Để đánh giá một cách tổng quan về thực trạng này, chúng em thực hiện đề tài “Nghiên cứu thái độ, thực hành về nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Y Dược Huế” vớ
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong nền giáo dục nước nhà vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những thành tựu mới , những sản phẩm mới, phục vụ cho sự phát triển của đất nước Hàng năm, nhà nước đảm bảo chi cho KHCN từ 2.0% trở lên
trong tổng chi ngân sách nhà nước [1], điều đó đã thể hiện sự quan tâm rất lớn của
Nhà nước tới lĩnh vực này Tuy vậy, tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khác nhau, NCKH vẫn chưa tương xứng với sự đầu tư đó Trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012, tổng số bài báo cáo khoa học của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực
là 6356 bài báo cáo [2] Trong số này, phần lớn các bài báo cáo là xuất phát từ các
viện và trung tâm nghiên cứu Chỉ có 34.0% bài báo cáo xuất phát từ trường đại
học [3] Vì vậy, có thể thấy hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học ở
nước ta trong thời gian qua và cho đến nay vẫn luôn bị đánh giá ở mức thấp về các công trình có tầm vóc quốc tế cũng như tính hiệu quả
Tại Trường Đại học Y Dược Huế, từ năm 2010 đến đầu năm 2015, toàn trường có 348 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, bao gồm đề tài cấp Nhà nước, Nghị định thư, cấp Bộ trọng điểm, cấp Bộ, cấp Tỉnh, cấp Đại học Huế và cấp Trường Số lượng bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học uy tín trong
nước và quốc tế ngày càng cao [4] Tuy nhiên số lượng đề tài của sinh viên từ năm
2006 đến 2012 thì không tăng, thay vào đó có chiều hướng giảm [5] Bên cạnh đó
phần lớn sinh viên hiện nay vẫn còn rất thụ động đối với NCKH, chưa được trang
bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để tham gia NCKH
Để đánh giá một cách tổng quan về thực trạng này, chúng em thực hiện đề tài
“Nghiên cứu thái độ, thực hành về nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Y Dược Huế” với các mục tiêu:
1 Tìm hiểu thái độ, thực hành về nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Y Dược Huế.
2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức - thái độ - thực hành về nghiên cứu khoa học của đối tượng nghiên cứu.
3 Khảo sát những đề xuất của sinh viên về nghiên cứu khoa học của đối tượng nghiên cứu.
Trang 22 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên thuộc trường ĐH Y Dược Huế
Cỡ mẫu:
- Công thức tính cỡ mẫu:
N=
Z α /22 ×p (1− p )
d2
Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu
Zα/2= 1,96 với độ tin cậy 95%
p = 0.714 theo nghiên cứu mẫu trước đó [x]
D= 0.05 là độ chính xác mong muốn Vậy cỡ mẫu nghiên cứu N= 314
- Để tăng tính đại diện cho quần thể, tăng độ tin cậy và hạn chế sai số do quá trình thiết kế và đo lường, ta nhân với hệ số thiết kế 2 và lấy thêm 10% đề phòng mất mẫu Vậy cỡ mẫu của nghiên cứu là N = 700
- Phương pháp chọn mẫu: Lập danh sách các ngành học, trong mỗi ngành
có danh sách các lớp học trong cũng 1 khóa, sau đó cứ mỗi khóa tiến hành chọn ngẫu nhiên 1 lớp Đối với hệ 6 năm chọn từ năm 3 đến năm 5,
hệ 4 năm chỉ chọn năm 3 Không lấy năm cuối của các ngành do thời gian nghiên cứu trùng với thời gian ôn thi tốt nghiệp nên không tiếp xúc được với các khối này
