn lực có thể vào phát triển đô thị

Thực trạng nói trên đang đặt động thái đô thị hóa, phân bố dân cư và phát triển

đô thị-nông thôn ở nước ta trước những thách thức phải vượt qua để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai Đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình hòa nhập của nước ta để cam kết cùng cộng đồng quốc tế thực hiện nghiêm túc Chương Trình nghị sự 21(Agenda 21) đã đề ra tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về nông thôn và phát triển ở Rio de Janero (Braxin) năm 1992 và khẳng định lại tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bển vững ở Johannesburg( C.H Nam Phi) năm 2002 vừa qua Tinh thần này đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt thành Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 Như vậy là mục tiêu phát triển của nước ta trong 10-15 năm đều phải song hành giải

quyết 2 nhiệm vụ chiến lược là « Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển,

Trang 26

nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa,tinh thân của nhân dân ; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp … » và phải đạt

được sự tăng trưởng kinh tế ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

Đây là hai nhiệm vụ có tính đối kháng phải được điều tiết hợp lý giữa các mối tương tác lẫn nhau mà không khéo sẽ để lại những hậu quả nặng nề vì quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa và đi liền theo đó là quá trình đô thị hóa rất dễ gây áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên, giảm quĩ đất nông nghiệp để phục vụ xây dựng, giảm diện tích cây xanh mặt nước, suy giảm nguồn tài nguyên nước tự nhiên dùng vào hoạt động sản xuất, sinh hoạt, dịch vụ Sự tăng trưởng không ngừng của công nghiệp, giao thông trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã tạo ra những tác nhân gây hại môi trường không khí…

Việt Nam sau hơn 30 năm phục hồi chiến tranh, có lẽ giờ đây chúng ta bắt đầu có thời gian nhìn lại và củng cố chính mình Đặt những viên gạch “đầu tiên cho công cuộc phát triển bền vững cho các thành phố, các đô thị trên toàn quốcs » dường như sẽ rất khó khăn bởi có lẽ « phát triển như hiện nay » vẫn là nhu cầu nóng hổi, thể hiện nóng khát khao, mong mỏi của người dân Việt Nam.Bắt đầu với « Phát triển » cũng đồng thời phải hội nhập với trao lưu mới của thế giới đó là « Kìm hãm, kiểm soát phát triển để đạt được một tiến trình phát triển bền vững » dường như là không phù hợp với những bước khởi đầu phát triển hồ hởi đầy khích lệ tại các đô thị của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các đô thị Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của quy luật phát triển như các nước khác trên thế giới, nên viêc nghiên cứu tìm giải pháp phát triển bền vững là vô cùng cần thiết

Trang 27

CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BÈN VỮNG CÁC ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm về phát triển đô thị bền vững Tuy nhiên, hầu hết các quan điểm đều đi đến một nhận định chung: phát triển đô thị bền vững là sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội với mục tiêu cuối cùng là đời sống của dân cư đô thị phải khá giả hơn, tiện nghi và hạnh phúc hơn ở thế hệ hiện tại mà không gây ra gánh nặng cho thế hệ tương lai Ở Việt Nam hiện có nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển các đô thị bền vững Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều vấn đề còn cần phải nghiên cứu khắc phục, như: Quy hoạch đô thị đôi khi vẫn bị coi là một sản phẩm, chưa phải là một quá trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạch còn chưa rõ ràng, phương pháp lập quy hoạch chưa hiện đại; Vốn dành cho công tác quy hoạch đô thị còn ít, quá trình xây dựng theo quy hoạch còn chậm; Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong suốt quá trình phát triển đô thị; Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng bộ giữa các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nói chung ở mọi khâu còn yếu kém

Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và phát huy nội lực, việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới và khu vực, rút ra bài học cho đất nước là hết sức cần thiết

2.1 Kinh nghiệm phát triển đô thị bền vững của các nước trên thế giới

2.1.1 Về quy hoạch – kiến trúc đô thị

Tại Thụy Điển, thành phố Vasteras, nằm bên hồ lớn nhất đất nước Malaren, là thành phố chịu ảnh hưởng đặc biệt của phong cách kiến trúc thế kỷ XIII Vasteras

có rất nhiều công trình cổ mang dấu ấn của lịch sử phát triển, vì vậy việc bảo tồn luôn luôn được quan tâm để phù hợp và hài hoà với sự phát triển của kiến trúc hiện đại và cảnh quan kiến trúc chung

Về quy hoạch và kiến trúc, chính quyền thành phố hết sức lưu ý việc đầu tư xây dựng trong quá trình phát triển đảm bảo mối liên hệ với môi trường, cảnh quan

và hệ sinh thái hồ Cụ thể về gìn giữ môi trường, mặt nước hồ được quan tâm đặc biệt, tất cả hệ thống nước thải dân dụng, công nghiệp và nước mặt đều được tập trung vào một nhà máy để xử lý trước khi đổ vào hồ Hồ Malaren có một hệ thống đường dạo với chiều rộng từ 10-20 mét bao quanh và một hệ sinh thái rừng ôn đới

Trang 28

tự nhiên với thảm thực vật phong phú Về quản lý kiến trúc, các công trình xây dựng đều phải thấp dần về phía bờ hồ để đảm bảo tầm nhìn và mỹ quan Tại đây, việc khai thác phong cách kiến trúc truyền thống của Thụy Điển thế kỷ XIII được ủng hộ triệt để và quan tâm đặc biệt

