NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THỰC TIỄN TẠI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC MỤC LỤC i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Tính cấp thiết.
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN TẠI CỤC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BÌNH
DƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở pháp luật quy định kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự 4
1.1.1 Khái niệm kê biên và kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự 4
1.1.1.1 Khái niệm kê biên 4
1.1.1.2 Khái niệm kê biên QSDĐ 9
1.1.2 Đặc điểm của kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự 10
1.1.2.1 Mang tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước 10
1.1.2.2 Khi bị kê biên, QSDĐ của người sử dụng đất bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch 11
1.1.2.3 Đối tượng kê biên là một loại tài sản đặc biệt 11
1.1.2.4 Là biện pháp được áp dụng phổ biến để thi hành những nghĩa vụ lớn 12
1.1.2.5 Mục đích kê biên QSDĐ là để bán đấu giá thu tiền nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án 12
1.1.3 Ý nghĩa của kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự 13
1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự 14
Trang 31.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ 14
1.2.2 Thủ tục kê biên, xử lý QSDĐ 18
1.2.3 Xử lý tài sản kê biên 23
1.2.3.1 Các khoản chi phí kê biên 23
1.2.3.2 Thanh toán các khoản ưu tiên 24
1.2.3.3 Thanh toán những khoản nộp ngân sách Nhà nước 24
1.2.3.4 Thanh toán các khoản thi hành án khác 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SƯ TẠI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 26
2.1 Tình hình thi hành án dân sự pháp kê biên QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 26
2.1.1.1 Tình hình THADS trên địa bàn 26
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ trên địa bàn tỉnh Bình Dương 28
2.1.2.1 Công tác quản lý đất đai 28
2.1.2.2 Ý thức pháp luật của người dân 31
2.1.2.3 Sự phối hợp giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác thi hành án 32
2.2 Kết quả, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng biện pháp kê biên, xử lý QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 32
2.2.1 Kết quả của việc áp dụng biện pháp kê biên, xử lý QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 32
2.2.2 Những vướng mắc và hạn chế trong việc áp dụng biện pháp kê biên, xử lý QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 35
2.2.2.1 Những vướng mắc và hạn chế trong xác minh điều kiện thi hành án 35
2.2.2.2 Những vướng mắc, hạn chế trong việc tổ chức cưỡng chế 36
Trang 42.2.2.3 Những vướng mắc, hạn chế trong việc định giá QSDĐ 37
2.2.2.4 Những vướng mắc và hạn chế trong việc bán đấu giá QSDĐ 37
2.2.2.5 Những vướng mắc và hạn chế trong việc thanh toán tiền bán đấu giá QSDĐ để thi hành án 38
2.2.3 Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 40
2.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp kê biên, xử lý QSDĐ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 42
2.3.1 Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật 42
2.3.2 Các giải pháp về thực thiện pháp luật 48
2.3.2.1 Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 48
2.3.2.2 Nâng cao ý thức pháp luật của người dân 48
2.3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp hành viên 49
2.3.2.4 Tăng cường công tác quản lý đất đai 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thi hành án dân sự (THADS) cưỡng chế thi hành án là một trong nhữngbiện pháp mà Chấp hành viên lựa chọn để đảm bảo thi hành các Bản án, Quyết địnhcủa Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được chấp hành,góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhànước, tổ chức và công dân, bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong quá trình xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Kê biên quyền sử dụngđất(QSDĐ) là công cụ hữu hiệu và là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêmkhắc nhất thường được Chấp hành viên lựa chọn áp dụng nhằm thi hành nghĩa vụ trảtiền của người phải thi hành án theo Bản án, Quyết định của cơ quam thẩm quyền Đây
là biện pháp cưỡng chế có vai trò trong việc khôi phục, bảo vệ các quyền và lợi íchtrong xã hội bị xâm hại phạm, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân và Nhà nước Nhận thức được tầm quan trọng của cưỡng chế thi hành án nóichung, cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất nói riêng trong trong việcđảm bảo thực thi các Bản án, Quyết định của các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành,các quy định về cưỡng chế thi hành án nói chung được quy định cụ thể, chặt chẽ vàđầy đủ hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt trong Luật thi hành án dân
sự 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Nó đãtháo gỡ kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong công tác kê biên QSDĐ, tài sản gắnliền với đất và các vấn đề khác trong thi hành án dân sự mà các văn bản quy phạmpháp luật về thi hành án dân sự trước đó mắc phải
Trong quá trình THADS, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận vớinhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo Bản án, Quyết định của Tòa ánnhưng khi người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục, mặc dù có điều kiệnthi hành án mà tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ, không tự nguyện thi hànhthì buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế để thi hành án.Kê biên QSDĐ, tàisản gắn liền với đất là một biện pháp cưỡng chế kê biên phức tạp đòi hỏi Chấp hànhviên phụ trách hồ sơ thi hành án phải có kỹ năng toàn diện mới có thể thực hiện đượccông việc này.Mặt khác việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần phải có sự phối hợp củacác ngành, các cấp, nếu thiếu một thành phần theo quy định thì buổi cưỡng chế kê biên
Trang 7đó phải dừng hoặc hoãn, gây tổn thất lớn về công sức, kinh tế và tài sản cho các bênđương sự, tổ chức và Nhà nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp kê biên QSDĐ trong THADS qua thực tiễn tạiCục thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương có ý nghĩa quan trọng trong việc cải cách Tưpháp và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự Vì những lý do trên, tác giả lựa