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Nghiên cứu cắt ngang Áp dụng phươngpháp mô tả để làm nổi bật những nét đặc trưng của quần thể nghiên cứu Phân tích các biến sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn gián tiếp qua bộ câu hỏi tự điền
2.2.3 Phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm EpiData 3.1và SPSS 16.0
2.2.4 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở tự nguyện tham gia của đối tượng Đối tượng được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu Đảm bảo bí mật thông tin cá nhân
3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Giới tính
Ngành học
Niên khóa Năm học
Trang 4Nhận xét:Trong số các đối tượng nghiên cứu:
- Giới tính: đối tượng là nữ chiếm gần 2/3 tổng số đối tượng nghiên cứu (64.3%)
- Ngành học: đối tượng là sinh viên của các khối ngành hệ đào tạo 5 năm và 6 năm chiếm ưu thế (86.2%), trong khi đó khối ngành hệ đào tạo 4 năm chiếm tỉ lệ nhỏ hơn (13.8%)
- Năm học: đối tượng là sinh viên năm 3 có tỉ lệ gần ½ (42.4%), sinh viên năm 4
và năm 5 có tỉ lệ lần lượt là 38.3% và 19.3%
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học theo ngành học
Nhận xét: Tỷ lệ sinh viên đã tham gia nghiên cứu khoa học có sự khác nhau giữa các ngành học Trong đó sinh viên ngành Y học dự phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với gần ½ đối tượng nghiên cứu đã tham gia nghiên cứu khoa học, thấp nhất là sinh viên ngành Dược sĩ (2,4%)
3.2 Thái độ, thực hành liên quan nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 5Biểu đồ 2: Những kỹ năng mà sinh viên cần có khi NCKH
Nhận xét: Các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng các kỹ năng được nêu ra đều là những kỹ năng mà sinh viên cần có khi tham gia NCKH với tỉ lệ khá cao Trong đó
kỹ năng tìm kiếm tài liệu được chọn với tỷ lệ gần 100% (90.8%), kỹ năng khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1.4%)
3.2.1 Thái độ liên quan nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 6Biểu đồ 3: Tỉ lệ sinh viên quan tâm đến NCKH
Nhận xét: Gần ½ đối tượng nghiên cứu có thái độ quan tâm và rất quan tâm đến NCKH (49.9%) Bên cạnh đó cũng có gần ½ đối tượng có thái độ bình thường với NCKH (43.0%) Ngoài ra, một tỷ lệ rất nhỏ (7.1%) đối tượng nghiên cứu không quan tâm và không quan tâm chút nào đến NCKH
Biểu đồ 4: Những khó khăn của sinh viên khi NCKH
Trang 7Nhận xét: Hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng thiếu kinh phí thực hiện
và thiếu kinh nghiệm thực tế là hai khó khăn lớn nhất của sinh viên khi NCKH, với
tỷ lệ lần lượt là 87.9% và 81.9% Các khó khăn chiếm tỷ lệ nhỏ là phân tích và xử
lý số liệu (29.7%), làm việc nhóm (35.4%) và trình bày, thuyết trình đề tài (37.9%)
3.2.2 Thực hành liên quan nghiên cứu khoa học của sinh viên
Biểu đồ 5: Các lý do sinh viên không tham gia NCKH
Nhận xét: Hai lý do sinh viên không tham gia NCKH nhiều nhất là không biết thông tin về hoạt động NCKH (57.0%) và tự nhận thấy mình chưa có đủ khả năng (55.7%) Lý do khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1.9%)
Trang 8Bảng 2: Nguồn kinh phí thực hiện NCKH
Nhận xét: Có hơn 2/3 các đối tượng đã từng NCKH có nguồn kinh phí thực hiện NCKH là tự đóng góp với tỷ lệ 77.0% Chỉ có 9.7% có nguồn kinh phí từ các nhà tài trợ
Bảng 3: Các lợi ích của sinh viên khi tham gia NCKH
Cơ hội nhận được những chứng nhận, giải