Tại Singapore, là một quốc gia - đô thị với hệ thống tập trung cao độ, cả nước chỉ có một tổ chức chịu trách nhiệm về xét duyệt quy hoạch và đầu tư - Cơ quan tái phát triển đô thị Tính tập trung, công khai và mục đích quy hoạch cùng với công tác quy hoạch kiểm soát và quản lý theo quy hoạch rõ ràng nên quản lý quy hoạch kiến trúc ở Singapore hoạt động rất có hiệu quả

Từ cuối những năm 1980, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá đô thị mới được đặc biệt chú ý Nguyên tắc phổ biến về bảo tồn di sản kiến trúc đô thị ở Singapore chủ yếu là xây dựng mới theo hình thức cũ và bổ sung các chức năng mới theo hướng hiện đại Việc bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống, giữ gìn cảnh quan tập trung vào các vấn đề: lối sống, nghề truyền thống, hình thức kiến trúc nhà ở và các

di sản văn hoá có giá trị (đền, chùa, thành quách, dinh, thự…) Khai thác các giá trị văn hoá truyền thống tạo được thế mạnh trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ du lịch, đây là quan điểm bảo tồn các quần cư truyền thống khá triệt để, có chọn lọc, thậm chí mang cả ý nghĩa giáo dục thông qua các tổ chức tham quan du lịch và bảo tồn Tại Trung Quốc, một trong những yếu tố đem lại thành công là hệ thống văn bản pháp luật cũng như bộ máy thi hành pháp luật rất nghiêm khắc, công tác giải phóng mặt bằng được tập trung vốn, triển khai nhanh và đầu tư dứt điểm cho từng

dự án Do vậy, các công trình xây dựng và các tuyến đường trong đô thị được cải tạo, mở rộng và tiến hành theo đúng kế hoạch, quy hoạch được duyệt

Về kinh nghiệm trong quản lý bảo tồn di sản đô thị, các biện pháp kiểm soát phát triển khu vực Tây Hồ thuộc Hàng Châu, một viên ngọc trong chuỗi điểm du lịch của Trung Quốc là một ví dụ Với vẻ nguyên sơ như xưa, mỗi năm Tây Hồ có tới 10 triệu du khách tham quan, trong đó 2 triệu du khách đến từ nước ngoài Đến đây, du khách như lạc vào một thế giới khác; bờ hồ được kè bằng đá, bên cạnh vẫn nguyên vẹn từng bụi cây, từng phiến đá lát đường, từng gốc liễu cổ thụ rủ bóng ven

hồ Những mái ngói cổ kính còn vẹn nguyên với cỏ dại và rêu xanh phủ đầy trên mái Dọc trên 6 km vòng quanh hồ không hề có bất kỳ một công trình kiến trúc mới nào Xa xa, hút tầm mắt mới thấy những toà nhà cao tầng, những công trình kiến trúc mới của Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Triết Giang Như vậy những gì tân kỳ, hiện đại đều được bố trí lùi xa, khuất sau Tây Hồ và bàn tay con người không can thiệp

Trang 29

thô bạo vào thiên nhiên và những gì mà người xưa để lại Tại Malaysia, lấy trường hợp Kuala Lumpur làm ví dụ thì quy trình lập, xét duyệt và xây dựng các quy định kiểm soát phát triển đô thị không khác nhiều so với những nước khác Sự khác nhau chủ yếu là ở hệ thống xét duyệt đầu tư xây dựng Nếu như Singapore có đặc điểm tập trung cao độ thì ở Kuala Lumpur là hệ thống các Ban hoặc Uỷ ban trên cơ sở phân cấp, phân quyền quản lý Hệ thống các Ban này làm việc trên nguyên tắc phối hợp tập thể trước khi ra quyết định đầu tư phát triển đô thị Mô hình quản lý Kuala Lumpur thể hiện tính dân chủ trong các quyết định Mô hình này chỉ thực sự hoạt động có hiệu quả khi các thành viên trong hội đồng làm việc công tâm và trên những nguyên tắc, quy định chặt chẽ Trong lĩnh vực phát triển đô thị, thành công cần được nhấn mạnh trong trường hợp Kuala

Lumpur là vấn đề bảo tồn và phát triển làng trong đô thị với cấu trúc đô thị hiện đại

2.1.2 Quản lý đất đai xây dựng đô thị

Tại Trung Quốc, mô hình quản lý đất đô thị được xây dựng bằng việc thành lập một cơ quan hành chính đặc biệt, do một tổ chức thay mặt Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước toàn diện Tổ chức này có thể do Chính phủ thành lập, cũng có thể là một cơ quan liên chính phủ hay là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo một cơ chế đặc biệt, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việc đầu tư xây dựng nhà ở có thể do doanh nghiệp trong nước hoặc phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, đền bù giải phóng mặt bằng được điều tiết bằng Luật

Tại Pháp, Chính phủ đã áp dụng ba chính sách chủ yếu cho công tác quản lý đất đô thị trên cơ sở quy hoạch đô thị được duyệt:

- Chính phủ cho phép mua trước đất nhằm tránh những khó khăn phát sinh từ tình trạng khan hiếm đất dùng cho xây dựng nhà ở Luật Quy hoạch quy định dành các khu vực dự trữ ưu tiên cho việc mua đất phục vụ xây dựng nhà ở nhằm tránh các cơn sốt của thị trường, ngăn chặn nguy cơ đầu cơ, đồng thời giải quyết việc tồn tại quá độ trong vòng 15 năm của các bất động sản nằm trong vùng dự trữ

- Chính quyền đô thị được mua trước những bất động sản của người có nhu cầu bán, làm quỹ dự trữ để chủ động cho việc thực hiện quy hoạch đô thị

- Chính phủ Pháp có sự phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương về đầu tư và phát triển đất xây dựng đô thị và thị trường bất động sản Chính phủ có Ban thư ký về đô thị, là đầu mối giữa chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và các cơ quan hợp tác phát triển công cộng Khi dự án được xác định, cơ

