1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài kinh tế vi mô- các gói kích cầu của chính phủ

10 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài kinh tế vi mô - Các gói kích cầu của chính phủ
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế vi mô
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 30,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn tổng thể thì gói kích cầu của Chính phủ thực hiện trong thời gian qua đã mang lại những kết quả tích cực cho các doanh nghiệp và nền kinh tế.Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cân đối

Trang 1

MỤC LỤC.

Trang

1.Gói kích cầu thứ 1 của chính phủ……… 1

1.1 Nội dung……… 2

1.2 Hiệu quả……… 3

1.2.1 Tích cực……….3

1.2.2 Tiêu cực……….3

2 Gói kích cầu 2 của chính phủ………5

2.1.Tổng quan về gói kích cầu 2……….5

2.2 Đặc điểm cơ bản của gói kích cầu 2………6

2.3.Nhận định về gói kích cầu 2……….7

Trang 2

1.1. Nội dung.

Ngày 12/5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng của Chính phủ

Theo đó, gói kích cầu tương đương 8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:

Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng

Thứ hai, tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng Thứ ba, ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng 37.200 tỷ đồng

Thứ tư, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ đồng

Thứ năm, phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng

Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng

Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ đồng

Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo

an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng

 Gói kích cầu tậo trung vào 2 chính sách:chính sách tài chính và chính sách tiền tệ:

A. Chính sách tài chính được tập trung vào

-Giảm và gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

 Giãn và gia hạn thời gian thực hiện thuế thu nhập cá nhân

 Giảm 50% thuế GTGT đối với 19 nhóm hàng hoá và dịch vụ từ ngày 1-2 đến hết ngày 31-12-2009

-Tăng cường đầu tư nguồn vốn ngân sách cho an sinh xã hội

-Tăng kích cầu tiêu dùng thông qua tăng dự trữ quốc gia về lương thực

-Cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất 0% để trợ cấp cho người lao động mất việc làm

B. Đối với chính sách tiền tệ:

Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản,lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cho vay thiếu hụt trong thanh toán bù trừ

Trang 3

-Riêng lãi suất cơ bản giảm còn 7%/năm.

-Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng nhiều lần được điều chỉnh xuống chỉ còn 1-3% -Hỗ trợ 4% lãi suất /năm lãi suất vay vốn đối với các doanh nghiệp,hộ gia đình vay vốn từ các NHTM đầu tư cho sản suát kinh doanh và làm dịch vụ

1.2.Hiệu quả :

1.2.1 Tích cực.

Nhìn tổng thể thì gói kích cầu của Chính phủ thực hiện trong thời gian qua đã mang lại những kết quả tích cực cho các doanh nghiệp và nền kinh tế.Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, tiền tệ cũng như thanh toán quốc tế được đảm bảo.Quan trọng hơn, lạm phát được duy trì ở mức thấp nhất, và góp phần giúp nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng dương, trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu

1.2.2 Tiêu cực

Có những doanh nghiệp báo cáo khoản lợi nhuận lên tới 40 tỷ đồng nhưng trong

đó lại có tới 35 tỷ đồng được hưởng từ nguồn vốn ưu đãi Nếu vẫn còn gói kích cầu này thì vẫn còn một số đơn vị tiếp tục hưởng lợi nhuận một cách vô lý

Chỉ 20% doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ lãi suất, gây ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh, Phần lớn đối tượng tiếp cận được gói kích cầu lần 1 là các doanh nghiệp lớn Còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn kêu ời ời trong khi thực chất khoảng 90% doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ, lại sử dụng nhiều lao động và tạo ra một khối lượng hàng hoá đáng kể