thưởng
Nhận xét: Hầu hết sinh viên đều nhận ra các lợi ích nhận được khi tham gia
NCKH, trong đó nâng cao, củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng mềm là những lợi ích các bạn sinh viên dễ nhận thấy nhất với tỷ lệ > 90%
3.3 Các yếu tố liên quan đến thái độ, thực hành về NCKH của sinh viên
Bảng 4: Mối liên quan giữa ngành học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH Ngành
Tham gia nghiên cứu khoa học
Đã tham gia Chưa tham gia
p<0.05
Trang 9Nhận xét: Vì p<0.05 nên có mối liên quan giữa ngành học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH với độ tin cậy 95% (p<0.05)
Bảng 5: Mối liên quan giữa năm học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH
Năm học
Tham gia nghiên cứu khoa học
Tổng P
Đã tham gia Chưa tham gia
p<0.05
Nhận xét: Vì p<0.05 nên có mối liên quan giữa năm học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH với độ tin cậy 95% (p<0.05)
3.1 Một số đề xuất liên quan đến nghiên cứu khoa học của sinh viên
Bảng 6: Đề xuất của sinh viên
Tăng cường phổ biến thông tin về NCKH cho
sinh viên
Hỗ trợ thêm kinh phí thực hiện đề tài cho sinh
viên
Nâng cao chất lượng hoạt động của CLB NCKH 359 49.5 Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa
học dành cho sinh viên
Cung cấp thêm đề tài nghiên cứu cho sinh viên 379 52.3 Khác
Nhận xét: Trong số các đề xuất của sinh viên thì tăng cường phổ biến thông tin về NCKH cho sinh viên chiểm tỷ lệ cao nhất (80.7%), thấp hơn là đề xuất thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học dành cho sinh viên (61.9%), thấp nhất là đề xuất nâng cao chất lượng hoạt động của CLB NCKH với tỷ lệ gần ½ (49.5%)
Trang 104 BÀN LUẬN
4.1 Thái độ, thực hành về NCKH của sinh viên
Biểu đồ 1 cho thấy qua kết quả nghiên cứu có 15.6% sinh viên được điều tra có tham gia NCKH Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ 6.9% của nhóm tác giả Trần Đình Trung và Cs thực hiện nghiên cứu trên đối tượng sinh viên các ngành Y đa khoa, Y
học dự phòng và Y tế công cộng năm 2013 [1] Tỷ lệ này cũng cao hơn tỷ lệ 4.7%
sinh viên trường Đại học Kinh Tế quốc dân có tham gia NCKH, được công bố
trong Hội nghị tổng kết hoạt động NCKH sinh viên năm 2015 [2] Tuy vậy tỷ lệ
này vẫn còn khá thấp cho thấy sự tiếp cận, hiểu biết và thực hành NCKH của sinh viên trong trường còn thấp Bên cạnh đó tỷ lệ sinh viên đã tham gia NCKH có sự khác nhau giữa các ngành học, trong đó sinh viên ngành Y học dự phòng có tỷ lệ cao nhất với 44.1% Trong khi sinh viên các ngành học khác có tỷ lệ tham gia NCKH khá thấp, đặc biệt các ngành YHCT, Dược sĩ, Kĩ thuật, Răng hàm mặt có tỷ
lệ rất thấp (dưới 5.0%) Có sự chênh lệch này có thể do sự khác biệt đặc thù giữa các ngành học Kết quả trên cũng phù hợp với thực tiễn sinh viên trong trường, trên cả nước cũng như Quốc tế Mặt khác, do nghiên cứu của sinh viên YHDP thường là nghiên cứu các vấn đề có thể dự phòng nên ít xâm nhập ,dễ thực hiện, ít
sử dụng trang thiết bị phức tạp và có ý nghĩa thực tiễn cho cả cộng đồng
Khi khảo sát về thái độ sinh viên về nghiên cứu khoa học, một nửa số sinh viên được hỏi có thái độ quan tâm và rất quan tâm đến NCKH, thể hiện qua biểu đồ 2 Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số lượng lớn sinh viên ít quan tâm đến NCKH (43%) và 7.1% sinh viên không quan tâm đến vấn đề này Điều này cho thấy nhiều sinh viên vẫn chưa thấy được hết tầm quan trọng cũng như ý nghĩa thực tế của việc NCKH