Trang 30

quan hợp tác phát triển công cộng là tổ chức chịu trách nhiệm chuẩn bị đất đai và thực hiện xây dựng hạ tầng cho đô thị mới Hội đồng liên tỉnh về phát triển đô thị là

cơ quan quản lý xây dựng đô thị, xem xét các dự án cấp giấy phép và xây dựng các công trình trong đô thị mới Việc xây dựng đô thị mới dựa vào hệ thống hành chính hiện có và các nguồn tài chính trong nước là chủ yếu, được hỗ trợ bởi một khung giá đất ổn định đảm bảo cho việc đầu tư lâu dài

Tại Hàn Quốc, việc xây dựng đô thị mới được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa Chính phủ và khu vực tư nhân, quản lý bởi Văn phòng phát triển đô thị mới trực thuộc Bộ Xây dựng Cơ quan xây dựng hạ tầng đô thị là Tập đoàn phát triển đất Hàn Quốc, có trách nhiệm mua đất để xây dựng nhà ở bằng các khoản ứng trước của các nhà đầu tư và các khoản tín dụng Tập đoàn thanh toán lại cho các nhà đầu

tư bằng đất đã có hạ tầng tín dụng, được hỗ trợ bằng chính sách trưng mua đất đai trong các đô thị dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên về nhà ở của các đô thị, thúc đẩy đô thị phát triển một cách có hiệu quả

Tại Philippines, hoạt động quản lý đô thị dựa vào các điều khoản của Hiến pháp và Pháp luật, đề cập tới sự phân loại, chuyển nhượng, chuyển dịch và phát triển tài nguyên đất đai Đất đai được xem như một bất động sản đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước, không được phép chuyển dịch hay chuyển nhượng từ đời này sang đời khác Sự chia nhỏ quyền sở hữu đất dựa trên Sắc lệnh về bảo đảm bất động sản và Sắc lệnh bảo vệ người mua Chính quyền địa phương bảo đảm sở hữu đất được cấp cho Chính phủ hay các cá nhân

Việc chuyển đổi đất đai từ đất nông nghiệp sang các chức năng khác phải thực hiện theo Sắc lệnh, giới hạn trong phạm vi từ 5% - 15% của vùng đất nông nghiệp Những nơi đất đai không còn giá trị kinh tế cho mục đích nông nghiệp và những nơi đất đai có thể có giá trị kinh tế lớn cho mục đích ở, kinh doanh hay công nghiệp được quyết định bởi Hội đồng luật pháp địa phương

Đất chuyển dịch là những vùng đất xấu, đất thu góp hay đất hợp tác xã, quỹ đất quyên góp cho Chính phủ Mức độ giá trị của đất được xác định bằng việc phân loại đất, giá thị trường và thuế Giải pháp hành chính của việc công nhận quyền sở hữu thông qua việc quyết định cấp giấy đăng ký tự do

Tại Malaysia, hầu hết vấn đề đất đai nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Trung ương, trong khi việc trao quyền sử dụng đất và khai thác sử dụng đất chi tiết lại nằm trong phạm vi kiểm soát của chính quyền địa phương Một trong những

Trang 31

công cụ quan trọng nhất để quản lý đất đai ở Malaysia là kiểm soát sự phát triển Chính quyền địa phương chuẩn bị hồ sơ quy hoạch của các khu vực trong phạm vi

có khả năng phát triển, trên đó chỉ ra rất chi tiết khả năng có thể hoặc không thể xây dựng

Malaysia ban hành Luật Bảo hộ quyền sử dụng đất, kiểm soát toàn bộ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phân chia đất và những điều kiện đánh thuế trên mục đích sử dụng đất Một trong những công cụ hiệu quả cho sự phát triển là thu lại đất của tư nhân dành cho mục đích công cộng Những bổ sung gần đây cho phép chính quyền thu hồi đất cho bất kỳ mục đích sử dụng nào phù hợp với chính sách phát triển của Nhà nước Thuế đất ở Malaysia bao gồm thuế đánh vào bất động sản được thu bởi chính quyền địa phương, lãi của bất động sản và những thuế thu được

từ chính quyền bang, thuế được thu hàng năm bởi chính quyền nhà nước, và những khoản tiền lãi khi chuyển nhượng đất

Bộ luật Quy hoạch đô thị và nông thôn cho phép các chính quyền địa phương đánh “thuế phát triển” vào các phần đất có giá trị tăng lên nhờ kết quả của quy hoạch, hình thức thuế này được sử dụng như một công cụ của công tác quản lý đất đai đô thị Thuế phát triển hạ tầng cơ sở, thuế lợi tức của bất động sản được đánh vào các phần lãi từ những đầu tư trên đất Tỷ lệ thu thuế trong khoảng 5% – 50% lợi tức, phụ thuộc vào khoảng thời gian từ khi mua đến khi bán đất

lý hạ tầng cơ sở và các chính sách về giao thông vận tải, có trách nhiệm thường xuyên nghiên cứu khả năng phát triển, quản lý và điều hành hệ thống giao thông đô thị và giao thông hành khách công cộng

Bốn trọng tâm chính trong chiến lược phát triển giao thông là:

- Phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển không gian và vận tải nhằm tối

ưu hoá nhu cầu đi lại bằng cách phát triển khu dân cư đô thị gắn với hệ thống giao thông công cộng, tập trung dân cư sống quanh các bến xe lớn Phát triển một mạng lưới đường phố thống nhất đáp ứng nhu cầu đi lại bằng những biện pháp quản lý giao thông

