Bởi vậy, sự độc lập của NHNN Việt Nam trong việc thực thi chính sách tiền tệ là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng nhữn
Trang 1TÓM T T Đ TÀI TệNH Đ C L P C A NGÂN HÀNG TRUNG NG TRONG M I QUAN H
V I L M PHÁT ậ NGHIÊN C U TH C T T I VI T NAM
Lý do ch n đ tài
Lạm phát luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia bởi lẽ nó có những tác động rất lớn không chỉ đến đời sống của người dân mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Bên cạnh đó lạm phát cao còn làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và làm tiềm ẩn các nguy cơ bất ổn xã hội Trải qua quá trình phát triển, vai trò quan trọng của NHTW trong việc điều hành CSTT trong việc kiểm soát
lạm phát ngày càng thể hiện rõ nét hơn, đưa Việt Nam vượt qua được những giai đoạn vô cùng khó khăn, thử thách trong quá trình phát triển Tuy nhiên, đi cùng với sự hội nhập,
mở cửa, đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam phải chịu tác động nhiều hơn từ diễn
biến nền kinh tế thế giới, cũng như gia tăng nguy cơ bất ổn, từ đó mà diễn biến lạm phát ngày càng phức tạp Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam lúc này dần bộc lộ một số
hạn chế mà xuất phát điểm là do những mâu thuẫn mục tiêu, độ trễ, cũng như sự không
nhất quán trong thực hiện chính sách Từ đó hiệu quả thực thi chính sách sụt giảm, trong
đó có bình ổn mức giá (lạm phát)
Bởi vậy, sự độc lập của NHNN Việt Nam trong việc thực thi chính sách tiền tệ là một vấn
đề cần được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh đã có nhiều công trình nghiên cứu cho
thấy rằng những quốc gia có NHTW độc lập cao thì sẽ duy trì được mức lạm phát ở mức
hợp lý nhất thông qua việc điều hành các chính sách trở nên linh hoạt hơn, kịp thời hơn, bám sát những diễn biến phức tạp của thị trường Hơn thế nữa, theo tìm hiểu của nhóm nghiên cứu, hiện nay chưa có nghiên cứu định lượng nào xác nhận sự tồn tại mối quan hệ
giữa mức độc lập của NHNN Việt Nam với lạm phát
Chính bởi những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài: “Tính đ c l p
c a ngơn hƠng Trung ng trong m i quan h v i l m phát ậ Nghiên c u th c t t i
Vi t Nam” Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra những nhận định về mức độc lập của NHNN
Việt Nam với lạm phát trong hiện tại và gợi ý những đề xuất trong thời gian sắp tới
Trang 2M c tiêu nghiên c u
Nhóm nghiên cứu có ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
(1) Tìm hiểu về tính độc lập của ngân hàng Trung ương và mối quan hệ của tính độc lập của ngân hàng Trung ương với lạm phát
(2) Kiểm tra xem liệu có tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa mức độc lập của ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tỷ lệ lạm phát
(3) Đề xuất về tính độc lập của ngân hàng Nhà nước Việt Nam phù hợp thực tiễn hiện tại
Ph ng pháp nghiên c u
Đầu tiên, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa tính độc
lập của NHNN Việt Nam với tỷ lệ lạm phát Công việc này được thực hiện qua hai bước Bước một, kiểm tra tác động của cải cách luật NHNN – những cải cách mà có ảnh hưởng