Dù thừa nhận rằng gói kích cầu đã đem lại những chuyển biến rõ rệt cho giao thông nông thôn, nhưng nhìn giải pháp này vẫn xa vời thực tế nên chưa phát huy hiệu quả Theo quy định, các trường hợp được hỗ trợ lãi suất phải mua thiết bị với

tỷ lệ nội địa hóa 100% nhưng thực tế thấy tỷ lệ nội địa hóa máy móc thiết bị của

VN mới chỉ đạt 60%

Trang 4

tính của các chuyên gia thì cũng phải khoảng 30%, thay vì 17% như thực tế.Hơn nữa, khả năng hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh cũng không được như kỳ vọng, thể hiện rõ qua tốc độ tăng trưởng công nghiệp 6 tháng đầu năm chỉ đạt 4,8% là khá khiêm tốn, xuất khẩu cũng tiếp tục ngập chìm trong khó khăn…

Khẳng định thời gian qua, gói kích cầu đã phát huy tác dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế 5,2% như Chính phủ đã báo cáo, tuy nhiên chúng ta cần phải đánh giá tổng thể, chứ không nên chỉ nhìn vào gói hỗ trợ lãi suất

Về cơ chế hỗ trợ lãi suất 4% tuy thực hiện trong ngắn hạn, nhưng diện vay rộng, đối tượng được hỗ trợ lãi suất có sự trùng lặp giữa Quyết định số 497/QĐ-TTg với quyết định số 131/QĐ-497/QĐ-TTg và Quyết định số 443/QĐ-497/QĐ-TTg, điều kiện, thủ tục cho vay chặt chẽ hơn so với cho vay theo cơ chế thông thường Do đó, khó kiểm soát việc sử dụng và chuyển dịch vốn vay Việc triển khai đồng thời nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực thi chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây sức ép tăng lãi suất thị trường và là nguy cơ tái lạm phát Nợ xấu ngân hàng có thể tăng

Thêm vào đó, do lãi suất cho vay VND sau khi hỗ trợ khá thấp, tương đương lãi suất cho vay bằng USD nhưng do lo ngại rủi ro tỷ giá, các doanh nghiệp nhập khẩu chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, gây sức ép tăng tỷ giá và căng thẳng thanh khoản trên thị trường ngoại hối, doanh nghiệp có vốn tự có gửi vào NHTM

để hưởng lãi suất cao (7- 10%) nhưng vẫn vay vốn VND chuyển sang tiền gửi để hưởng chênh lệch lãi suất Mặt khác, doanh nghiệp lập phương án sản xuất kinh doanh dự án đầu tư với thời hạn trả nợ kéo dài hơn so với chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn hoàn vốn để hưởng nhiều hỗ trợ lãi suất

Trang 5

Như vậy, có một tỷ lệ nhất định đã không đi vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp mà là nó có thể đã quay trở lại ngân hàng để trả nợ cũ, mà chúng ta vẫn thường gọi là đảo nợ Việc đảo nợ này có thể đã làm cho tài khoản của nhiều doanh nghiệp và ngân hàng “sạch sẽ” hơn, nhưng rõ ràng là không làm cho gói kích cầu đạt được mục tiêu mà Chính phủ mong muốn Mặt khác,mức vốn hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/ năm là khá lớn, đối tượng được thụ hưởng thuộc nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, giảm năng lực và cố gắng của các doanh nghiệp

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận xét: Các báo cáo về gói kích thích kinh tế hầu hết là của Bộ KH&ĐT, NHNNVN, còn chung chung, thiếu những thông tin cụ thể chuyên sâu, nên khó đánh giá được đúng, đủ về gói kích cầu.Dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế dù đã có nhưng còn chậm và chưa thấy tính bền vững

2. Gói kích cầu 2 của chính phủ.

Sau khi gói kích cầu 1 được thực hiên, thì việc dự kiến tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai đã gây ra khá nhiều bàn cãi Có những luồng ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này bao gồm cả ý kiến đồng tình cũng như phản đối

2.1.Tổng quan về gói kích cầu thứ hai

Nội dung chính của gói kích cầu thứ hai là chương trình hỗ trợ lãi suất

Theo công bố, gói kích cầu thứ hai là giải pháp căn bản để Chính phủ thực hiện định hướng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, ổn định vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010 Gói kích cầu thứ hai bao gồm những nội dung cơ bản về tài khóa và tiền tệ

- Về tài khóa:

Trang 6

cơ sở hạ tầng, đồng thời giãn nộp thuế thu nhập DN cho các thành phần kinh tế đến hết quý I/2010

-Về tiền tệ:

Chính phủ dự định sẽ tiếp tục bù lãi suất tín dụng cho vốn vay trung và dài hạn phục vụ đầu tư máy móc thiết bị cho nền kinh tế nói chung và cho khu vực nông nghiệp nói riêng với các khoản vay giải ngân đến hết năm 2010, bù lãi suất cho vay ngắn hạn trong một số lĩnh vực trong nền kinh tế đến hết quý I/2010 (sau đó tùy tình hình thực tế sẽ tiếp tục quyết định duy trì bù lãi suất hay không) Mức bù lãi suất tín dụng giảm xuống 2%/năm so với mức 4%/năm hiện tại với hầu hết các đối tượng và đối tượng bù lãi suất sẽ chọn lọc và bó gọn trong các ngành sử dụng nhiều lao động và hướng đến xuất khẩu Ngoài các nguồn vốn tiếp tục huy động trong năm 2010 cho gói kích cầu thứ hai, một số nguồn vốn trong gói kích cầu thứ nhất chưa sử dụng hết trong năm 2009 sẽ được đưa vào, ước tính khoảng 1.2 tỷ USD Với gói bù lãi suất tín dụng, ước tính trong năm 2009 sử dụng hết 10.000 tỷ VND và còn 8.000 tỷ VND có thể sử dụng cho hoạt động bù lãi suất trong năm 2010

2.2.Đặc điểm cơ bản của gói kích cầu thứ hai:

Thứ nhất, gói kích cầu thứ 2 dự tính được áp dụng trong thời kì chuyển tiếp giữa giai đoạn suy giảm kinh tế và phục hồi kinh tế Bởi vậy, thời gian áp dụng cho việc

bù lãi suất được điều chỉnh linh hoạt và có tính chất tùy thuộc cao

Thứ hai, gói kích cầu thứ 2 được công bố vào cuối năm 2009, khi mà nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã thoát khỏi đáy suy thoái hoặc đã tăng trưởng trở lại, và cũng là lúc nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng khả quan hơn( từ 5,7% quý III lên 6,8% quý IV năm 2009.Điều này khác với bối cảnh triển khai gói kích cầu 1( thực hiện khi nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới đang chìm ngập trong suy thoái),

vì thế nên mức độ hỗ trợ và kích thích kinh tế đã được điều chỉnh một cách phù hợp hơn

Gói kích cầu thứ 2 với quy mô thu hẹp hơn là bước đi hợp lý để DN dần dần tự phát huy nội lực trên con đường hồi phục Rõ ràng, gói kích cầu thứ nhất đã tiếp sức đáng kể cho doanh nghiệp ổn định sức khỏe trong thời kỳ khó khăn nhất và gói kích cầu thứ hai chỉ làm chất xúc tác tập trung, giúp cho doanh nghiệp ở vị thế dễ tổn thương nhất của nền kinh tế có thể hồi phục vững chắc

Trang 7

Quan trọng hơn, việc điều chỉnh lại quy mô gói kích cầu, trong đó có gói bù lãi suất tín dụng, sẽ góp phần phòng tránh rủi ro lạm phát và thâm hụt cán cân thanh toán trong một môi trường nới lỏng về tiền tệ và tài khóa quá mức, tránh bóp méo thị trường tiền tệ, tín dụng trong thời gian quá dài và hướng nỗ lực của DN và Chính phủ vào tái cấu trúc hoạt động để tạo ra nền tảng tăng trưởng bền vững trong

Thứ ba, gói kích cầu thứ hai cũng mang tính chất chính trị, xã hội cao trong bối cảnh hướng đến Đại hội Đảng toàn quốc vào đầu năm 2011, nên các mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được ưu tiên ở mức cao Một cách tổng quan nhất, gói kích cầu thứ hai sẽ góp phần hỗ trợ tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2010, đồng thời có tính đến việc hạn chế các mặt trái có thể phát sinh để chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới Điều này chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực đến thực tế cũng như kỳ vọng trong hoạt động của các doanh