Trang 32

- Phát triển hệ thống giao thông hành khách công cộng có chất lượng tốt nhằm tối ưu hoá nhu cầu đi lại bằng một hệ thống đầy đủ, liên thông hợp lý và hữu hiệu

- Chủ động quản lý nhu cầu để giải quyết sự ùn tắc giao thông bằng cách kiểm soát phương tiện giao thông cá nhân (hệ thống hạn ngạch xe) trên đường và thiết lập trạm thu thuế cầu đường trong thành phố

- Việc đầu tư giao thông dựa trên mô hình: Nhà nước chịu trách nhiệm bỏ vốn đầu tư, nhất là phần hạ tầng kỹ thuật; Người sử dụng trả tiền dịch vụ và chi phí khai thác (giá cước thực tế); Chủ khai thác chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của dịch vụ dưới sự giám sát của Uỷ ban giao thông công cộng

Như vậy, ưu điểm về quản lý giao thông công cộng tại Singapore là sớm nhận thức được việc cần phải phát triển hệ thống xe buýt theo quan điểm cung cấp là chủ yếu kết hợp với việc kiểm soát chặt chẽ và kiềm chế sự phát triển các phương tiện

cá nhân

Quản lý giao thông xe buýt công cộng ở một số thành phố của các nước trong khu vực có những nét khác biệt với các thành phố thuộc các nước phát triển Có hai quan điểm quản lý giao thông xe buýt là quản lý theo nhu cầu (ví dụ Bangkok, Thái Lan) và quản lý với quan điểm cung cấp là chủ yếu (ví dụ Singapore)

Bangkok có số dân khoảng 9 triệu người Tại Bangkok, tổ chức quản lý giao thông xe buýt công cộng thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý giao thông công cộng Đội xe buýt có gần 5.000 chiếc chạy trên một số đường phố (khoảng 250 km) có làn dành riêng đã được hình thành nhằm giúp cho xe lưu thông thuận lợi Bên cạnh đó

là việc huy động trên 2.000 xe tuktuk do tư nhân khai thác Bangkok có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa vào sử dụng loại xe mini buýt để bổ sung cho các xe buýt tiêu chuẩn theo nhu cầu sử dụng và thực trạng của từng đường phố trên mạng lưới đường

2.1.4.Môi trường đô thị

Tại Singapore, chất thải được phân loại và thu gom bằng túi nylon từ nơi phát sinh, sau đó xử lý bằng phương pháp đốt tại 5 nhà máy công suất 9.000 m3/ngày, với công nghệ hiện đại đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, nhiệt lượng thu từ các lò đốt được dùng để phát điện Các chất tái chế được như giấy, chai lọ, dầu thải công nghiệp được xử lý, sử dụng lại

Việc thu gom chất thải do các công ty tư nhân đảm nhiệm, lệ phí thu gom cho mỗi hộ gia đình một tháng có thời điểm là 6 đôla Mỹ, với căn hộ có sân vườn là 11 đôla Mỹ Hiện nay các công ty thu gom chất thải đang chuyển sang hình thức cổ

Trang 33

phần hoá Nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng nhà máy xử lý chất thải Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc

Tại Hà Lan, hàng năm có tới 21 triệu tấn chất thải, 60% đổ ở các bãi chôn lấp, phần còn lại đưa vào các lò đốt rác hay tái chế Để bảo vệ môi trường, mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm rất được quan tâm ở đất nước này Hà Lan đã xây dựng một khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tại khu liên hợp người ta chôn lấp một khối lượng lớn các loại rác thải và chất thải độc hại sau xử lý (trước đây thường được tiêu huỷ ngoài biển), số còn lại được xử lý bằng những lò đốt với kỹ thuật mới nhất và sản xuất phân compost bằng phương pháp ủ hoặc ứng dụng những quy trình

kỹ thuật đặc biệt sản xuất các loại nguyên liệu mới Việc xử lý chất thải rắn ở Hà Lan đã xuất hiện một ngành kinh tế mới mang tính kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến và đầu tư lớn

Tại Ai Cập, thủ đô Cairo có 12 triệu dân với lượng rác thải hàng ngày tới 6.000 tấn Để làm sạch thủ đô có nhiều nguồn chất thải, tại thành phố đã hình thành một đội ngũ công nhân vệ sinh gồm 45.000 người, chia làm 3 ca quét dọn, thu gom Thành phố còn xây dựng một nhà máy xử lý chất thải, mỗi ngày chế biến 80 tấn thành phân bón để cải tạo sa mạc Tại thủ đô Cairo, việc xã hội hoá thu gom rác thải được làm rất tốt, ngoài công ty nhà nước còn có 44 công ty tư nhân thu gom rác thải, họ đưa túi nilon tới từng gia đình để đựng rác Công tư tư nhân cho xe đến thu gom rác thường xuyên và thu lệ phí hàng tháng Các công ty này có quyền kinh doanh việc xử lý chất thải và tái chế thành phẩm

Tại Indonesia, để đảm bảo hoạt động thu gom rác thường xuyên, mỗi cộng đồng khu dân cư có thu nhập thấp (Kampung) ở Surabaya tự tổ chức dịch vụ thu gom rác trong phạm vi của mình “Đội quân vàng” gần 12.000 người thu gom và quét rác trong đồng phục màu vàng do chính những người dân Surabaya trả lương,

bổ sung hỗ trợ cho 1.300 công nhân vệ sinh được chính quyền trả lương Có hai loại thùng rác màu xanh và màu vàng được bố trí cạnh nhau Các thùng rác màu xanh dành cho các loại rác thải có thể tái sử dụng như giấy, bìa, kim loại, thủy tinh Bên cạnh mục đích bảo vệ môi trường, việc làm trên còn ý nghĩa giáo dục, đặc biệt cho lớp trẻ