tới chỉ số độc lập của NHNN, tới tỷ lệ lạm phát thông qua nhận diện những sự phá vỡ cấu trúc nội sinh trong chuỗi tỷ lệ lạm phát động1 bằng cách kiểm định nghiệm đơn vị, và so sánh các ngày phá vỡ thu được với những năm mà thực hiện cải cách Bước hai, hồi quy2
tỷ lệ lạm phát động3 theo chỉ số độc lập của NHNN động để thấy được độ lớn của mối tương quan giữa chúng
Sau đó, nhóm nghiên cứu thực hiện phân tích mô hình NHTW ở những quốc gia trên thế
giới nhằm rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Từ đó kết hợp với phương pháp suy luận để đề xuất những biện pháp nhằm tăng tính độc lập của NHNN
Việt Nam phù hợp với bối cảnh hiện tại
N i dung nghiên c u
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, bài nghiên cứu bao gồm 4 phần chính:
Phần 1 Cở sở lý thuyết về tính độc lập NHTW và mối quan hệ của tính độc lập của NHTW với lạm phát
Phần 2 Thực trạng về tính độc lập của NHNN Việt Nam và lạm phát qua các giai đoạn
Phần 3 Phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa tính độc lập của NHNN Việt Nam với
lạm phát
1
Chu ỗi tỷ lệ lạm phát động từ năm 1996 – 2013
2
Do h ạn chế số liệu, các biến trong mô hình hồi quy được lấy từ năm 2000 – 2013
3
T ỷ lệ lạm phát động là chuỗi tỷ lệ lạm phát theo thời gian
Trang 3Phần 4 Bài học kinh nghiệm và ý kiến đề xuất
Đóng góp c a đ tài
Cả về ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn ứng dụng
Ý nghĩa khoa học: Đề tài thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp định lượng đầu tiên trong kiểm tra mối quan hệ giữa tính độc lập của NHNN với lạm phát Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị với phá vỡ cấu trúc để xác định mối quan hệ này (từ đề tài của Arnone and Romelli, 2013 chỉ áp dụng trên các nước OECD),
áp dụng tại một quốc gia đang phát triển là Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Bài nghiên cứu khẳng định mối quan hệ giữa lạm phát với sự độc lập
của NHNN Việt Nam, từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm cải thiện mức độ độc lập
của NHNN hiện tại, hướng tới bình ổn giá cả, phát triển kinh tế
H ng phát triển c a đ tài
Do hạn chế của việc thu thập số liệu, chỉ số độc lập mà nhóm sử dụng để đánh giá mức
độ độc lập của NHNN Việt Nam là chỉ số độc lập pháp định Tuy nhiên, như lập luận trong một số các nghiên cứu trước đây ủng hộ chỉ số độc lập thực tế, hạn chế trong luật pháp cũng như thể chế ở các nước đang phát triển chính là nguyên nhân làm chỉ số độc
lập pháp định không diễn tả chính xác mức độ độc lập của NHTW Bởi vậy, khi giải quyết được vấn đề số liệu để đo lường chỉ số độc lập thực tế thì các nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng chỉ số độc lập thực tế để xác nhận lại xem liệu kết quả về việc tồn tại mối quan hệ này là có còn đúng hay không
Nghị định 156/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 12/2013, đã nới lỏng hơn trong việc NHNN Việt Nam có quyền quyết định việc sử dụng các công cụ chính sách nào để thực
hiện mục tiêu của mình Đây là một cải tiến hết sức rõ rệt trong mức độc lập của NHNN
Việt Nam và điều này gợi ý đến việc phát triển nghiên cứu sau vài năm nữa, nhằm đánh giá sự thay đổi mức độ độc lập này có tác động tích cực đến công tác điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát lạm phát của Việt Nam hay không?