chọn đề tài: “Những vấn đề lý luận về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án Dân sự - Thực tiễn tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về kê biênQSDĐ; nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên QSDĐ vàviệc thực tiễn thực hiện biện pháp cưỡng chế này tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh BìnhDương Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cácquy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên QSDĐ và thực tiễn thực hiện kêbiên QSDĐ tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương từ đó tìm ra nguyên nhân vàgiải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả công tác kê biên QSDĐ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về kê biên QSDĐ, các quyđịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên QSDĐ và thực tiễn thực hiện cácquy định này tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương
Phạm vì nghiên cứu của đề tài nằm trong các quy định về kê biên QSDĐ trongthi hành án dân sự theo Luật Thi hành án Dân sự (sử đổi, bổ sung năm 2014)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tải sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm duyvật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứukhoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đểthực hiện đề tài
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 2 chươngnhư sau:
Trang 8Chương 1 Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật thi hành án dân sự về
kê biên quyền sử dụng đất
Chương 2 Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sư tại Cụcthi hành án dân sự tỉnh Bình Dương và một số kiến nghị
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở pháp luật quy định kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm kê biên và kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự
1.1.1.1 Khái niệm kê biên
Trong lịch sử hình thành, phát triển của loài người đã trải qua các giai đoạn pháttriển khác nhau Giai đoạn chưa có Nhà nước đó là thời kỳ Công xã nguyên thủy Conngười sống từng bầy đàn, xã hội chưa phân chia thành giai cấp, việc quản lý xã hộibằng uy tín, tự giác trong xã hội Các quan hệ xã hội được giải quyết bằng cách noigương, giải thích, thuyết phục các thành viên trong xã hội tự nguyện thực hiện, việccưỡng chế trong giai đoạn này không đặt ra Đến giai đoạn xuất hiện Nhà nước (Nhànước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa )đồng thời xuất hiện các giai cấp trong xã hội, các quan hệ xã hội ngày càng nhiều, cácmâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội gia tăng Giai cấp thống trị xây dựng nên Bộ máynhà nước, trước tiên để bảo vệ cho lợi ích của gia cấp mình, đồng thời để quản lý xãhội đi theo một mục tiêu nhất định Đến giai đoạn này nhiều quan hệ xã hội không thểgiải quyết bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục mà phải giải quyết bằng biện phápcưỡng chế của Nhà nước để duy trì trật tự xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.Như vậy Nhà nước xuất hiện thì cưỡng chế cũng xuất hiện để Nhà nước sử dụngbiện pháp cưỡng chế nhằm quản lý, điều hành đất nước và bảo vệ Nhà nước đó Theo
từ điển Chữ nôm Tập 1 thì cưỡng là thúc ép, buộc tuân theo ý trí mình [Từ điển Chữ
nôm Tập 1, 2014]; chế là kìm giữ, nén lại, tạo ra [Từ điển Chữ nôm Tập 1, 2014] Vậy
cưỡng chế là một từ được ghép bởi hai từ cưỡng và từ chế để tạo thành từ cưỡng chế.Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm
1994 viết: " Cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo" [Từ điểnTiếng việt, 1994] Nhưng Theo cuốn từ điển Tiếng việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuấtbản Từ điển bách khoa năm 2012 làm rõ hơn khái niệm cưỡng chế là thêm hai từ phápluật: " Cưỡng chế là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo pháp luật" [Từ điểnTiếng việt, 2012] Trong tiếng Anh cưỡng chế là Coerce, có nghĩa là buộc ai phải làmcái gì [Từ điển Tiếng việt, 1994]
Trang 10Tựu chung lại cưỡng chế được hiểu là Nhà nước dùng quyền lực của mình buộc
cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một hành vi hoặc nghĩa vụ nhất định, theoquy định của pháp luật hoặc là quyền lực xã hội buộc mọi người phải tuân theo luật,lệ đã đặt ra
Cưỡng chế gằn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong nhữngphương pháp chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước Pháp quyền,việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội[Giáo trình Luật THADS Việt Nam, 2012] Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông quanhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà nước traoquyền cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: cưỡng chế hành chính,cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan tòa án và cưỡngchế thi hành án
Trong hoạt động quản lý hành chính và xử lý vi phạm hành chính, cưỡng chếhành chính được UBND và các cơ quan hành chính thực hiện như: cưỡng chế hànhchính đối với những đối tượng chống đối không di dời tài sản để giải phóng mặt bằngphục vụ cho quốc phòng hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm hành chính thìcác cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tạiKhoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính như kê biên tài sản, khấu trừ tàikhoản của cá nhân, tổ chức Các biện pháp cưỡng chế của cơ quan điều tra đượctrao quyền cho thủ trưởng cơ quan điều tra thực hiện được quy định tại Khoản 2 Điều
34 Bộ luật tố tụng hình sự như: quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, kê biêntài sản Trong hoạt động tố tụng cơ quan tòa án cũng được Nhà nước trao quyền được
áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự vềcác biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản tranh chấp, phong tỏa tài khoảntạingân hàng, tổ chức tín dụng khác Ngoài ra cơ quan THADS cũng được Nhànước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS được quy địnhtại Điều 71 Luật THADS trong đó có biện pháp kê biên, xử lý tài sản
Theo Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp viết cưỡngchế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan THADS, do Chấp hànhviên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiệnnhững hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành ánđược áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà
Trang 11không tự nguyện thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thihành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc chốn tránh viện thi hành á.