Trang 34

với chủ trương phát triển, Trung quốc thực hiện ba phương thức cung cấp nhà ở: Nhà ở có tiêu chuẩn cao và khá cao được xây dựng phục vụ mục đích kinh doanh, bán cho các đối tượng có thu nhập cao; Nhà ở thích hợp xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế của các gia đình có thu nhập vừa và thấp; Nhà cho thuê với giá rẻ, xây dựng phục vụ cho các đối tượng nghèo với mức tiêu chuẩn khá thấp do Nhà nước quản lý

Ngoài ra, Nhà nước còn mở rộng, phát triển và cải thiện công tác lưu thông tiền vốn nhà ở, kéo dài thời hạn cho vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân vay vốn mua nhà ở, đồng thời quản lý tốt giá cả, thúc đẩy, cải cách giá cho thuê nhà

Tại Nhật Bản, hệ thống cung cấp và quản lý nhà ở của Nhà nước thực hiện thông qua Tổng Công ty tài chính nhà ở Chính phủ, thực hiện cung cấp vốn vay dài hạn với lãi suất thấp cho những người sắp xây dựng nhà hoặc mua nhà Cơ quan quản lý nhà công cộng giúp chính quyền các địa phương cung cấp nhà cho thuê với giá thấp được trung ương bao cấp một phần Tổng Công ty phát triển nhà và đô thị thực hiện khắc phục tình trạng thiếu nhà ở tại các trung tâm đồng thời xúc tiến quá trình đổi mới đô thị nhằm tạo ra môi trường đô thị tốt với hình thức đa dạng

Nhà nước Nhật Bản chủ trương đẩy mạnh xây dựng nhà ở nhiều loại hình với

sự phối hợp giữa chính quyền trung ương, địa phương và cộng đồng dân cư trên cơ

sở những chương trình dài hạn và toàn diện, tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn nhà

ở phù hợp với tình trạng và khả năng của mình, như: các khu ở có chất lượng tốt hoặc quy mô lớn, có công năng sử dụng hợp lý, có môi trường sống theo tiêu chí phát triển bền vững; nhà ở cho thuê giá rẻ, nhà ở cho người ở xa gia đình, người già yếu, người khuyết tật

Nhật Bản đã xây dựng những bộ luật và những quy ước hoạt động cho tất cả các thành viên trong khu ở cũng như các quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đối tượng đối với phần tài sản trong nhà ở chung mà mình sở hữu, ban hành các biểu, bảng để kê khai, kiến nghị đề xuất tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng chung cư đề đạt các ý kiến của mình Tổ chức các Ban quản lý khu chung cư trong

đó các thành viên và cả Ban Giám đốc điều hành đều do hội nghị toàn thể các gia đình trong chung cư bầu ra, đồng thời quy định rõ về hoạt động và hạch toán của Ban này

Tại Singapore, hàng loạt khu ở được xây dựng rất đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật, từ mạng lưới giao thông đến cấp nước, thoát nước

Trang 35

thải, cấp điện, thông tin liên lạc, cây xanh và vệ sinh môi trường từ những năm 1980 Nhiều khu ở của Singapore đã trở thành mẫu mực cho các đô thị về cơ sở hạ tầng

kỹ thuật Nhiều hệ thống được xây dựng trước theo định hướng phát triển đáp ứng nhu cầu của tương lai: Giao thông tĩnh trong khu ở xây dựng theo chỉ tiêu 150 xe con trên 1.000 dân; Hệ thống cáp được đầu tư theo nhu cầu mỗi gia đình có từ 3 đến

4 máy thông tin liên lạc; Hệ thống cấp nước cho chỉ tiêu từ 180 - 250 lít/người/ngày Chính sách của Chính phủ Singapore nhằm cung cấp nhà ở cho mọi gia đình, tạo điều kiện cho họ làm chủ sở hữu căn nhà đó Chính phủ thực hiện mục tiêu này thông qua Cơ quan phát triển nhà ở Hoạt động của cơ quan này bao gồm quy hoạch phát triển đô thị mới, nâng cấp nhà cũ, khuyến khích sở hữu nhà ở của dân, nâng cao trách nhiệm cuộc sống cộng đồng, cung cấp nhà ở chất lượng cao và các tiện nghi công cộng liên quan, đề ra các tiêu chuẩn về xây dựng và quản lý địa ốc Cơ quan này được vay tiền Chính phủ để phát triển nhà ở và cho dân vay lại để mua nhà trả góp Chìa khoá để giải quyết vấn đề này là "quỹ tiết kiệm Trung ương" Theo luật pháp Singapore tất cả các công dân làm việc phải trích vào quỹ này 20% lương của mình, các nhà doanh nghiệp, các chủ kinh doanh hàng tháng cũng phải nộp vào quỹ một số tiền nhất định Do vậy số tiền trong quỹ rất lớn, bằng 40% quỹ lương cả nước Phần tiền lương trích vào quỹ không bị đánh thuế thu nhập, nó vẫn thuộc sở hữu người gửi và xem như tiết kiệm hàng năm được cộng vào lãi theo quy định và chỉ được rút ra khi về hưu hoặc có khoản chi cần thiết như mua nhà hay chữa bệnh Quỹ này hỗ trợ cho dân có tiền gửi tiết kiệm để mua nhà, tiền trả góp hàng tháng cho Nhà nước