Trang 41 C SỞ LÝ THUY T V TệNH Đ C L P C A NGÂN HÀNG TRUNG NG
VÀ M I QUAN H C A TệNH Đ C L P C A NGÂN HÀNG TRUNG NG
V I L M PHÁT
Các khái niệm
NHTW là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc NHTW là bộ máy tài chính tổng hợp,
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế
Theo Carl E Walsh, 2005, tính độc lập của NHTW liên quan đến sự tự do của chính sách
chính sách
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: “Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của hầu hết các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế”
Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Các nghiên cứu trong nước
Đã tồn tại nhiều những nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự độc lập NHNN Việt Nam với
tỷ lệ lạm phát Bài viết của Lê Xuân Nghĩa (2006) cho thấy NHNN Việt Nam có mức độ độc lập thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính Phủ Đây là nguyên nhân làm hạn chế tính hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong mục tiêu ổn định giá
trị đồng tiền Vì vậy, nâng cao tính độc lập của NHNN là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao một cách căn bản hiệu quả hoạt động của NHTW Theo đó, luật NHNN và luật các tổ chức tín dụng cần phải sớm sửa đổi để thể chế hóa tính độc lập của NHTW
Bài nghiên cứu của Đặng Hữu Mẫn (2007) trình bày về mục tiêu hàng đầu của NHTW là
ổn định giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền, duy trì mức lạm phát thấp và hợp lý trong
một khoảng thời gian dài là dấu hiệu cho sự hoạt động hiệu quả một NHTW Bài viết không xem xét toàn bộ những nội dung trong tính độc lập của NHTW, thay vào đó, tác
giả chỉ nghiên cứu để tiếp cận vấn đề này ở mức độ sơ lược và cơ bản nhất với mục đích phát hiện ra những vấn đề chính trong tính độc lập của NHTW, từ đó chứng minh được
Trang 5vai trò của nó đối với sự ổn định giá của một quốc gia thông qua một minh chứng điển hình nhất Tác giả cũng đưa ra một số đề xuất như là một tiếng nói đóng góp thêm vào nhiệm vụ ổn định giá cả ở Việt Nam hiện nay
Bài nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh (2013) nêu lên mối quan hệ giữa mức độ độc lập
của NHTW và một số chỉ số vĩ mô, đồng thời đưa ra một số mô hình NHTW ở các nước như Trung Quốc, Mỹ, Châu Âu (ECB), Malaysia, đồng thời đánh giá mức độ độc lập của NHTW hiện nay ở Việt Nam để đưa ra các khuyến nghị về vai trò cũng như sự phân nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, NHTW trong việc tổ chức và quyết định các chính sách
tiền tệ, hơn thế nữa, là các khuyến nghị tăng cường tính độc lập cho NHTW Việt Nam Các nghiên cứu ngoài nước
Rogoff (1985) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giao phó chính sách tiền tệ cho một NHTW mà nó đặt nặng việc ổn định tỷ lệ lạm phát hơn so với ổn định việc làm Thật vậy,
sự độc lập giúp NHTW có thể thực thi những chính sách tiền tệ đáng tin cậy nhằm đạt
một tỷ lệ lạm phát thấp hơn, vì vậy loại bỏ vấn đề không nhất quán thời gian trong các chính sách chính phủ (Kydland and Prescott, 1977) Bài nghiên cứu cơ sở của Rogoff có tác động kép, vừa khuyến khích thực hiện cải cách ngân hàng trung ương trên khía cạnh chính sách, và tạo hướng đi cho việc thiết kế các chỉ số phù hợp để thể hiện mức độ độc
