HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN (Tên môn học) Chuyên đề Họ và tên Sinh ngày tháng năm Số báo danh Lớp , ngày tháng năm 2021 MỤC LỤC MỤC LỤ.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
(Tên môn học)
Chuyên đề:
Họ và tên:
Sinh ngày tháng năm…
Số báo danh:
Lớp:
…., ngày … tháng năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐTCTSCĐK Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện HĐTCTS Hợp đồng tặng cho tài sản
Trang 4PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Hợp đồng là một chế định quan trọng, được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bên cạnh cá quy định chung về hợp đồng, tại các BLDS năm
1995, BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đều cómục riêng quy định về hợp đồng thông dụng, trong đó bao gồm HĐTCTS Cùng với sự phát triển của kinh tế, xãhội, các HĐTCTS đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng Kéo theo đó, các tranh chấp liên quan đến HĐTCTS trên thực tế phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp Việc giải quyết tốt các tranh chấp về HĐTCTS sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đó ổn định và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cá giao dịch trong đời sống, xã hội
Nhằm mục đích báo cáo kết quả cho môn học công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, mượn vay tài sản của lớp đào tạo nghề công chứng tại thaanhf phố Hồ Chí Minh, tác giả nghiên cứu về quan điểm:
“Theo anh (chị) nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho
có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận về quy định về hợp đồng tặng cho có điều kiện tại Bộ luật dân sự”
Trang 5PHẦN 2 NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận về hợp đồng tặng cho có điều kiện
Việc tặng cho tài sản có thể không kèm điều kiện hoặc kèm theo một điều kiện nhất định Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ được sử dụng là hợp đồng tặng cho không có điều kiện (hoặc hợp đồng tặng cho thông thường) và hợp đồng tặng cho có điều kiện Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên được tặng cho Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Trong trường hợp nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có thể được xác định là hợp đồng tặng cho có điều kiện Hợp đồng tặng cho có điều kiện hay hợp đồng tặng cho tài sản
có điều kiện (HĐTCTSCĐK) được quy định tại Điều 462 BLDS năm 2015) là trường hợp bên được tặng cho muốn được nhận tài sản tặng cho thìphải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên được tặng cho Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho
đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện Quy định này hoàn toàn phù hợp với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho Vì khi chưa chuyển giao tài sản thì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực, do đó, mặc dù bên được tặng cho đã hoàn thành điều kiện thì bên tặng cho không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó, bên tặng cho thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện Ví dụ: A thỏa thuận tặng B một con bò với điều kiện B phải xây chuồng bò; B xây chuồng bò xong nhưng A không giao bò cho B thì A có trách nhiệm phải thanh toán chi phí B đã
bỏ ra để xây chuồng bò
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại Thực tế, để nhận được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do
Trang 6đó, nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện thì đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên tặng cho Thậm chí, nếu trong thời gian giữ tài sản, bên được tặng cho làm mất mát, hư hỏng tài sản thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho
Giữa HĐTCTSCĐK và giao dịch dân sự có điều kiện, hợp đồng có điều kiện có những điểm khác biệt như:
Thứ nhất, HĐTCTSCĐK không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện Giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu làviệc phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch phụ thuộc vào sự kiện điều kiện xảy ra theo sự thỏa thuận giữa cá bên chủ thể trong giao dịch Qua đó được hiểu, điều kiện trong giao dịch có điều kiện là những sự kiện pháp