2.1.6 Phát triển đô thị với sự tham gia của cộng đồng:

Tại Indonesia, do nguồn lực hạn chế của chính quyền trong các dự án nâng cấp, cải tạo hạ tầng kỹ thuật các Kampung, sự đóng góp của cộng đồng là yếu tố quan trọng để dự án đạt tính bền vững Trung bình với mỗi dự án, cứ Nhà nước đầu

tư một triệu rupi cho các chi phí trực tiếp, thì cộng đồng đóng góp 50.000 rupi (5%) Nếu kể cả những đóng góp của cá nhân và cộng đồng qua việc trồng và chăm sóc cây xanh, cấp điện chiếu sáng, xây dựng, thu gom rác, thì đóng góp từ phía cộng đồng còn lớn hơn nhiều

Ở các thành phố lớn như Jakarta hay Surabaya, các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật cho các Kampung đã thực sự thành công với sự đóng góp của chính cộng đồng dân cư ở đó Chương trình cải tạo Kampung được hình thành bắt đầu vào 1969 tại thành phố Surabaya, thành phố lớn thứ hai của

Trang 36

Indonesia, với số dân khoảng 3 triệu người Chương trình cải tạo Kampung bao gồm nâng cấp đường phố, các hẻm nhỏ, hệ thống cấp thoát nước, các điều kiện vệ sinh

và quản lý rác thải…, có sự phối hợp giữa cộng đồng dân cư và chính quyền, qua ba phương thức: Các dự án do người dân tự đóng góp thực hiện; Các dự án có sự hỗ trợ một phần của chính quyền; Các dự án được chính quyền địa phương và Trung ương tài trợ cùng khoản viện trợ của Ngân hàng Thế giới

Các chương trình ở Surabaya thể hiện mạnh mẽ sự hợp tác giữa chính quyền

và các cộng đồng dân cư Qua việc xác định nhu cầu và có sự tham gia của cộng đồng vào các dự án nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, làm cho người dân cảm thấy đây là chương trình của họ, vì vậy họ có thể bảo đảm được việc thành công của dự án, và tham gia duy tu bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng sau khi được xây dựng

Tại Canada, phổ biến rộng rãi mô hình cộng đồng về sản xuất nhà ở Đó là những nhóm đa ngành giúp cho người thuê nhà, mua nhà hình thành một hợp tác xã

về nhà ở được cung cấp những dịch vụ kỹ thuật, được hỗ trợ để thực hiện đầy đủ dự

án của mình Nhóm đa ngành gồm những người có khả năng về nhiều lĩnh vực khác nhau trong dịch vụ nhà ở như lập kế hoạch triển khai công việc, dự kiến ngân sách, quản lý tài chính trong lĩnh vực nhà ở

Nhiệm vụ của từng nhóm kỹ thuật là giúp thực hiện dễ dàng các dự án, có khả năng vượt qua các trở ngại nảy sinh về tài chính, hành chính, kỹ thuật và xã hội Nhóm nguồn lực kỹ thuật liên kết chặt chẽ với các thành viên của cộng đồng trong quá trình thực hiện dự án nhằm giúp họ: i) Hiểu mọi tình huống và đề xuất giải pháp thực hiện; ii) Gắn kết với dự án, thực hiện dự án lâu dài với sự hợp tác linh hoạt; iii)

Có đủ kiến thức và khả năng quản lý nhà; iv) Thống nhất với nhau để khắc phục những khác biệt, cùng nhau đưa ra các quyết định chung trong quá trình quản lý Nhóm nguồn lực kỹ thuật có thể tiến hành nhiều loại hình như xây dựng hoặc cho thuê nhà ở, thực hiện trong cả quá trình xây dựng và sử dụng nhà ở theo ba khía cạnh: vật thể, kinh tế và xã hội

Tại Srilanka, chính quyền ngày càng nhận ra vai trò của người dân trong phát triển định cư và bắt đầu hỗ trợ người dân xây nhà chứ không xây sẵn nhà cho họ (ảnh bên) Tổ chức Quốc gia về phát triển nhà ở đã soạn ra những hướng dẫn về sự tham gia của người dân ở mức độ địa phương trong tiểu chương trình nhà ở thuộc Chương trình “Triệu căn nhà”

Những hướng dẫn này cho biết làm thế nào để thiết lập được những yêu cầu hỗ trợ tổ chức ở mức độ địa phương và cộng đồng Tổ chức Quốc gia về phát triển nhà

Trang 37

góp phần chủ động trong các hội thảo và gặp gỡ những nhóm mục tiêu mà không có những quan điểm áp đặt của chính quyền, nó đóng vai trò tác nhân trong sự xây dựng và phát triển định cư ở địa phương

Tại Pakistan, ở Orangi - khu định cư cho những người trú ngụ bất hợp pháp tại Karachi với 800.000 người trong một điều kiện sống rất nguy hiểm, mất vệ sinh, thiếu hệ thống thoát nước và thu gom rác thải Orangi nhận được rất ít sự quan tâm

từ phía chính quyền

Năm 1980, một tổ chức phi chính phủ tại địa phương phát động một dự án phát triển thích hợp, chi phí thấp nhằm xây nhà, tài chính và hệ thống quản lý vệ sinh cho Orangi Dự án đầu tiên được thành lập trên một đường hẻm cho 20 gia đình Cư dân của 20 gia đình này được tổ chức thành từng nhóm, bầu ra một cán bộ quản lý và một thủ quỹ Họ quản lý xây dựng, thu tiền và thuê người xây dựng các công trình vệ sinh Qua quá trình xây dựng những vấn đề phát sinh đều được giải quyết.Dự án thành công đến nỗi tất cả cư dân ở các hẻm khác cũng học tập và làm theo

2.2 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững đô thị

Về bộ chỉ tiêu phát triển bền vững

Bộ chỉ tiêu là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau

theo

khai xây dưng bộ chỉ tiêu PTBV cho đất nước mình

Tổng quan kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV

Bộ chỉ tiêu kiến nghị của Hội đồng Phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UN CSD)