Sau đó, bắt đầu với Bade và Parkin (1998), nhiều nghiên cứu khác nhau đã phát triển các
1988; Grilli et al., 1991; Cukierman, 1992; Cukierman et al., 1992; Alesina and Summers, 1993)
Theo sau sự ra đời của các chỉ số này, các lý thuyết thực nghiệm đã ra đời nghiên cứu
mối quan hệ giữa CBI với lạm phát, tăng trưởng kinh tế và các biến vĩ mô khác Các bài
viết của Alesina (1988), Grilli et al (1991), Cukierman et al (1992), và Alesina and
Summers (1993) đều đưa ra một kết quả nổi bật là tồn tại mối tương quan nghịch biến
giữa mức độ độc lập của NHTW và mức lạm phát – tức là lạm phát có xu hướng thấp ở các nước có mức độ độc lập của NHTW cao Bên cạnh tác động tích cực tới mức lạm phát, một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng, tính độc lập của NHTW giúp giảm mức độ biến
Trang 6thiên của lạm phát, ví dụ như trong nghiên cứu của Alesina and Summers (1993), Catão
và Terrones (2003) Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nếu như mức độ lạm phát cho thấy
sự dâng lên của mặt bằng giá cả thì sự biến thiên của nó phản ánh mức độ rủi ro của môi trường vĩ mô – và do vậy nếu như việc tăng tính độc lập của NHTW giúp giảm tính biến thiên của lạm phát thì đây là một chính sách cần thiết nếu một quốc gia muốn duy trì sự
ổn định vĩ mô
Mối quan hệ giữa tính độc lập của NHTW và lạm phát được phát hiện không chỉ ở các
nước đã phát triển mà còn ở một diện rất rộng các quốc gia đang phát triển hay các nền
kinh tế mới nổi Jacome and Vazquez (2008) nghiên cứu tác động của CBI tới lạm phát cho một mẫu gồm 24 quốc gia Mỹ Latinh và Caribean trong thời kỳ từ 1985 – 2002 Kết
quả của họ xác nhận mối quan hệ ngược chiều giữa CBI và lạm phát Arnone et al (2009)
và Laurens et al (2009), sử dụng chỉ số CBI của Grilli et al (1991) cho một nhóm những
quốc gia đang phát triển và thị trường mới nổi cũng cho thấy vai trò quan trọng của ngân hàng trung ương trong việc giữ lạm phát thấp Acemoglu et al (2008) phân tích những thay đổi trong luật ngân hàng trung ương của 52 quốc gia trong thời kỳ từ 1989 – 2003 và
chứng thực rằng CBI có liên quan đến một sự suy giảm đáng kể trong lạm phát ở những nước có mức ràng buộc chính trị trung bình
Lý thuyết thực nghiệm kiểm tra mối quan hệ giữa CBI và lạm phát đã sử dụng các chỉ số tính dựa trên luật NHTW (pháp định), hay dựa trên chỉ số doanh thu của thống đốc NHTW (thực tế) Hồi quy meta của Klomp and de Haan (2010) phân tích 57 nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy rằng chỉ số CBI theo luật định có mối quan hệ ngược chiều với lạm
phát ở những quốc gia OECD, đặc biệt trong suốt những năm 1970 Bên cạnh đó, các
nghiên cứu dựa trên CBI thực tế lại cho thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa các chỉ số
đó và lạm phát, dẫu cho quan hệ nhân quả giữa hai biến này là rất khó để đánh giá
Tuy nhiên, những phương pháp trên đây không cung cấp một đánh giá chi tiết về tác động của những cải cách luật NHTW tới tỷ lệ lạm phát động của mỗi quốc gia Vả lại, các nghiên cứu chỉ tiến hành xem xét CBI hiện hành, có lẽ không thể nắm bắt được ảnh hưởng của sự tiến triển chỉ số này Bởi vậy gần đây nhất, Arnone and Romelli (2013) đã