lý do chính các bên thỏa thuận mà khi điều kiện xảy ra thì làm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực của giao dịch theo một trong hai chiều hướng: Làm phát sinh hiệu lực của giao dịch hoặc làm hủy bỏ hiệu lực của giao dịch Nếu chiếu quy định về giao dịch có điều kiện vào HĐTCTSCĐK thìrõ ràng, tặng cho tài sản có điều kiện khác về bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện bởi hai lý do sau đây:
Một là, điều kiện trong giao dịch có điều kiện phải lànhững sự kiện qua đó làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của giao dịch dân sự; còn điều kiện trong tặng cho tài sản có điều kiện không được coi là căn cứ để làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng tặng cho Trong khi đó, điều kiện tặng cho không phải là những sự kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của HĐTCTS mà thực chất đây là những nghĩa vụ mà bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản tặng cho
Hai là, những sự kiện nằm trong điều kiện của giao dịch có điều kiện phải mang tính chất khách quan, việc phát sinh điều kiện không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Trong khi đó, điều kiện của tặng cho làmột hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự do bên được tặng cho thực hiện Tức là người được tặng cho sẽ là người thực hiện, tác động để điều kiện do bên tặng cho đưa ra được thực hiện trên thực tế
Từ các phân tích trên, cho thấy HĐTCTSCĐK không có cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện
Thứ hai, HĐTCTSCĐK không phải là hợp đồng có điều kiện
Đối chiếu, so sánh quy định về HĐTCTSCĐK và hợp đồng có điều kiện đang được quy định trong BLDS năm 2015 thì có thể nhận thấy hai giao dịch này cũng không cùng bản chất Bởi lẽ: điều kiện trong HĐTCTSCĐK là nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi được tặng cho tài sản; điều kiện trong hợp đồng có điều kiện lại là điều kiện để làm cơ sở cho việc thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng (khoản 6 Điều 402 BLDS năm 2015)
Từ các phân tích trên, HĐTCTSCĐK đang được ghi nhận không cùng bản chất với giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện Do đó, khái niệm về
Trang 7HĐTCTSCĐK không được xây dựng trên nền tảng khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện
2 Thực tiễn thực hiện các quy định về hợp đồng tặng cho có điều kiện
2.1 Những mặt đạt được
Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong những hợp đồng không có đền bù được
sử dụng phổ biến trong lưu thông dân sự ở Việt Nam.Trong loại hợp đồng này, một bên nhận được lợi ích từ bên kia nhưng không phải giao lại lợi ích nào cả.Ngoài việc
sử dụng hợp đồng làm phương tiện trao đổi những lợi ích, các chủ thể còn dùng nó làm phương tiện để giúp đỡ nhau.Vì vậy hợp đồng này thường được giao kết trên cơ
sở tình cảm và tinh thần tương thân tương ái giữa các chủ thể
Có thể nói tiền đề của nó là quan hệ tình cảm sẵn có giữa hai bên chủ thể Đây là lợi hợp đồng mà tính chất của nó đã vượt ra ngoài quy luật giá trị bởi sự chi phối của yếu tố tình cảm Do đó, trong quá trình giao kết loại hợp đồng này dù hứa hẹn nhưng việc chấp nhận đề nghị không mang tính chất rằng buộc đối với bên được đề nghị Vì vậy, đối với loại hợp đồng này, pháp luật đã quy định có hiệu lực khi các bên đã thực
tế trao cho nhau đối tượng tặng cho hoặc hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu Hiện nay ngày càng có nhiều người tặng cho quan tâm và xác lập hợp HĐTCTSCĐK Một trong những lý do quan trọng đó là người tặng cho nhằm bảo đảm cuộc sống ổn định của họ sau khi tặng cho tài sản
2.2 Những mặt hạn chế
Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chưa đầy đủ về điều kiện tặng cho, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế liên quan đến tặng cho tài sản có điều kiện Thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề điều kiện tặng cho phải đáp ứng hay thỏa mãn những yếu tố gì, đặc biệt là liên quan đến vấn đề điều kiện tặng cho có được mang lại lợi ích cho bên tặng cho hay một chủ thể thứ ba khác hay không? Chẳng hạn như: Tặng cho con trai toàn bộ nhà đất với điều kiện người con trai này phải cho em gái đã lấy chồng có hoàn cảnh khó khăn 200 triệu đồng và làm từ thiện 30 triệu đồng; tặng cho nhà đất (đang cho thuê) cho con với điều kiện cha mẹ vẫn là người thu tiền thuê cho đến khi chết; tặng cho con nhà đất với điều kiện chỉ để ở không được bán, chuyển nhượng… Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện quy định về điều kiện tặng cho tài sản trong thời gian tới là hết sức cần thiết Khoản 2 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện” Theo quy định này, bên được tặng cho phải “hoàn thành nghĩa vụ” thì mới được yêu cầu bên tặng cho thanh toán chi phí mà mình đã bỏ ra để thực hiện điều kiện Như vậy, quy định này chưa dự liệu trường hợp nếu bên được tặng
Trang 8cho đang thực hiện điều kiện tặng cho mà phát sinh tranh chấp dẫn đến bên tặng cho không chuyển giao tài sản thì họ có được thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện hay không? Đây cũng là một vướng mắc cần có quy định cụ thể để tháo gỡ
Khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Đối chiếu quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu với quy định tại khoản 3 Điều 462 thì tác giả băn khoăn rằng, nếu bên được tặng cho mang tài sản tặng cho đi bán, thế chấp, cầm cố, tặng cho lại… với tư cách chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó, những tài sản này bị đòi lại vì bên được tặng cho đã không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết quyền lợi của bên tặng cho và quyền lợi của bên thứ ba đã xác lập giao dịch lại không hề đơn giản bởi
Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa dự liệu cho vấn đề này Trong khi đó, Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 954 có quy định rất cụ thể: “Trong trường hợp việc tặng cho bị hủy bỏ bởi các điều kiện kèm theo không được thực hiện, người tặng cho được trả lại các tài sản đã tặng cho và không bị ràng buộc bởi bất kỳ nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp nào; người tặng cho có mọi quyền đối với người thứ ba đang chiếm giữ bất động sản tặng cho như đối với người được tặng cho” Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có quy định để giải quyết tranh chấp phát sinh đối với trường hợp trong thời gian bên được tặng cho chiếm hữu, sử dụng tài sản thì tài sản được tặng cho phát sinh hoa lợi, lợi tức hay được đầu tư tăng thêm mà giữa tài sản ban đầu và phần đầu tư tăng thêm không tách ra được; nếu người được tặng cho bắt buộc phải trả lại tài sản cho bên tặng cho vì họ không thực hiện điều kiện (nghĩa vụ) thì việc giải quyết số hoa lợi, lợi tức hay phần tài sản tăng thêm do đầu tư là vấn đề lúng túng cả về lý luận và thực tiễn Trong quá trình xác lập, thực hiện HĐTCTSCĐK không ít các tranh chấp xảy ra giữa bên tặng cho và bên được tặng cho Thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐTCTSCĐK có một vài vấn đề sau đây:
Các tòa án còn lúng túng và giải quyết không thống nhất với trường hợp điều kiện tặng cho không được ghi nhận trong HĐTCQSDĐ Đối với trường hợp này, có tòa công nhận điều kiện tặng cho; ngược lại có tòa bác điều kiện tặng cho Các tranh chấp liên quan đến điều kiện “không được bán”, “không được chuyển nhượng” được
cá tòa mặc nhiên thừa nhận là chưa đúng với bản chất của HĐTCTS HĐTCTS là hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu đối với tài sản Do vậy, việc bên tặng cho đặt
ra điều kiện bên tặng cho chỉ được khai thác, sử dụng mà không được bán, trao đổi hay tặng cho người khác có đi ngược lại với mục đích của giao dịch tặng cho Điều này không được cá tòa án chú trọng khi giải quyết các tranh chấp dạng này Đối với các tranh chấp liên quan đến chủ thể thực hiện điều kiện tặng cho cũng được tòa án giải quyết cảm tính hoặc không được xem xét thấu đáo khi giải quyết HĐTCTSCĐK Tất
cả cá bất cập này đều có một phần nguyên nhâ xuất phát từ lỗ hổng của pháp luật về