Theo Tài liệu bồi dưỡng Chấp hành viên trung cấp định nghĩa cưỡng chếTHADS là biện pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi hành ánphải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa
án Biện pháp cưỡng chế do Chấp hành viên quyết định trong trường hợp người phảithi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
Qua hai định nghĩa trên chúng ta thấy cưỡng chế THADS đều có những đặc điểmchung đó là chủ thể thực hiện phải là Chấp hành viên là người trực tiếp ra quyết địnhcưỡng chế; người phải thi hành án phải có điều kiện thi hành án; người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành án
Qua đó biện pháp cưỡng chế là phương thức, cách thức dùng quyền lực nhà nướcbuộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của phápluật, do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợiích của cá nhân, cơ quan, tổ chức và xã hội bị xâm hại
Biện pháp cưỡng chế THADS cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế củaNhà nước trao quyền áp dụng trong trường hợp khi bản án, quyết định của tòa án đã cóhiệu lực pháp luật mà các đương sự không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án vàchỉ do Chấp hành viện thực hiện Do đó Biện pháp cưỡng chế THADS được hiểu làbiện pháp cưỡng chế THADS dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành
án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do Chấp hành viên áp dụng trongtrường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thihành án [Giáo trình Luật THADS Việt Nam, 2012]
Công tác THADS chỉ là một bộ phận của thi hành án nói chung Ở nước ta hiệnnay được phân ra làm hai bộ phận, thi hành án hình sự và THADS Thi hành án hình
sự được Chính phủ giao cho Bộ công an quản lý, công tác THADS được Chính phủgiao cho Bộ Tư pháp quản lý Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hình sự
hà khắc hơn biện pháp cưỡng chế THADS Sự khác biệt giữa thi hành án hình sự vàTHADS được thể hiện ở căn cứ và tính chất của cưỡng chế thi hành án Nếu như căn
cứ cưỡng chế thi hành án hình sự là phần hình phạt được tuyên trong quyết định củabản án hình sự đó là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt tử hình.Ngược lại cưỡng chế THADS căn cứ cưỡng chế chủ yếu là các bản án, quyết định dân
Trang 12sự, hôn nhân gia đình, kinh tế và lao động liên quan đến nghĩa vụ tài sản hoặc nhữnghành vi Về tính chất cưỡng chế hình sự có hiệu lực thi hành án ngay sau khi bản ánhình sự có hiệu lực pháp luật, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sựđối với người phải thi hành án, họ không có thời gian tự nguyện thi hành án Ngay sau
có quyết định thi hành án, người phải thi hành án hình sự phải chấp hành ngay tứckhắc, nếu không cơ quan công an tiến hành cưỡng chế bằng việc bắt hoặc dẫn giảingười phải thi hành án đến các trại giam để thi hành án Nhưng đối với việc cưỡng chếTHADS chỉ đặt ra khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS ra quyếtđịnh thi hành án, giao cho Chấp hành viên thực hiện, Chấp hành viên định cho ngườiphải thi hành án một thời hạn không quá 10 ngày, hết thời hạn trên người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành án, mặc dù có điều kiện thi hành án thì lúc này Chấphành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phảithi hành án Tuy nhiên trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành
vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên cóquyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành án mà không cần áp dụng thờigian tự nguyện thi hành án
Kê biên là một động từ ghép bởi hai từ kê và biên Theo từ điển Tiếng việt củaViện ngôn ngữ học do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm 1994 viết: “ Kê là viết ra theothứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo” “ Biên viết lên trang giấy” Hiện nay kê biên được hiểu là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặcchuyển dịch tài sản của người vi phạm pháp luật Điều này có nghĩa khi kê biên mộttài sản của một người nào đó thì quyền sở hữu tài sản của họ bị hạn chế, họ khôngđược chuyển đổi, chuyển dịch, định đoạt tài sản bị kê biên đó Mặt khác tài sản bị kêbiên phải là của người vi phạm pháp luật, nếu một người không vi phạm pháp luật thì
sẽ không bị kê biên
Theo cuốn Từ điển luật học kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảođảm việc thi hành án hình sự, chỉ áp dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sựquy định Với nội dung định nghĩa này khái niệm kê biên chỉ ở nghĩa hẹp trong lĩnhvực điều tra hình sự Trên thực tế trong hoạt động quản lý Nhà nước có một số cơ quanNhà nước được Nhà nước được trao quyền thực hiện việc kê biên tài sản đó là cơ quanđiều tra của Công an, tòa án nhân dân các cấp, cơ quan quản lý hành chính và cơ quanTHADS thì khái niệm đó chưa đầy đủ
Trang 13Tuy nhiên trong lĩnh vực THADS thì không hoàn toàn đúng theo nghĩa trên theokhoản 3 Điều 71 Luật THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
thì kê biên được hiểu là một trong số các biện pháp cưỡng chế THADS, khi Chấphành viên áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án trong trườnghợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án Ở đây yếu tố không tựnguyện thi hành án không đồng nghĩa với việc, người phải thi hành án vi phạm phápluật thi hành án, bởi vì nhiều trường hợp người phải thi hành án rất muốn bán được tàisản để trả nợ nhưng không thể bán được vì yếu tố khách quan
Vậy, kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện nhằm bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản, đối vớicác cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân
Trong hoạt động THADS kê biên được hiểu là một trong những biện pháp cưỡngchế THADS Công tác THADS nói riêng và công tác thi hành án nói chung là mộttrong những hoạt động quan trọng nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bịxâm hại THADS là hoạt động thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịchthu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí, tiềnphạt và quyết định dân sự trong bản án hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết địnhhành chính và toà án, quyết định của tòa án giải quyết pháp sản, quyết định xử lý vụviệc cạnh tranh của Hội đồng xử lý các vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản củabên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại (sau đây gọichung là bản án, quyết định của tòa án) Việc cưỡng chế chỉ đặt ra khi người phải thihành án có điều kiện thi hành án và đã hết thời gian tự nguyện thi hành án thì Chấphành viên mới áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để buộc người phải thihành án thực hiện nghĩa vụ của mình
Khái niệm kê biên luôn đi cùng với khái niệm các biện pháp cưỡng chế Kê biêntài sản tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiện để Nhà nước thực hiện quyền lựcnhà nước của mình Cũng giống như cưỡng chế, kê biên tài sản Nhà nước cũng traocho các cơ quan khác nhau thực hiện như: Thủ trưởng cơ quan điều tra công an, Thẩmphán tòa án nhân các cấp … trong đó có Chấp hành viên cơ quan THADS Sự khácbiệt này được thể hiện ở những khía cạnh chính là chủ thể áp dụng kê biên và mụcđích kê biên Ví dụ chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn xét xử là thẩm phán giải
Trang 14quyết vụ việc, chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn thi hành án là do Chấp hànhviên Về mục đích kê biên của các cơ quan điều tra và cơ quan tòa án nhằm bảo đảmviệc thi hành án, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo, đương sự.Nhưng mục đích áp dụng biện pháp kê biên của các cơ quan hành chính và cơ quanTHADS là ngoài mục đích như trên còn mục đích xử lý tài sản thanh toán trả tiền chokhoản tiền phạt, khoản thu cho ngân sách nhà nước và chủ nợ.