thực hiện nghiên cứu trên 10 quốc gia OECD và cho thấy kết quả là chỉ số độc lập
Trang 7NHTW động (chỉ số CBI theo thời gian) tính toán từ những cải cách luật NHTW, có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ lạm phát động ở những quốc gia đó
2 TH C TR NG V TệNH Đ C L P C A NGÂN HÀNG NHÀ N C VÀ L M PHÁT Ở VI T NAM
Tính độc lập của NHNN Việt Nam
Từ cuối những năm 80 đến đầu những năm 90, hệ thống ngân hàng đã có sự thay đổi lớn, chuyển từ mô hình một cấp sang mô hình hai cấp, kèm theo đó là sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước năm 1990 (có hiệu lực từ 1/10/1990), tạo cơ sở pháp lý để củng cố
và phát triển hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam Trên cơ sở pháp lệnh tính độc lập
của NHNN bước đầu được thể hiện; NHNN đã được pháp luật cho phép coi ổn định tiền
tệ là một mục tiêu cơ bản, cốt lõi trong chức năng nhiệm vụ của mình, đây là điểm độc
lập cơ bản của các NHTW (Pháp lệnh năm 1990, điều 1) và điểm thứ hai là không trực
tiếp tham gia thị trường sơ cấp đối với nợ của chính phủ, chỉ tham gia với bộ tài chính
làm đại lí phát hành công trái chính phủ(Pháp lệnh năm 1990, điều 27) Tuy vậy, do thực
tế Việt Nam chúng ta vừa đang trong quá trình thực hiện Đổi mới, hệ thống ngân hàng
vừa chuyển từ NH 1 cấp sang 2 cấp, chưa có được nhiều sự học hỏi từ các nước khác, kinh nghiệm của bộ máy quản lý nhà nước chưa nhiều nên Pháp lệnh này quy định cơ cấu
và các chức năng của NHNN còn rất sơ khai, chưa đi vào cụ thể ở nhiều điều điểm Theo
đó, NHNN chỉ có vai trò tư vấn các chính sách về tiền tệ, kinh tế và tài chính cho chính
phủ, mức độ độc lập của NHNN hầu như không có Một phần cũng do thực tế bản thân NHNN Việt Nam lúc bấy giờ chưa đủ khả năng cũng như kinh nghiệm trong điều hành chính sách tiền tệ, quản lí hoạt động hệ thống ngân hàng
Năm 1997, để hình thành nên một khung pháp lí làm nền tảng cho hoạt động của NHNN, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra đời (có hiệu lực từ 1/10/1998) Với sự ra đời của luật này thì vai trò là Ngân hàng Trung ương của Việt Nam đã được xác định là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, hoạt động của NHNN đã được cụ thể hóa, đặc biệt
là đã chính thức được thừa nhận là Ngân hàng Trung ương của Việt Nam Theo khuôn khổ của luật này, tính độc lập của NHNN tiếp tục được tăng lên, cụ thể là tăng điểm trong
Trang 8việc chịu trách nhiệm xác định lãi suất chính sách làm cơ sở định hướng cho các hoạt dộng kinh tế và một điểm nữa là không còn sự ràng buộc chặt chẽ của việc tham gia của chính phủ trong quá trình bổ nhiệm thành viên của hội đồng thống đốc
Đến năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước(có hiệu lực từ 1/8/2003) được ban hành, để hoàn thiện, phù hợp cho thời kì phát triển mới, nó đã góp phần tăng tính độc lập của NHNN lên một bậc, ở chỗ tạm ứng cho chính phủ có tính
ngắn hạn (Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003 - Điều 32: Tạm ứng cho ngân sách nhà nước
Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngânsách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyếtđinh của Thủ tướng Chỉnh phủ Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong nămngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định.)