Hầu hết sinh viên đều cho rằng những kỹ năng được nêu ra đều rất cần thiết đối với sinh viên để có thể tham gia NCKH Trong đó nổi bật nhất là các kỹ năng tìm kiếm tài liệu, làm việc nhóm, ngoại ngữ và tính tự học, được thể hiện qua biểu đồ 3 Điều này cho thấy sinh viên đã nhận thức được điều gì là cần thiết cho việc nghiên cứu, từ đó giúp sinh viên hoàn thiện những kĩ năng mà bản thân chưa có Đồng thời, kết quả này cũng nói lên thực trạng của sinh viên Y Dược Huế nói riêng và sinh viên cả nước nói chung trong việc tìm kiếm tài liệu, đặc biệt là tài liệu nước ngoài vẫn còn rất kém
Trang 11Theo kết quả trình bày ở biểu đồ 4, phần lớn sinh viên cho rằng những khó khăn khi thực hiện NCKH chủ yếu do thiếu kinh phí (87.9%), thiếu kinh nghiệm thực tế (81.9%) và thiếu kiến thức chuyên môn (77.4%) Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu “Hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Nông Nghiệp I và những khó khăn thường gặp” của tác giả Đặng Thị Vân, rằng thiếu kinh phí và thiếu kinh nghiệm thực tế là 2 khó khăn hàng đầu mà sinh viên gặp phải khi tham
gia NCKH với tỷ lệ lần lượt 84.6% và 67.5% [3] Điều này cho thấy sinh viên chưa
có kỹ năng trong việc tìm kiếm nguồn kinh phí bên ngoài và cũng như chưa tiếp cận được với sự trợ giúp của nhà trường về kinh phí, thiếu các cuộc hội thảo quy
mô nhỏ để trình bày về kinh nghiệm thực tế từ thầy cô giáo, các anh chị khóa trên Một trong những lý do chính khác dẫn đến những khó khăn của sinh viên khi tham gia NCKH là tính chủ động của bản thân mỗi bạn trẻ trong học tập chưa cao, vẫn còn tư tưởng thụ động Sinh viên chỉ học bài và ôn bài khi chuẩn bị bước vào các
kỳ thi, chỉ "xoay quanh" giảng đường với những bài học trên lớp, chưa chủ động
nghiên cứu, tìm tòi cơ hội được học tập, nâng cao kiến thức thực tiễn.[4]
Biểu đồ 5 cho ta thấy có đến 57.0% sinh viên cho biết việc không tham gia NCKH
là do không biết thông tin về các hoạt động NCKH Bên cạnh đó sinh viên tự nhận thấy mình chưa có đủ khả năng chiếm 55.7 % Đây là 2 lý do phổ biến nhất về việc sinh viên không tham gia NCKH Điều này cho thấy việc phổ biến các thông tin về hoạt động NCKH của nhà trường là chưa tốt cũng như việc sinh viên chưa có ý thức tự trang bị các kỹ năng cần thiết để tham gia NCKH
Hầu hết sinh viên được điều tra đều nhận ra các lợi ích khi tham gia NCKH, trong
đó củng cố, nâng cao kiến thức và rèn luyện kỹ năng mềm là những lợi ích các bạn sinh viên dễ nhận thấy nhất với tỷ lệ > 90.0%, theo kết quả từ bảng 5 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của TS Chu Vân Khánh, rằng khi tham gia NCKH, sinh viên sẽ tập làm quen với một đề tài nghiên cứu quy mô nhỏ, sẽ được tiếp cận với những vấn đề cụ thể, có ý thức đào sâu suy nghĩ, và tập cách tư duy để tự nghiên cứu giải quyết một vấn đề, bên cạnh đó NCKH cũng sẽ rèn giũa cho sinh viên kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề, kỹ năng thuyết trình, tập cho sinh viên phong
thái tự tin khi bảo vệ trước một hội đồng khoa học [5]
Trang 124.2 Các yếu tố liên quan đến thái độ, thực hành về NCKH của sinh viên