1.1.1.2 Khái niệm kê biên QSDĐ
Kê biên QSDĐ là một trong 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án Biện pháp cưỡngchế kê biên QSDĐ áp dụng đối với người phải thi hành án có nghĩa vụ về tài sản (tiền)đối với người được thi hành án Nghĩa là biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ khôngđược áp dụng đối với hành vi của người phải thi hành án
Biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ trong THADS cần được phân biệt với việc
kê biên QSDĐ của cơ quan điều tra và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa ánnhư kê biên tài sản đang tranh chấp nếu trong quá trình giải quyết án có căn cứ chothấy có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Biện pháp kê biên của cơ quan điều tra và củatòa án nhằm mục đích ngăn chặn bị cáo và đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản để tránhtrách nhiệm nghĩa vụ tài sản về sau của bị cáo và đương sự đối với Nhà nước, cơ quan,
tổ chức và cá nhân Còn cưỡng chế biện pháp kê biên QSDĐ của cơ quan THADSngoài mục đích ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản mà còn cómục đích là căn cứ pháp lý để xử lý tài sản của người phải thi án để thanh toán tiềncho người được thi hành án, trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyệnthực hiện nghĩa vụ của mình mà bản án, quyết định của tòa án đã xác định
Cũng như kê biên tài sản, kê biên QSDĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện như:Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiềncho người phải thi hành án; người phải thi hành án phải có tài sản để thi hành nghĩa vụtrả tiền cho người được thi hành án Tài sản bị kê biên có thể là tài sản thuộc sử hữuchung, sở hữu riêng của người phải thi hành án, tài sản này có thể do người phải thihành án hoặc do người thứ ba quản lý, sử dụng; đã hết thời gian tự nguyện do Chấphành viên ấn định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặcchưa hết thời gian tự nguyện, nhưng cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản[Giáo trình Luật THADS Việt Nam, 2012] Ngoài ra kê biên QSDĐ cần phải lưu ý một
số điểm được quy định tại Mục 8 Luật THADS như:
Trang 15- Trước khi kê biên QSDĐ phải thông báo với Phòng đăng ký QSDĐ biết Đồngthời Chấp hành viên yêu cầu Phòng đăng ký QSDĐ cung cấp thông tin về QSDĐ bị kêbiên để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
- Chấp hành viên chỉ được kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộctrường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp về đất đai
-Khi kê biên QSDĐ, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đangquản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS
- Trường hợp kê biên QSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu củangười phải thi hành án thì Chấp hành viên kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.Trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành
án thì Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liềnvới đất biết để tháo dỡ, di rời
Kê biên QSDĐ là một trong nhiều biện pháp kê biên tài sản của người phải thihành án trong THADS như: kê biên hoa lợi, kê biên phương tiện giao thông, kê biênvốn góp, kê biên tài sản là đồ vật đang bị khóa hay đóng gói Tuy nhiên kê biênQSDĐ hiện nay là một trong những biện pháp kê biên thực hiện phổ biến, nhưng khókhăn và phức tạp nhất trong các biện pháp kê biên, cưỡng chế THADS
Tóm lại: Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do Chấp hànhviên thực hiện quyền lực Nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộcngười phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định của tòa
án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tựnguyện thi hành án
1.1.2 Đặc điểm của kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự
1.1.2.1 Mang tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước
Ở bất cứ một Nhà nước nào trên thế giới đều có Bộ máy Nhà nước được phânchia thành ba phân nhánh quyền lực, quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tưpháp Để thực hiện quyền lực Nhà nước, các cơ quan Nhà nước được lập ra để thựchiện quyền lực Nhà nước Hệ thống cơ quan THADS được Thủ tướng Chính phủthành lập theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa phương bao gồm: Tổng cụcTHADS thuộc Bộ Tư Pháp, cấp tỉnh có Cục THADS tỉnh, cấp huyện có Chi cụcTHADS huyện Ngoài ra còn có cơ quan THADS trong Quân đội đó là Cục thi hành
Trang 16án thuộc Bộ quốc phòng, Phòng thi hành án thuộc Quân khu Hệ thống cơ quanTHADS này thuộc phân nhánh các cơ quan hành pháp thực hiện quyền hành pháp.Nhà nước trao cho Hệ thống cơ quan THADS thi hành về phần dân sự của bản án,quyết định của Tòa án Hệ thống cơ quan thi hành án này hoạt động thông qua đội ngũcác bộ, công chức và người lao động Tuy nhiên không phải ai cũng được Nhà nướctrao quyền thực hiện việc kê biên QSDĐ nói riêng và thực hiện các biện pháp cưỡngchế THADS nói chung, Nhà nước chỉ trao cho người có chức danh, trong đó có chứcdanh Chấp hành viên.
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án,quyết định theo quy định (Điều 17 Luật THADS) Nội dung của Điều này chỉ ra rằngchỉ có Chấp hành viên mới được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tạiĐiều 71 Luật THADS trong đó có việc áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ
1.1.2.2 Khi bị kê biên, QSDĐ của người sử dụng đất bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch
Biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ mục đích trước tiên là hạn chế một số quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án, mà Nhà nước giao cho Khi Chấp hành viênban hành quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, thì kể từ thời điểm này người phải thihành án không được tự mình chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho,góp vốn và thừa kế QSDĐ, nếu người phải thi hành muốn thực hiện các quyền trênphải thông qua Chấp hành viên phụ trách vụ việc và phải được sự cho phép của Chấphành viên, đồng thời phải làm theo những điều kiện theo quy định của pháp luậtTHADS Việc hạn chế một số quyền này chấm dứt khi người phải thi hành án hoànthành nghĩa vụ tài sản của mình đối với người được thi hành án, bằng quyết định giảitỏa kê biên QSDĐ của Chấp hành viên, đến thời điểm này QSDĐ của người phải thihành án mới không bị hạn chế giao dịch
