1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiêp vu ngân hang trung ương

18 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 169,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.1 Khái niệm: Ngân hàng trung ương có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

 ĐỀ TÀI:

MÔ HÌNH TỔ CHỨC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ LIÊN HỆ TỚI VIỆT

NAM

Giảng viên hướng dẫn: Ths.Tăng Mỹ Sang

Nhóm thực hiện: FED

Thành viên trong nhóm: Hoàng Thế Tuấn Anh

Nguyễn Thị Nhung Trương Hoàng Mỹ

Lê Thị Mai Hương Trần Nhật Diệu Đoan Trần Lê Hoa Xuân Nguyễn Thị Khánh Hồng

Ngô Minh Tân

Trang 2

Mục lục:

Trang 3

I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.

1) Khái niệm:

Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định thị trường tiền tệ, và hoạt động của các ngân hàng thương mại, là ngân hàng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ

2) Lịch sử hình thành NHTW.

Ngân hàng trung ương bắt đầu có dấu hiệu hình thành từ thời kì thứ 3 trong quá trình hình thành và phát triển của ngành ngân hàng Ở thời kì này hoạt động ngân hàng diễn ra hết sức sôi động , các ngân hàng thi nhau hình thành và cạnh tranh ngày càng gay gắt, từ đó đã từng bước làm phân hóa hệ thống ngân hàng ở mỗi quốc gì, khu vực thành 2 hệ thống Sự phân hóa này trải ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: phát triển từ ngân hàng thương mại trở thành ngân hàng phát hành

Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, ở đầu giai đoạn này tiền đúc bằng kim loại được lưu thông phổ biến, với đặc điểm dễ hao mòn và hư hỏng của loại tiền này dẫn tới giá trị đồng tiên bị giảm theo thời gian Từ thực trạng đó dẫn đến việc các ngân hàng phát hành ra kì phiếu ngân hàng để thay thế cho tiền đúc bằng kim loại Khi đó, trên thị trường có bao nhiêu ngân hàng thì xuất hiện bấy nhiêu loại kì phiếu, và chỉ lưu thông trong không gian nhất định, điều đó làm cho việc giao dịch thương mại trở nên khó khăn Về sau,kì phiếu của các ngân hàng có quy mô và uy tín cao được chuộng sử dụng hơn và dễ dàng được chấp nhận hơn trong thanh toán, ngược lại kì phiếu của các ngân hàng nhỏ dần dà không còn đc sử dụng và họ cũng nhưng phát hành để sử dụng các kì phiếu phổ biến Cũng chính vì lẽ đó mà đến cuối thế kỉ XVII, các ngân hàng phân hóa thành ngân hàng có phát hành kì phiếu

và không phát hành kì phiếu; tuy nhiên cả 2 loại ngân hàng này vẫn chỉ đảm nhiệm chức năng trung gian tài chính tương tự nhau

Trang 4

+ Giai đoạn 2: Phát triển từ ngân hàng phát hànhthành ngân hàng phát hành độc quyền

Sau khi phân hóa thành các ngân hàng phát hành, các ngân hàng này tiếp tục cạnh tranh lẫn nhau khốc liệt Trong cuộc canh tranh đó, ngân hàng phát hành nào

có sự chống lưng của các chính trị gia, của những người làm việc trong bộ máy nhà nước dần chiếm được ưu thế nhờ nhận được ưu đãi về các chính sách đãi ngộ, và kết quả là trên mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ chỉ còn lại một hoặc một vài ngân hàng phát hành và chúng trở thành độc quyền trong việc phát hành các kì phiếu Tới thời điểm này các ngân hàng phát hành chỉ giao dịch với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, không còn giao dịch với công chúng

+ Giai đoạn 3: Ngân hàng phát hành độc quyền trở thành ngân hàng trung ương

Sau thời kì chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc (1945), khi các ngân hàng phát hành độc quyền thuộc sở hữu tư nhân được quốc hữu hóa (nhà nước mua lại), các chủ ngân hàng này trở thành công chức nhà nước Lúc này ngân hàng trung ương chính thức được xác lập

Trang 5

II CÁC MÔ HÌNH NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI.

Hiện nay, mặc dù các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đều hướng đến mục tiêu mở cửa và hội nhập về kinh tế; tuy nhiên mức độ phát triển của mỗi nền kinh tế là khác nhau Do đó, ngân hàng trung ương ở mỗi quốc gia dù ít hay nhiều đều có những nét khác nhau về mô hình tổ chức để phù hợp với nền kinh tế mà mình đang điều hành, quản lý Thông thường nếu đi sâu vào xem xét mô hình thì các nhà kinh tế thường xem xét nó dưới góc độ tính độc lập đối với chính phủ Theo nghiên cứu của quỹ tiền tệ thế giới IMF thì tính tự chủ của ngân hàng trung ương thể hiện qua 4 cấp độ

- Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động

- Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động

- Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành

- Độc lập tự chủ hạn chế

Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động: Với mô hình này, Ngân

hàng Trung ương có trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ, chế độ tỷ giá và có quyền quyết định mục tiêu hoạt động chủ yếu trong số các mục tiêu đã được pháp luật quy định Đây là cấp độ độc lập tự chủ cao nhất mà một Ngân hàng Trung ương có thể đạt được Tuy nhiên, đây cũng chính là cấp độ độc lập tự chủ khó vận dụng nhất, vì nó đòi hỏi Ngân hàng Trung ương phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt, có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế- tài chính

Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động: Ở cấp độ này này, Ngân

hàng Trung ương cũng được trao trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ và chế

độ tỷ giá nhưng khác với cấp độ độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động ở chỗ một mục tiêu hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Trung ương được quy định cụ thể trong Luật Với cấp độ độc lập tự chủ này, việc thay đổi mục tiêu duy nhất đòi hỏi phải sửa đổi Luật Ngân hàng Trung ương

Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành: Với mô hình này, Chính

phủ hoặc Quốc hội quyết định chỉ tiêu chính sách tiền tệ sau khi thảo luận, thỏa

Trang 6

Quốc hội

thuận với Ngân hàng Trung ương Khi quyết định được thông qua, Ngân hàng

Trung ương có trách nhiệm hoàn thành chỉ tiêu trên cơ sở được trao đủ thẩm quyền

cần thiết để có thể toàn quyền lựa chọn những công cụ điều hành chính sách tiền tệ

phù hợp nhất

Độc lập tự chủ hạn chế: Là cấp độ độc lập tự chủ thấp nhất, theo đó Chính

phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như

can thiệp vào quá trình triển khai thực thi chính sách tiền tệ

Với góc nhìn như vậy, trên thế giới hiện nay có 2 dạng mô hình ngân hàng trung

ương chính đó là:

- Ngân hàng trung ương trực thuộc quốc hội

- Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ

1) Mô hình ngân hàng trung ương độc lập chính phủ.

Là mô hình mà Ngân hàng trung ương được tổ chức và nhận chỉ đạo trực

tiếp từ quốc hội

Trang 7

1.1) Cục dự trữ liên bang Mỹ, FED – Mô hình ngân hàng trung ương độc lập chính phủ

Lấy dẫn chứng là Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED): FED có một cấu trúc tổ chức rất lớn và phức tạp với nhiều bộ phận, gần giống với bộ máy hành chính của chính phủ

Trung tâm ra quyết định, đồng thời có quyền lực lớn nhất trong hệ thống dự trữ liên bang là Hội đồng thống đốc có trự sở tại Wasington, D.C Theo luật, số lượng thành viên của cơ quan quản lý này không vượt quá 7 người, với tổng nhiệm kì của mỗi người không vượt quá 14 năm Mỗi người trong hội đồng sẽ do Tổng thống đề cử và thượng viện thông qua Chủ tịch hội đồng và phó chủ tịch sẽ do tổng thống chỉ định trong số 7 người với nhiệm kì 4 năm một lần Hội đồng thống đốc sẽ giám sát và quản lý hoạt động của 12 ngân hàng dự trữ thành viên và các chi nhánh của chúng

Các thành viên của Hội đồng dự trữ liên bang là những thành viên bỏ phiếu chính của Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) Những thành viên bỏ phiếu còn lại là

5 trong số 12 chủ tịch của các ngân hàng dự trữ liên bang được chọn theo phương thức luân phiên hàng năm Nhiệm vụ chính của FOMC là lập ra các chính sách hoạt động của thị trường mở – Việc mua, bán chứng khoán của các ngân hàng Dự trữ liên bang Tuy nhiên trên thực tế tổ chức này tham gia vào tất các các chính sách và hoạt động của hệ thống Dự trữ liên bang nhằm tác động vào nền kinh tế và

hệ thống ngân hàng

Hệ thống dự trữ liên bang được chia thành 12 vùng, mỗi vùng có 1 ngân hàng dự trữ liên bang hoạt động với mục đích giám sát và giúp đỡ các ngân hàng thành viên Để trở thành các ngân hàng thành viên, các ngân hàng này cần được Cục quản lý tiền tệ quốc gia cấp phép hoặc phải đồng ý chịu sự giám sát và quản lý của FED, các tổ chức thành viên phải mua cổ phiếu của ngân hàng dự trữ liên bang khu vực phát hành (loại cổ phiếu không thể mua bán, chuyển nhượng) và chịu sự kiểm tra hoạt động toàn diện của FED Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng của Mỹ và thậm chí ngoài lãnh thổ nước Mỹ vẫn chấp nhận gia nhập hệ thống của cục dự trữ liên bang Mỹ bởi lẽ họ tin rằng việc trở thành thành viên sẽ gia tăng tính an toàn, nhờ đó có thể thu hút nhiều tiền gửi với quy mô lớn

Trang 9

1.2) Nhận xét.