Trang 9tặng cho tài sản có điều kiện Thực trạng này được thể hiện qua Bản án số: 142/2018/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, ngày 13-6-2018 v/v “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” Trong vụ việc này, HĐTCTS được xác lập giữa bà B và ông L, theo đó điều kiện bà B đặt ra là đặt cho ông L Ông L phải là người thực hiện điều kiện này Tuy nhiên, sau đó ông L cho con gái đến ở cùng bà B
để thực hiện việc chăm sóc; điều này được sự đồng ýcủa bà B Theo tác giả, điều kiện tặng cho cóthể được thực hiện bởi người được tặng cho hoặc chủ thể thứ ba khác nếu người tặng cho đồng ý Trong tình huống khi con gái L đến ở cùng b B thì B không có bất cứ phản đối nào Khi xem xét vụ việc, tòa án cần chú ý tới sự kiện này để thông qua đó xác định ông L đã thực hiện điều kiện tặng cho hay chưa Tuy nhiên, vấn đề này chưa được xem xét thấu đáo trong bản án
Các tranh chấp liên quan đến sính lễ khi hôn ước bị hủy bỏ còn được giải quyết không thống nhất Có tòa án xác định việc hỏi quà của nhà trai thực chất là HĐTCTS;
có tòa lại lập luận đây là tặng cho tài sản có điều kiện mà khi điều kiện không được thực hiện thì bên nhà gái có nghĩa vụ phải trả sính lễ cho nhà trai; bên cạnh đó, có tòa xác định đây không phải là HĐTCTS và áp dụng tập quán của địa phương để giải quyết tranh chấp
2.3 Tình huống minh họa
Vợ chồng ông T có 5 người con, trong đó anh L là người con trai duy nhất Khi tuổi già sức yếu, vợ chồng ông T quyết định trao toàn bộ diện tích nhà, đất cho vợ chồng anh L Để thực hiện ước nguyện của mình, ngày 9/9/2021, ông T và vợ là bà V
đã đến phòng công chứng số 1, thành phố H làm hợp đồng tặng cho nhà đất của mình cho vợ chồng anh L (mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); với điều kiện vợ chồng anh L phải có nghĩa vụ phụng dưỡng bố mẹ già và sau này chăm lo
mồ mả, hương khói tổ tiên
Sau khi được tặng cho nhà, anh L phá ngôi nhà cũ của cha mẹ và xây dựng một ngôi nhà mới, anh L đã đăng ký quyền sử dụng đất Thời gian đầu, tình hình sống chung của vợ chồng anh L với ông bà T rất tốt Nhưng càng về sau do phát sinh mâu thuẫn, mối quan hệ giữa vợ chồng anh L với ông bà T diễn ra rất căng thẳng dẫn đến không thể sống chung trong cùng một ngôi nhà nữa Tuy nhiên, do không còn chỗ ở khác nên ông bà T làm đơn khởi kiện đòi lại nhà đất của mình hiện do vợ chồng anh L
sử dụng
Giải quyết tình huống:
Ông bà T làm đơn khởi kiện đòi lại nhà đất của mình hiện do vợ chồng anh L sử dụng là có căn cứ Vợ chồng ông bà T có quyền kiện đòi lại nhà đất trong 2 trường hợp: (1) Hợp đồng tặng cho bị Tòa án tuyên bố vô hiệu; (2) Hợp đồng tặng cho có hiệu
Trang 10lực trước thời điểm xảy ra tranh chấp và vợ chồng anh L vi phạm việc thực hiện nghĩa
vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng tặng cho
Hợp đồng giữa ông T và vợ chồng anh L là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, cụ thể là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhà ở gắn liền với đất Điều 457
Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) định nghĩa hợp đồng tặng cho tài sản là “sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” Tặng cho tài sản có hai loại: tặng cho động sản (Điều 458 BLDS) và tặng cho bất động sản (Điều 459 BLDS) Tặng cho quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản là thuộc trường hợp tặng cho bất động sản Điều 459BLDS quy định về tặng cho bất động sản như sau:
1 Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
2 Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Như vậy, hợp đồng tặng cho bất động sản chỉ có hiệu lực khi đảm bảo 2 yêu cầu sau: (1) Hợp đồng được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng
ký quyền sở hữu; (2) Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản hoặc
kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu
Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, Điều 462 BLDS 2005 cũng quy định:
1 Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều kiện mà vợ chồng ông T yêu cầu vợ chồng anh L thực hiện là “phải có nghĩa vụ phụng dưỡng bố mẹ già và sau này chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên” Điều kiện này không trái pháp luật, đạo đức xã hội và đây là trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho Theo khoản 3 Điều 462 BLDS thì trong trường hợp phải