1.1.2.3 Đối tượng kê biên là một loại tài sản đặc biệt
Trong Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định tài sản bao gồm vật, tiền,giấy tờ có giá và các quyền tài sản [24] QSDĐ là một loại quyền tài sản, loại quyền tàisản này có giá trị rất lớn, được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng cả một hệ thống các cơquan quản lý về đất đai từ Trung ương đến địa phương với số lượng cán bộ, công chứcrất lớn Sự đặc biệt của QSDĐ còn được thể hiện tại Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất
Trang 17nước, được quản lý theo pháp luật Tổ chức, các nhân được Nhà nước giao đất, chothêu đất, công nhận QSDĐ Người sử dụng đất được QSDĐ, thực hiện các quyền vànghĩa vụ theo quy định của pháp luật QSDĐ được pháp luật bảo hộ Điều 688 Bộ luậtdân sự Nghĩa là cá nhân, tổ chức không có quyền định đoạt đất đai, vì đất đai thuộchình thức sở hữu Nhà nước, do Chính phủ thồng nhất quản lý QSDĐ của cá nhân,pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đấthoặc công nhận QSDĐ Tóm lại theo quy định của pháp Luật đất đai Việt Nam QSDĐ
là một tài sản đặc biệt so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
1.1.2.4 Là biện pháp được áp dụng phổ biến để thi hành những nghĩa vụ lớn
Trên thực tế có nhiều tranh chấp được tòa án giải hiện nay có nghĩa vụ trả tiềnlớn việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khấu trừ tài khoản, khai thác tài sản củangười phải thi hành án, kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp diễn ra không phổbiến, không mang lại hiệu quả cao, gây khó khăn cho Chấp hành viên và hầu nhưkhông tương xứng với nghĩa vụ lớn của người phải thi hành án Do đó Chấp hành viênphải áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ đất để thi hành những nghĩa vụ lớn, vì vậy nó
là biện pháp chiếm tỉ lệ lớn hiện này
1.1.2.5 Mục đích kê biên QSDĐ là để bán đấu giá thu tiền nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án
Kê biên QSDĐ đất trong THADS về mục đích khác với việc kê biên của cơ quanđiều tra và cơ quan Tòa án như ở khái niêm kê biên đã phân tích Kê biên QSDĐ do
cơ quan điều tra Công an và cơ quan Tòa án về mục đích kê biên của các cơ quan nàynhằm bảo đảm việc thi hành án sau này, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can,
bị cáo, đương sự Đến đây các cơ quan này không có chức năng xử lý QSDĐ đã kêbiên Nhưng đến giai đoạn THADS thì mục đích của biện pháp kê biên QSDĐ rất rõràng là ngoài mục đích bảo đảm cho việc thi hành án, còn có mục đích khác đó là xử lýQSDĐ đã kê biên để bán đất giá QSDĐ để thu tiền nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụtrả tiền của người phải thi hành án
1.1.2.6 Việc kê biên QSDĐ phải được thực hiện theo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định
Bất một hoạt động nào trong quản lý nhà nước đều phải tuân thủ theo một thủ tụcđược quy định chặt chẽ Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào không tuân thủ theo thủ tục
đó thì vi phạm pháp luật và họ sẽ bị chịu một chế tài tương ứng với những vi phạm đó
Trang 18Việc kê biên QSDĐ trong THADS không nằm ngoài quy luật đó, Chấp hành viên phảithực hiện các thủ tục chặt chẽ từ khi nhận hồ sơ thi hành án, lập hồ sơ thi hành án, xácminh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án, ra quyết định cưỡng chế kê biênQSDĐ, định giá QSDĐ, bán đấu giá QSDĐ, giao QSDĐ đến thanh toán tiền bán đấugiá đều phải theo một trình tự chặt chẽ do Luật THADS và các văn bản dưới luật điềuchỉnh Ngoài ra Chấp hành viên còn phải tuân thủ theo các văn bản pháp luật liên quanđến thi hành án đó là Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đất đai, Luật hônnhân gia đình Như vậy Chấp hành viên kê biên QSDĐ phải thực hiện theo trình tựchặt chẽ do pháp luật quy định.
1.1.3 Ý nghĩa của kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự
Kê biên QSDĐ là biện pháp thi hành triệt để bản án, quyết định của Tòa án
QSDĐ là tài sản có giá trị lớn, vì vậy khi Chấp hành viên thực hiện biện phápcưỡng chế này phần lớn thi hành triệt để bản án, quyết định của tòa án có nghĩa vụ tàisản có giá trị lớn mà các biện pháp cưỡng chế khác không mang lại hiệu quả như biệnpháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, kê biên tài sản có giá trịkhông lớn, Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án … Mặt khácđối với người phải thi hành án, phải thi hành nhiều bản án, quyết định của tòa án, do
đó họ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ về trả tiền thì việc xử lý QSDĐ sẽ bảo đảm thihành triệt để không những một bản án, quyết định mà còn thi hành triệt để nhiều bản
án, quyết định của Tòa án
Kê biên QSDĐ bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng vì lý do hoặc lợi ích
cá nhân nào đó người phải thi hành án không muốn tự nguyện thi hành án, họ nại ranhiều lý do bất hợp pháp để chốn tránh hoặc kéo dài việc thực hiện nghĩa vụ của mìnhđối với người được thi hành án Trong trường hợp này Chấp hành viên thực hiện biệnpháp cưỡng chế kê biên QSDĐ nhằm bảo đảm cho việc thi hành án, đảm bảo cho lợiích cả hai bên người phải thi hành án và người được thi hành án, bởi vì kể từ thời điểmChấp hành viên ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thìcác khoản nợ có đến thời điểm này đều được bảo đảm thanh toán trước Người phải thihành án không thể kéo dài thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình, nhằm mụcđích kéo dài thời gian thi hành án chờ thời cơ có lợi cho mình Người được thi hành án
Trang 19thì nhận được lợi ích vật chất mình được hưởng theo bản án, quyết định của tòa án vớithời giam nhanh nhất Việc thực hiện xong bản án, quyết định của tòa án tránh đượctổn thất về vật chất và tinh thần cho cả hai bên, người được thi hành án và người phảithi hành án.
Kê biên QSDĐ còn có tác dụng lớn trong việc răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân.
Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế lớn phải huy động nhiều lực lượng,liên quan đến nhiều ngành, cấp và được đưa lên thông tin đại chúng Vì vậy thông quabuổi cưỡng chế kê biên QSDĐ nhằm răn đe những đối tượng trây ỳ, chống đối khôngthực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác thông qua buổi cưỡng chế nhằm giáo dục ýthức pháp luật cho mỗi công dân hiểu biết thêm pháp luật về THADS để họ tự điềuchỉnh hành vi của mình trong những trường hợp tương tự
1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên QSDĐ trong thi hành án dân sự
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ
Chấp hành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ
Chấp hành viên phải là công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng,đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, được đào tạo lớp nghiệp vụ Chấp hành viên và phảiqua kỳ thi tuyển Chấp hành viên Chấp hành viên gồm Chấp hành viên sơ cấp, Chấphành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp; Chấp hành viên được Bộ trưởng Bộ
Tư pháp bổ nhiệm; Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hànhcác bản án, quyết định của toà án Theo quy định của Điều 17 Luật THADS chỉ cóChức danh Chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, trong đó
có biện pháp kê biên QSDĐ
Chỉ được kê biên QSDĐ tương ứng với nghĩa vụ thi hành án
Về nguyên tắc Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ tương ứng với nghĩa của ngườiphải thi hành án, vì vậy Chấp hành viên phụ trách vụ việc cần phải cân nhắc kỹ trướckhi kê biên QSDĐ của người phải thi hành án làm sao tương ứng với nghĩa vụ phải thihành án Để thực hiện đúng nguyên tắc này Chấp hành viên phải đáng giá sơ bộ giá trịcủa QSDĐ trước khi kê biên bằng cách trưng cầu các cơ quan chức năng thẩm địnhgiá Giá trị của QSDĐ kê biên sau khi trừ đi các chi phí và phần nghĩa vụ phải thựchiện phải bảo đảm ngang bằng, tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án tránh trường
Trang 20hợp kê biên QSDĐ với giá quá lớn gây tổn hại đến quyền lợi của người phải thi hành
án Nguyên tắc này không những bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án mà cònbảo vệ về quyền tài sản của người phải thi hành án, tránh những tổn thất cho các bênđương sự Tuy nhiên trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớnhơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia đượchoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn cóquyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê QSDĐ của người phải thi hành án để thi hànhán
Không tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ trong những thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án
Nhà nước Việt nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, doNhân dân và vì Nhân dân; do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với gia cấp nông dân và đội ngũ tríthức Với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân đạo trong hoạt độngquản lý Nhà nước, Điều 13 khoản 2 Nghị định số 62 ngày 18/7/2015 quy định cơ quanTHADS không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian
15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượngchính sách, nếu họ là người phải thi hành án Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo ởchỗ tránh cho người phải thi hành án không bị cưỡng chế kê biên QSDĐ trong cácngày tết, ngày lễ và những ngày truyền thống của họ được hưởng như ngày thươngbinh, liệt sĩ mà họ là đối tượng được hưởng …
Không tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ thuộc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên
Cơ quan THADS trước khi kê biên quyền sử đất Chấp hành viên cần phải xácminh kỹ lưỡng, chi tiết nguồn gốc của QSDĐ xem có phải là những đất đai có nguồngốc Nhà nước giao cho các tổ chức quản lý, sử dụng vì mục đích phục vụ quốc phòng,
an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức Ví
dụ như QSDĐ giao cho quân đội làm doanh trại, làm nhà máy, nhà xưởng, kho bãi,trường bắn … cũng như QSDĐ được cấp cho các cơ quan đảng, cơ quan Nhà nướctrong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội làm trụ sở làm việc
Ngoài ra, Chấp hành viên còn phải xác định những QSDĐ Nhà nước giao cho tổchức là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây dựng nhà
Trang 21trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này,nếu không phải là tài sản để kinh doanh Đây là những tài sản gắn liền với QSDĐ củacác sở sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ cho người lao động an tâm công tác, tậntâm, tận lực hết sức mình phục vụ cho doanh nghiệp, gắn với doanh nghiệp vì mục tiêuphát triển bền vững của doanh nghiệp Tất cả những bất động sản nêu trên đều đượcNhà nước bảo đảm không được kê biên để hành án.
Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cưỡng chế kê biên QSDĐ
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cánhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong việc thi hành án Cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS,Chấp hành viên theo quy định của pháp luật THADS Mọi hành vi cản trở, can thiệptrái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định củapháp luật [Luật THADS, Điều.11] Trong Luật THADS và các văn bản pháp luậtTHADS quy định trách nhiệm phối hợp của một số các cơ quan như sau:
Bộ Công an trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật về THADS; phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan THADStrong trường hợp cần thiết; phối hợp với cơ quan THADS trong việc tổ chức cưỡngchế THADS; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác THADS [27,Điều.169]; phối hợp với cơ quan THADS trong việc trả tiền, giấy tờ, tài sản của ngườiphải thi hành án tại trại giam và tạm giam Đồng thời thu các khoản tiền nộp ngân sáchNhà nước của phạm nhân, là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyệnnộp tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện để thi hành án
Tòa án nhân dân Tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật về THADS; phối hợp với cơ quan THADS trong công tácTHADS, giải quyết các yêu cầu giải thích, đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm của cơ quan THADS trong thời hạn quy định của pháp luật; phối hợp với
cơ quan THADS đề nghị Toà án xét, quyết định miễn, giảm hình phạt đối với khoảnthu cho ngân sách Nhà nước cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theoquy định của pháp luật; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác THADS[Luật THADS, Điều.170]
Trang 22Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật về THADS; Phối hợp với cơ quan THADS trong việc tổchức cưỡng chế THADS; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tácTHADS [Luật THADS, Điều.171].
Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quantrong THADS trên địa bàn; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn,phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo
đề nghị của Thủ trưởng cơ quan THADS cùng cấp; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xãtrong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quanTHADS trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụngbiện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về THADStrên địa bàn [Luật Xử lý VPHC, Điều.173.174]
Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác phốihợp với cơ quan THADS cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tàikhoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan THADS;thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản,phong tỏa tài sản; khấu trừ tiền trong tài khoản; giải tỏa việc phong tỏa tài khoản,phong tỏa tài sản của người phải thi hành án [Luật THADS, Điều.176]
Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội phối hợp với cơ quan THADS cung cấp đúng,đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành ánđang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quanTHADS [Luật THADS, Điều 177]
Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm phối hợpvới cơ quan THADS như tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quanđến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng
ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau khi nhận được yêu cầu của Chấp hànhviên, cơ quan THADS; thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, QSDĐ cho ngườimua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hànhán; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, QSDĐ, giấy tờ đăng kýgiao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy
tờ theo quy định của pháp luật [Luật THADS, Điều.178]
Trang 231.2.2 Thủ tục kê biên, xử lý QSDĐ
Lập hồ sơ, xác minh điều kiện thi hành án và ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ
- Lập hồ sơ thi hành án: Quyết định thi hành án là căn cứ để Chấp hành viên lập
hồ sơ thi hành án Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày được phâncông, Chấp hành viên phải lập hồ sơ thi hành án Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn
bộ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên đối với việc thi hành án Chấphành viên phải ghi chép các công việc và lưu giữ tất cả các tài liệu đã và đang thựchiện vào hồ sơ thi hành án gồm: bản án, quyết định; các biên bản bàn giao, xử lý vậtchứng, tài sản đã kê biên, tạm giữ; biên bản xác minh, biên bản giải quyết việc thihành án (có chữ ký của các đương sự vào tất cả các biên bản); giấy triệu tập; giấy mời;các đơn yêu cầu, khiếu nại về thi hành án; các biên lai, phiếu thu, phiếu chi; các tàiliệu liên quan đến việc xử lý tài sản để thi hành án; các công văn, giấy tờ của cơ quanthi hành án, các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án, như: công văn xin ýkiến hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án; công văn trao đổi với cá nhân, cơ quan,
tổ chức hữu quan trong quá trình thi hành án; công văn yêu cầu chuyển tiền, tang vậtcòn thiếu hoặc chưa chuyển giao cho cơ quan thi hành án và các giấy tờ, tài liệu khácliên quan
Hồ sơ thi hành án phải có bìa in theo mẫu thống nhất theo quy định Chấp hànhviên có trách nhiệm ghi đầy đủ, chi tiết nội dung các mục đã in trên bìa hồ sơ Trườnghợp bìa hồ sơ đã cũ, nát, ố nhàu thì được thay thế bằng bìa hồ sơ mới Bìa hồ sơ mớiphải ghi đầy đủ các cột mục, nội dung của bìa hồ sơ cũ Các tài liệu có trong hồ sơ thihành án phải được sắp xếp cẩn thận, đánh số bút lục và liệt kê đầy đủ vào bảng danhmục in trên bìa hồ sơ thi hành án Chấp hành viên phải liệt kê và sắp xếp tài liệu theothứ tự bắt đầu từ bút lục số 01 cho đến bút lục cuối cùng
-Xác minh điều kiện thi hành án: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn
tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấphành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay
Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tàisản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan THADS và phải chịu trách nhiệm vềviệc kê khai của mình
Trang 24Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp ngườiphải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù
mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác địnhđược địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất
01 năm một lần Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiệnthi hành án thì cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành
án về kết quả xác minh Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điềukiện thi hành án của người phải thi hành án
- Ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ: Để ra quyết định cưỡng chế kê biênQSDĐ Chấp hành viên phải tiến hành xác minh tài sản tại thực địa về diện tích, tờ bản
đồ, số thửa đất, loại đất và vị trí ranh giới thửa đất được kê biên xem có khớp với giấychứng nhận QSDĐ được cấp cho người phải thi hành án không ? Sau đó Chấp hànhviên tiến hành xác minh tại cơ quan đăng ký QSDĐ để biết thông tin về tài sản về giaodịch bảo đảm, xem QSDĐ của người phải thi hành án đã đăng ký giao dịch bảo đảmcho một nghĩa vụ nào đó hay chưa? Nếu có Chấp hành viên phải xác định giá trị cònlại có đủ để thi hành án sau khi đã trừ đi các khoản đã được đăng ký giao dịch bảođảm Trên cơ sở đó Chấp hành viên mới có thể ra quyết định kê biên QSDĐ của ngườiphải thi hành án
Tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ
Trước khi tiến hành tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ, Chấp hành viên phải lập
kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế trong trường hợp người phải thihành án tẩu tán tài sản hoặc trong trường hợp khẩn cấp tạm thời thì kế hoạch cưỡngchế thi hành án bao gồm các nội dung chính như: tên người bị áp dụng biện phápcưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; Thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương
án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chiphí cưỡng chế
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quanCông an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp hành viên
Trang 25Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của
cơ quan THADS cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lậpphương án bảo vệ cưỡng chế Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng,phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lýhành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối,khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội [Luật THADS, Điều.72]
Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợpđược chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai Người phải thihành án chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà thuộc trường hợp được cấp giấychứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạchphải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lýQSDĐ đó [Luật THADS, Điều.110]
Khi kê biên QSDĐ, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đangquản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS Việcn kê biênQSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kêbiên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Trường hợp đất của người phải thi hành án
có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấphành viên chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất Việc
kê biên QSDĐ phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kêbiên, có chữ ký của những người tham gia kê biên [Luật THADS, Điều.111]
Đúng thời gian, địa điểm Chấp hành viên tập trung lực lượng cưỡng chế tạiUBND xã, nơi có QSDĐ kê biên để họp bàn trước khi cưỡng chế nhằm mục đích đánhgiá lại tình hình lần cuối trước khi cưỡng chế; dự kiến những tình huống có thể sảy ra
và phương án giải quyết những tình huống đó từ đó phân công nhiệm vụ cho từngthành viên trong đoàn cưỡng chế để phối hợp nhịp nhành trong quá trình cưỡng chế kêbiên QSDĐ
Sau khi họp bàn cưỡng chế xong, đoàn cưỡng chế kê biên QSDĐ xuống địa điểmtiến hành cưỡng chế Trước tiên Chấp hành viên phải giới thiệu thành phần cưỡng chế,sau đó công bố quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ; chỉ đạo các thành phần cưỡngchế thực hiện công việc đã phân công Khi kê biên QSDĐ phải được lập biên bản, biênbản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, các thành phầntham gia cưỡng chế, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người
Trang 26làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tìnhtrạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng Biên bản kêbiên phải có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đạidiện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, thành phầntham gia cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản Kết thúc buổi cưỡng chế
kê biên QSDĐ, Chấp hành viên thông qua biên bản cưỡng chế Sau đó trở về UBND
xã tổ chức rút kinh nghiệm trong buổi cưỡng chế kê biên QSDĐ