Mặc dù quốc hội giữ quyền thông qua đạo luật cho ra đời hệ thống dự trữ liên bang tuy nhiên theo “Đạo luật dự trữ liên bang” thì:

- Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp Thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn => Nhân sự không chịu sự chi phối của chính phủ.

- Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội, từ Bộ tài chính => Không phụ

thuộc vào bộ tài chính.

- Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính

sách tiền tệ => Mục tiêu và các công cụ chính sách tiền tệ không bị phụ thuộc

vào chính phủ.

Chi tiết các cuộc giao dịch của FED chưa bao giờ được công bố Chính phủ

và Bộ tài chính chỉ biết chính xác con số mà FED nộp vào ngân sách hàng năm nhưng doanh thu thực sự vẫn là một ẩn số

Từ những phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy mô hình độc lập với chính phủ có nhiều ưu điểm chính như sau:

Ngân hàng trung ương hoàn toàn tự do trong việc theo đuổi các chính sách tiền tệ mà không chịu áp lực chính trị cũng như áp lực chi tiêu ngân sách Điều này vô hình chung tạo áp lực lên ngân sách chính phủ, đòi hỏi chính phủ phải có chi tiêu hợp lý để giảm thâm hụt ngân sách Tự chủ trong hoạch định chính sách và mục tiêu giúp NHTW dễ dàng hơn trong việc kiểm soát Lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế lâu dài

Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một điểm hạn chế đó là gặp khó khăn trong việc phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong trường hợp Chính phủ và NHTW có những mục tiêu khác nhau vì mối quan hệ 2 bên chỉ là mối quan

hệ hợp tác

Trang 10

2) Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ.

Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ là mô hình trong đó NHTW nằm trong nội các Chính phủ, là một bộ máy của Chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về mảng nhân sự, tài chính và đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện các chính sách tiền tệ Mô hình này ra đời từ quan điểm chính trị cho rằng, để nắm quyền điều hành đất nước một cách toàn diện, giai cấp thống trị phải nắm được quyền kiểm soát tiền tệ của xã hội

Các nước áp dụng mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ phần lớn là các nước khu vực Đông Á, như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapora, Indonesia…; hoặc các nước thuộc khối Xã hội Chủ nghĩa

2.1) Ngân hàng nhà nước Việt Nam – Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ điển hình

Để đi sâu vào tìm hiểu mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ, chúng ta sẽ nghiên cứu dựa trên một mô hình cụ thể, đó là mô hình hoạt động của ngân hàng nhà nước Việt Nam

(Sơ lược quá trình hình thành Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Ngày 6 tháng 5 năm 1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ: phát hành giấy bạc, quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch

Trang 11

để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với thực dân Pháp (đây cũng chính là ngày truyền thống hàng năm kỷ niệm thành lập của ngành ngân hàng Việt Nam)

Ngày 21 tháng 1 năm 1960, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã thừa ủy quyền của của Thủ tướng Chính phủ ký Thông tư số 20/VP-TH đổi tên ngân hàng

này thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sau năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản và "quốc hữu hóa" Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa và thông qua danh nghĩa của chủ nhà băng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB.

Tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất về phương diện nhà nước, đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về ngành ngân hàng, hợp nhất về mặt thể chế, tổ chức từ 1976 và hợp nhất Ngân hàng về mặt tiền tệ vào mùa xuân năm

1978 qua việc đổi tiền.

Tháng 7 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 218/CT cho phép làm thử việc chuyển hoạt động của Ngân hàng sang kinh doanh Xã hội Chủ nghĩa

Tháng 3 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh

Tháng 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh là Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính

Tháng 10 năm 1993, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á được tái lập và khơi thông Ngày 2 tháng 12 năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998

Ngày 16 tháng 6 năm 2010, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011

Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ Theo đó, Ngân hàng Nhà nước

có 27 đơn vị trực thuộc.)

Trang 12

* Cơ cấu tổ chức.

- Theo khoản 2, điều 7, Luật Ngân hàng nhà nước 2010, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam là do chính phủ quy định

- Theo Điều 1, nghị định 156/2013/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ

- Lãnh đạo, điều hành Ngân hàng nhà nước là Thống đốc (hiện nay là ông Nguyễn Văn Bình); theo quy định tại khoản 1, điều 8, luật ngân hàng nhà nước 2010: ”Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.”

Thống đốc ngân hàng nhà nước làm việc tại Trụ sở trung ương đặt tại thủ đô Hà Nội, giúp việc cho thống đốc là 6 phó thống đốc Giúp đỡ cho thống đốc và phó thống đốc bao gồm 27 đơn vị cụ thể:

1 Vụ Chính sách tiền tệ

2 Vụ Quản lý ngoại hối

3 Vụ Thanh toán

4 Vụ Tín dụng các ngành kinh tế

5 Vụ Dự báo, thống kê

6 Vụ Hợp tác quốc tế

7 Vụ Ổn định tiền tệ - tài chính

8 Vụ Kiểm toán nội bộ

Ngày đăng: 23/08/2022, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w