Và theo hướng hoàn thiện hơn hoạt động của NHNN, năm 2008 chính phủ đã ban hành nghị định 96/2008/NĐ-CP về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đặc biệt 2010, chính phủ đã ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thay cho Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; tuy vậy, mới chỉ hoàn thiện hơn cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của NHNN, mà chưa có tác động đáng kể trong việc nâng cao tính độc lập, tự chủ
của NHNN Và gần đây nhất, chính phủ đã ban hành nghị định 156/2013/NĐ-CP về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã nới lỏng hơn trong kiểm soát của chính phủ về việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN (Điều 2 – khoản 4: Xây dựng chỉ tiêu lạm
quốc gia, bao gồm: Tái cấp vốn,lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia)
Thực trạng lạm phát của Việt Nam
Việc duy trì ổn định một tỷ lệ lạm phát thấp, phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Và ngược lại, lạm phát cao luôn là nỗi ám ảnh của mỗi quốc gia bởi những hậu
quả tiêu cực mà nó tác động đến nền kinh tế: đồng tiền mất giá, giá cả leo thang, sản xuất trì trệ, thậm chí là những bất ổn về mặt chính trị, xã hội Trải qua quá trình hình thành và
Trang 9phát triển, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua 3 lần lạm phát lớn: Mất cân đối tiền hàng năm 1986-1991, khủng hoảng tài chính khu vực 1997-2000, lạm phát do tác động của kinh tế thế giới năm 2008 và những hậu quả của nó còn kéo dài đến hiện nay
Từ năm 1986 đến nay, Việt nam đã trải qua rất nhiều khó khăn thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập toàn cầu Đặc biệt phải kể đến là những giai đoạn đầu trong quá trình phát triển Có thể nói, đây là giai đoạn đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung:nền kinh tế luôn nằm trong trạng thái bất ổn định, lạm phát cao.Với sự nỗ lực của NHNN trong việc điều hành CSTT và sự chỉ đạo của Chính phủ đã đưa Việt Nam vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất, kiềm chế lạm phát ở mức 2 con số Đây thực sự là
một thành công lớn của CSTT trong việc khẳng định vai trò điều tiết thị trường tiền tệ cũng như kiểm soát lạm phát của mình
Từ năm 1992 trở đi, nền kinh tế Việt Nam chuyển dần sang giai đoạn chuyển đổi , tình hình lạm phát bắt đầu lắng dịu và tạm ổn định Việc mở cửa hội nhập đã mang lại nhiều
cơ hội cửng như thách thức cho nền kinh tế Việt Nam Có thể thấy, tỷ lệ lạm phát trong
những năm gần đâykhông chỉ nhạy cảm với chính sách tiền tệ mà còn nhạy cảm với
những thay đổi tác động từ phía Chính sách của Chính phủ cũng như những nhân tố ảnh hưởng từ thị trường thế giới Điều này đã thể hiện rõ nét thông qua việc một số mục tiêu
của CSTT không đạt được trong ngắn hạn , lạm phát kéo dài, định hướng thực hiện các
giải pháp chưa đúng mức độ, thời gian tiến hành chưa thích hợp, dồn dập cùng một lúc
… khiến cho nền kinh tế chậm hồi phục Hiện nay, NHNN đang có những sự thay đổi trong việc điều hành, phát triển, các công cụ của CSTT ngày càng linh hoạt và hoàn
chỉnh hơn, bám sát với thị trường cụng như mục tiêu phát triển kinh tế góp phần ổn định giá cả , kiềm chế lạm phát thích ứng với nhịp độ cải cách kinh tế hơn trong thời gian tới
3 PHÂN TÍCH TH C NGHI M M I QUAN H GI ỮA TệNH Đ C L P C A
N GÂN HÀNG NHÀ N C VI T NAM V I L M PHÁT
Kết quả thực nghiệm
Nhóm nghiên cứu thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị với những phá vỡ cấu trúc cho chuỗi dữ liệu lạm phát hàng quý của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2013 bằng kiểm
Trang 10định của Zivot and Andrews (1992) để tìm ra được một điểm phá vỡ cấu trúc; và sau đó
là bằng kiểm định Clemente et al (1998) với mô hình AO để xác định hai điểm phá vỡ
cấu trúc Kết quả kiểm định như sau:
Đầu tiên, với kiểm định của Zivot and Andrews (1992), kết quả cho thấy rằng chuỗi dữ
liệu lạm phát là dừng Mặt khác, một điểm phá vỡ cấu trúc tìm được qua kiểm định là vào quý 1 năm 2004, trong khi quý 3 năm 2003, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997, và làm tăng điểm GMT kinh tế (CBIE) của Việt Nam ta từ 2 lên 3 điểm
-4 -3.5 -3 -2.5
quy Min breakpoint at 2004q1
Zivot-Andrews test for inf, 1999q2-2011q1