Bảng 4 cho thấy có mối liên quan giữa ngành học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH với p<0.05 Ngành YHDP có tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH cao nhất với 44,1%, cao hơn gấp đôi ngành xếp thứ 2 là điều dưỡng với tỷ lệ 20,5% và nếu so sánh với ngành có tỷ lệ thấp nhất là Dược (2,4%), con số này là gấp 18 lần Điều này thể hiện sự vượt trội của ngành YHDP so với các ngành khác về tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH
Theo bảng 5 ta thấy có mối liên quan giữa năm học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH Tỷ lệ này tăng dần từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 Tỷ lệ sinh viên năm thứ 5 tham gia NCKH cao gấp đôi so với tỷ lệ này ở sinh viên năm thứ 3 Điều này phù hợp với thực tiễn vì đối với sinh viên năm thứ 3, hoạt động NCKH còn khá mới mẻ
và khó khăn vì sinh viên lúc này chưa được trang bị nhiều kiến thức chuyên môn
về cả kiến thức lẫn kỹ năng cần thiết để tham gia NCKH… thông qua các môn học được giảng dạy ở trường cũng như sinh viên tự tìm hiểu, trau dồi Lên đến năm thứ
4, thứ 5, ngoài việc được trang bị thêm nhiều kiến thức, kỹ năng về NCKH, sinh viên còn được tiếp xúc nhiều hơn với các thầy cô hướng dẫn cũng như quan tâm hơn đến vấn đề NCKH để chuẩn bị cho các đề tài tốt nghiệp, dẫn đến tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH ở các năm thứ 4, thứ 5 cao hơn ở năm thứ 3
4.3 Một số đề xuất liên quan đến NCKH của sinh viên
Theo kết quả ở bảng 6, 80,7% sinh viên đề xuất tăng cường phổ biến thông tin về NCKH cho sinh viên, 61.9% đề xuất thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học dành cho sinh viên và tiếp đến là đề xuất nâng cao chất lượng hoạt động của CLB NCKH với tỷ lệ gần ½ (49.5%)
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Vân tại trường Đại học Nông nghiệp I thì hỗ trợ về kinh phí, có hình thức khen thưởng xứng đáng và tổ chức nhiều hơn các hội nghị, hội thảo khoa học là những ý kiến được đề xuất nhiều nhất của sinh viên
đối với nhà trường [3] Ngoài ra sinh viên còn một số đề xuất khác như các thầy cô
giáo cung cấp thêm các đề tài nghiên cứu cho sinh viên hay nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của CLB NCKH
Trang 13MỤC TIÊU 3 ĐÃ XÓA NÊN KO ĐƯA PHẦN NÀY VÀO.
5 KẾT LUẬN
Tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH trong toàn trường còn khá thấp (15,6%)
Một nửa số sinh viên được điều tra ít quan tâm và không quan tâm đến hoạt động NCKH
Có mối liên quan giữa ngành học, năm học và tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH Ngành Y học dự phòng có tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH cao nhất và vượt trội so với các ngành học còn lại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tran Dinh Trung, “Assessment of essential skills and needs for scientific research of
studens in Hue University of Medicine and Pharmacy”, Journal of Medicine and Pharmacy, No.3/2013.
2 Kết quả nghiên cứu khoa học sinh viên Kinh tế học 2015 (9/10/2015) http://economics.neu.edu.vn/
3 Đặng Thị Vân, “Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Nông
nghiệp I và những khó khăn thường gặp”, Tạp chí Tâm lý học, số 3 (84), 3 – 2006.
4 Nguyễn Thị Kim Anh, Những khó khăn của sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học Báo Nhân Dân - Chủ nhật, 02/03/2014.
5 “Mục đích và lợi ích của sinh viên nghiên cứu khoa học”, ThS Chu Vân Khánh – Giảng viên Khoa Thư viện- Thông tin, trường Đại học Văn Hóa Hà Nội.