Định giá QSDĐ
Định giá QSDĐ về nguyên tắc ngay sau khi kê biên tài sản mà đương sự thỏathuận được về giá trị QSDĐ hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biênbản về thỏa thuận đó Giá QSDĐ do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấugiá Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên
ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên kýhợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
- Đương sự không thỏa thuận được về giá và không thỏa thuận được việc lựachọn tổ chức thẩm định giá;
- Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
- Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật thihành án sửa đổi, bổ sung năm 2014
Bán đấu giá QSDĐ
Thủ tục bán đấu giá QSDĐ trước Pháp lệnh THADS năm 2004 là do Chấp hànhviên thực hiện Nhưng hiện nay việc bán đất giá QSDĐ do các tổ chức bán đấu giáthực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản
Về nguyên tắc đương sự có quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá trong thờihạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá Chấp hành viên ký hợp đồngdịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thỏa thuận Trườnghợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá
để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tàisản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá Còn việc bán đấu giáđối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng
Trang 27Tuy nhiên Chấp hành viên cũng có quyền bán đấu giá QSDĐ trong trường hợptại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có QSDĐ chưa có tổ chức bán đấu giáhoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.Việc bán đấu giá đối bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhậnđược văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá [Luật THADS, Điều.101].Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án cóquyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế,hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá Người phải thihành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản.Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giảiquyết.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chứcbán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham giađấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầuđương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhậnđược thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mứcgiảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá Mỗilần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó
có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản
ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu
- Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hànhviên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sảncho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quanTHADS và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản Hết thời
Trang 28hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý định giá, bánđấu giá và xử lý tiền bán đấu giá theo quy định;
- Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩmnhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đóthì cơ quan THADS yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lýđối với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theothủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm [Luật THADS, Điều.117]
- Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bánđấu giá nhưng bản án, quyết định bị đình chỉ thi hành án, kháng nghị, sửa đổi hoặc hủythì cơ quan THADS tiếp tục hoàn thiện thủ tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡngchế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợpsau đây:
+Trình tự, thủ tục bán đấu giá vi phạm quy định của pháp luật do có lỗi củangười mua được tài sản bán đấu giá;
+Người phải thi hành án, người được thi hành án và người mua được tài sản bánđấu giá có thỏa thuận khác [Luật THADS, Khoản 2 Điều 103 ]
Việc giao QSDĐ cho người trúng đấu giá xong thì lúc này việc thực hiện quyếtđịnh cưỡng chế kê biên quyền sử đất mới kết thúc
1.2.3 Xử lý tài sản kê biên
1.2.3.1 Các khoản chi phí kê biên
Trong quá trình xử lý kê biên QSDĐ Chấp hành viên phải chi các khoản chi phítrong quá trình như thẩm định giá, bán đấu giá, chi phí cho đoàn cưỡng chế kê biênQSDĐ, chi phí cho việc thuê nơi gửi, gữi tài sản và giao QSDĐ cho người trúng bánđấu giá QSDĐ
Ngoài ra trong trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phảithi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toáncác khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuênhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành
án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thihành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01năm [Luật THADS, khoản 5 Điều 115]
Trang 291.2.3.2 Thanh toán các khoản ưu tiên
Thứ nhất: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thếchấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưutiên thanh toán trước khi trừ các chi phí và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115Luật THADS
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bênđược thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên đểbảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố,thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên
có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí và khoản tiền quy định tại khoản 5Điều 115 Luật THADS
Thứ hai: Những khoản ưu tiên thanh toán đó là tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiềncông lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiềnbồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần Đây là những khoảntiền cần thiết cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người lao động nên thứ tự ưu tiênhàng đầu mặc dù những khoản tiền không có những hợp đồng bảo đảm cho nhữngkhoản tiền họ được hưởng
1.2.3.3 Thanh toán những khoản nộp ngân sách Nhà nước
Ngoài những khoản ưu tiên trên khi thanh toán trên Chấp hành viên phải tính đếnnhững khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước như:
-Án phí, lệ phí tòa án là khoản tiền được xác định trong bản án, quyết định củatòa án gồm án phí không có giá ngạch và án phí có giá ngạch, lệ phí chi cho định giáQSDĐ trước khi xét xử Khoản tiền này thu để bù đáp một phần ngân sách
Nhà nước chi cho công tác xét xử cho nên pháp luật THADS xếp vào nhữngkhoản ưu tiên chi trả trước;
- Tiền phạt là khoản tiền xác định trong bản án, quyết định của tòa án bao gồm cảtiền phạt trong hình phạt chính và hình phạt bổ sung được quy định trong một số tộiđược quy định trong Bộ luật hình sự;
- Khoản tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước và khoản truy thu thu tiền thu lợi bấtchính cũng là những khoản tiền xác định trong bản án, quyết định của tòa án, đây lànhững khoản tiền do bị cáo thu lợi trong quá trình phạm tội có được
Trang 301.2.3.4 Thanh toán các khoản thi hành án khác
Khoản tiền còn lại được thanh toán là khoản bồi thường, các khoản vay, khoảntiền đóng góp công sức, khoản đóng góp phí tổn nuôi con, và các khoản khác
Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành ánđược thực hiện như sau:
- Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thìviệc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toáncho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó; sốtiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thihành án khác tính đến thời điểm thanh toán;
- Sau khi thanh toán các khoản chi phí, thuê nhà và các khoản theo bản án, quyếtđịnh, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kê biên QSDĐ là một giai đoạn trong quá trình thực thi bản án, quyết định củaTòa án có hiệu lực pháp luật Khác với kê biên QSDĐ của các cơ quan Công an vàTòa án, Kê biên quyền sử dụng của cơ quan THADS là một biện pháp cưỡng chế bảođảm thi hành án triệt để bản án, quyết định của Tòa án đối với người phải thi hành án,
có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án Hơn nữa cưỡng chế kêbiên QSDĐ trong THADS thông qua rất nhiều thủ tục như: xác minh điều kiện thihành án, cưỡng chế kê biên QSDĐ, thẩm định giá QSDĐ, bán đấu giá QSDĐ, giaoQSDĐ va thanh toán tiền bán QSDĐ Việc kê biên QSDĐ của cơ quan THADS cònkhác với kê biên QSDĐ của các cơ quan khác là phải cần có sự tham gia, phối hợp củanhiều cơ quan cơ liên quan thì mới thành công, nếu thiếu sẽ thất bại Do vậy việc kêbiên QSDĐ là một gian đoạn khó khăn phức tạp nhất trong công tác THADS
Với ý nghĩa là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm THADS; đảm bảo quyềnlợi của các bên đương sự; Kê biên QSDĐ cũng góp phần hoàn thiện thủ tục THADS.Sau khi Việt Nam thực hiện đổi mới toàn diện năm 1986, thủ tục kê biên QSDĐ đượcdần dần hoàn thiện qua các văn bản pháp luật như Pháp lệnh THADS 1993, Pháp lệnhTHADS 2004, Luật THADS năm 2008 và Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014nhằm đáp ứng được trong công cuộc đổi mới của đất nước trong cơ chế thị trường