Mục tiêu chính của UN CSD là xây dựng các chỉ tiêu phát triển bền vững phục

vụ việc hoạch định chính sách tầm quốc gia, giải thích về phương pháp luận xây dựng các chỉ tiêu, và tập huấn nguồn nhân lực Sự nỗ lực phối hợp giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân đã giúp UN CSD công bố vào năm 2001 danh mục 58 chỉ tiêu phát triển bền vững nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo lường bước tiến triển hướng tới sự phát triển bền vững (PTBV) Các chỉ tiêu này bao gồm 15 chủ đề và 38 chủ đề nhánh được xây dựng nhằm cung cấp thông tin cho các quốc gia trong việc triển sống thì ở các nước phát triển sự quan tâm tập trung vào các vấn đề bình đẳng, chất lượng cuộc sống, các vấn đề xã hội nảy sinh trong một nền kinh tế phát triển và vấn đề ô nhiễm môi trường

Trang 38

2.2.1 Ở Vương Quốc Anh:

Đề án phát triển bền vững địa phương được chính phủ Anh khởi xướng và dẫn dắt năm 1997 Đề án Local Agenda 21 được xây dựng trên các nguyên tắc của phát triển bền vững do Ủy ban Brundtland khởi xướng và bao gồm bốn nguyên tắc chính:

1 Tiến bộ xã hội trong đó thừa nhận nhu cầu của tất cả mọi người;

2 Bảo vệ môi trường một cách hiệu quả;

3 Sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách thận trọng;

4 Duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm ở mức cao và ổn định

Đề án Local Agenda 21 đã được thực hiện trên toàn nước Anh từ năm 2000 và bước đầu mang lại một số kết quả tích cực Đề án cung cấp các hướng dẫn cũng như nguồn lực cần thiết để tái định hướng cho chính quyền các thành phố tại Anh, hướng tới phát triển bền vững

Từ năm 2007, tổ chức “Diễn đàn cho tương lai”, một tổ chức phi chính phủ tại Anh đã tiến hành đánh giá mức độ bền vững của các thành phố tại Anh theo định kỳ hàng năm Các đánh giá sử dụng 13 chỉ thị đánh giá thuộc 3 nhóm:

a) Các chỉ thị về tác động môi trường:

- Chất lượng không khí: đo lường nồng độ của khí NO2 tại một số điểm trong thành phố.Khí NO2 là một chỉ thị tốt về mức độ độc hại của khí thải từ các phương tiện giao thông Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang thực hiện đánh giá dựa trên phản ứng của chính quyền địa phương trong việc xử lý một loại khí thải nào đó, căn cứ vào yêu cầu của cư dân

- Tác động sinh thái: Đo lường các tác động của việc tiêu dùng tới môi trường thành phố Nhóm nghiên cứu sử dụng chỉ số bền vững là diện tích đất đô thị cần sử dụng để tạo ra cuộc sống bền vững cho một lượng cư dân thành thị nhất định

- Rác thải của hộ gia đình: Đo lường lượng rác thải bình quân trên đầu người của cư dân thành thị trong vòng 1 năm Lượng rác thải là một đại diện có giá trị cho tổng lượng nguồn lực đã được tiêu thụ

- Đa dạng sinh học: Đo lường số khu vực tự nhiên lân cận thành phố đã được

đo thị hóa Mặc dù đây là một chỉ thị khá trừu tượng, nó diễn tả tốc độ thu hẹp của các khu vực tự nhiên, vốn là nơi cư trú của các loài sinh vật Việc thu hẹp này ảnh hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học của khu vực, do sự biến mất (có thể) của các loài sinh vật trong khu vực

b) Các chỉ thị về chất lượng cuộc sống

Trang 39

- Sức khỏe: Đo lường kì vọng tuổi thọ của cư dân từ khi sinh ra, sử dụng số liệu thống kê từ cục thống kê quốc gia Đây là một chỉ thị tốt về sức khỏe và tuổi thọ của cư dân

- Không gian xanh: Đo lường số khu vực xanh được xếp hạng trên mỗi đơn vị

1000 dân cư đô thị Sử dụng các chỉ số từ Cục bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm quốc gia, nhóm đánh giá tính ra chỉ số không gian xanh cho cư dân thành phố Đây là một chỉ thị rất tốt về không gian sống thân thiện với môi trường và trong lành cho cư dân đô thị

- Giao thông: Đo lường mức độ tiếp cận tới các dịch vụ giao thông công cộng của cư dân đô thị Nhóm nghiên cứu sử dụng số thời gian một cư dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng để đi học, đi làm, mà không dùng đến xe hơi cá nhân; tỉ lệ cư dân sử dụng phương tiện công cộng; và đánh giá chất lượng dịch vụ công cộng của cư dân Đây là một chỉ thị tốt về mức độ cung cấp dịch vụ giao thông công cộng tại địa phương

- Việc làm: Đo lường sự biến động về số người nhận trợ cấp thất nghiệp, sử dụng số liệu từ Văn phòng thống kê quốc gia

- Giáo dục: Đo lường tỉ lệ dân cư trong độ tuổi lao động ở địa phương có bằng cấp từ Dạy nghề bậc 2 (hoặc tương đương) trở lên

c) Các chỉ thị về thích ứng với tương lai

- Biến đổi khí hậu: Các chính quyền địa phương được cho điểm trên 27 tiêu chí liên quan đến hành động của họ để ứng phó tới mối nguy biến đổi khí hậu.Các tiêu chí này được xây dựng bằng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về lĩnh vực quản lý môi trường Số liệu được thu thập thông qua tài liệu do chính quyền địa phương công bố và khảo sát trực tiếp

- Kinh tế: Đo lường số doanh nghiệp khởi sự trong năm trên đơn vị 10000 dân

cư thành thị, sử dụng số liệu từ các đăng ký kinh doanh với chính quyền địa phương.Đây là một chỉ thị tốt về sức sống kinh tế của địa phương

- Tái chế: Đo lường tỉ lệ rác thải hộ gia đình được tái chế, tái sử dụng, hoặc lên men sinh hóa trong tổng số rác thải hộ gia đình

- Thực phẩm địa phương: Biến động về số nhà cung cấp và lượng cung cấp thực phẩm cho địa phương, so sánh với tổng dân số Đây là một chỉ thị phần nào phản ánh mức độ an toàn lương thực của địa phương

Các tiêu chí đánh giá trên dù không hoàn toàn phù hợp với thực trạng đô thị Việt Nam, nhưng có thể là một nguồn tham khảo tốt cho nghiên cứu

Trang 40

2.2.2 Ở Mỹ

Chính quyền các thành phố ở Mỹ có chức năng tương đối độc lập với chính phủ.Chính quyền địa phương đóng vai trò rất lớn trong các kế hoạch phát triển đô thị và họ thường xây dựng các chiến lược cũng như tiêu chí đánh giá riêng,tùy thuộc vào tình hình thực tế địa phương

Một mô hình đáng chú ý là của thành phố Minneapolis, tiểu bang Minnesota Năm 2003,chính quyền thành phố này thông qua nghị quyết 2003R-133 về kế hoạch phát triển thành phố bền vững và sử dụng các nguyên tắc bền vững trong việc ra quyết định của chính quyền thành phố.Kế hoạch phát triển bền vững thành phố Minneapolis được xây dựng và sửa đổi qua các năm, hình thành nên các mục tiêu bền vững, được sử dụng như là các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững của thành phố Các tiêu chí này được chia thành 3 nhóm chính gồm:

a) Nhóm tiêu chí về Sức khỏe cuộc sống gồm 6 tiêu chí :

- Sức khỏe trẻ sơ sinh: theo dõi tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và số trẻ có cân nặng khi sinh ở mức thấp

- Tỉ lệ mang thai ở trẻ vị thành niên: theo dõi số ca trẻ vị thành niên từ 15 đến

17 tuổi mang thai

- Tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư

- Chỉ số cân nặng trung bình của dân cư

- Chỉ số hô hấp: tỉ lệ cư dân nhiễm các bệnh liên quan đến hô hấp

- Nhiễm độc chì: Theo dõi số liệu về mức chì trong máu của trẻ em dưới 2 tuổi

b) Nhóm tiêu chí về Tác động môi trường gồm 12 tiêu chí:

- Biến đổi khí hậu: đo lượng phát thải CO2 của cư dân thành phố

- Năng lượng có thể tái tạo: theo dõi mức tăng tiêu thụ năng lượng có thể tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng của cư dân thành phố

- Chất lượng không khí

- Mức độ cây bao phủ

- Tỉ lệ cư dân sử dụng phương tiện phi cơ giới

- Các phương tiện giao thông thay thế trong nội đô

- Mức độ tiếng ồn của sân bay thành phố

- Tỉ lệ các chất gây ô nhiễm trong nước mưa

- Chất lượng hồ trong thành phố

- Mức độ phát triển các công việc thân thiện với môi trường trong thành phố

- Lượng thực phẩm được sản xuất theo phương pháp thân thiện với môi trường

Ngày đăng: 06/03/2014, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Quy mô dân số Hà Nội qua các năm  Năm - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 3.1 Quy mô dân số Hà Nội qua các năm Năm (Trang 55)
Bảng 3.4: Số lượng trường học tại một số khu đô thị mới ở Hà Nội - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 3.4 Số lượng trường học tại một số khu đô thị mới ở Hà Nội (Trang 62)
Bảng 4.3: Biểu đồ đánh giá của người dân về chất lượng không khí - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.3 Biểu đồ đánh giá của người dân về chất lượng không khí (Trang 67)
Bảng 4.6: Kết quả điều tra về rác thải - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.6 Kết quả điều tra về rác thải (Trang 68)
Bảng 4.7: Biểu đồ đánh giá về lượng rác thải - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.7 Biểu đồ đánh giá về lượng rác thải (Trang 69)
Bảng 4.9: Biểu đồ đánh giá cấp thoát nước - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.9 Biểu đồ đánh giá cấp thoát nước (Trang 70)
Bảng 4.11: Biểu đồ đánh tình trạng giao thông - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.11 Biểu đồ đánh tình trạng giao thông (Trang 72)
Bảng 4.13:Biểu đồ mức độ che phủ - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.13 Biểu đồ mức độ che phủ (Trang 73)
Bảng 4.12: Kết quả về mức độ lấp đầy đô thị - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.12 Kết quả về mức độ lấp đầy đô thị (Trang 73)
Bảng 4.17: Biểu đồ về giáo dục đào tạo - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.17 Biểu đồ về giáo dục đào tạo (Trang 75)
Bảng 4.16: Kết quả về giáo dục - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.16 Kết quả về giáo dục (Trang 75)
Bảng 4.18: Kết quả về y tế - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.18 Kết quả về y tế (Trang 76)
Bảng 4.20: Kết quả về dịch vụ - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.20 Kết quả về dịch vụ (Trang 77)
Bảng 4.21:Biểu đồ dịch vụ - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.21 Biểu đồ dịch vụ (Trang 78)
Bảng 4.24:Biểu đồ đánh giá về giá đất - Luận văn: Phát triển bền vững các khu đô thị mới: Tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại Hà Nội doc
Bảng 4.24 Biểu đồ đánh giá về giá đất (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w