Sự hỗ trợ hợp lý trong ngắn hạn và kích thích phát huy nội lực trong dài hạn sẽ được các doanh nghiệp xác định trong chiến lược kinh doanh trong năm 2010 Kỳ vọng được ổn định một cách tích cực là điểm nhấn quan trọng trong tác động của gói kích cầu thứ hai với hoạt động của các công ty niêm yết và thị trường chứng khoán Song mức độ ảnh hưởng của gói kích cầu thứ hai chắc chắn sẽ có những điểm khác biệt so với gói kích cầu thứ nhất

Xét một cách riêng rẽ, ảnh hưởng của nó với TTCK sẽ không mạnh như khi gói kích cầu thứ nhất được công bố và triển khai đúng vào vùng đáy của thị trường

Song nếu nhìn một cách toàn diện thì gói kích cầu thứ hai sẽ khiến các DN đẩy mạnh phát huy nội lực khi mà chiếc phao cứu sinh đã được thu lại phần nào, qua

đó nỗ lực hơn để có thể đạt được các mục tiêu trung và dài hạn

2.3.Nhìn nhận về gói kích cầu 2.

Trong bối cảnh ngân sách của chính phủ Việt Nam đã và đang có thâm hụt lớn (tính theo GDP), theo ước tính của tổ chức UMF nợ quốc gia của Việt Nam đã bằng 50% GDP, dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ khoảng 20 tỷ đô la, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia Và nguồn thu trong tương lai sẽ giảm nhiều do sự thu hẹp hoạt động kinh tế và chính sách hạ thấp thuế suất, thì cần phải lưu ý rằng một mặt việc tìm kiếm nguồn tài trợ trở nên khó khăn

Trang 8

ngân sách bị xói mòn rất nhanh

Một phương án tài trợ có nhiều khả năng được sử dụng là phát hành trái phiếu của chính phủ trên thị trường nội địa Tuy nhiên, theo dõi các đợt phát hành gần đây, mức lãi suất khoảng 10% không phải là hấp dẫn, và kết quả đạt được hầu như không đáng kể Đây là một tín hiệu cho thấy kỳ vọng về lạm phát tại thời điểm hiện nay vẫn còn khá cao, bất chấp thực tế mức giá chung đã giảm liên tiếp trong tháng 10 và 11 Thêm vào đó, bản thân việc phát hành một lượng lớn và ồ ạt trái phiếu sẽ đẩy lãi suất nhích lên hoặc ít nhất là giữ không cho lãi suất xuống thấp hơn Điều này đi ngược lại nỗ lực hạ thấp lãi suất hiện nay của chính sách tiền tệ Việc lãi suất bị đẩy lên cao, hoặc bị giữ ở mức cao (hơn là khi không có việc phát hành trái phiếu) khiến doanh nghiệp dân doanh khó tiếp cận vốn hơn Đây chính là tác động hất ra của chính sách tài khóa

Nói một cách nôm na, khi nguồn tiền trong nền kinh tế hiện nay là rất có hạn, thì việc Chính phủ huy động khoảng 17.000 tỉ, đồng nghĩa với việc phải lấy đi cơ hội

sử dụng 17.000 tỉ đồng của các đối tượng nào đó khác trong nền kinh tế

Từ đó tất yếu nảy sinh một vấn đề cơ bản: sẽ chỉ nên sử dụng gói kích thích nếu 17.000 tỉ đồng đó khi nằm trong tay chính phủ được sử dụng tốt hơn là khi nó được dùng bởi các đối tượng khác (chẳng hạn các doanh nghiệp tư nhân) trong nền kinh

tế

Xuất phát từ lý do đó, có nhiều lý do để cho rằng rất nên thận trọng với gói kích thích 1 tỉ USD sắp tới Mặc dù giá trị của gói không phải là lớn, nhưng điều này có thể mở đường cho những can thiệp vội vã tương tự trong tương lai Có lẽ chúng ta cần lưu ý một số điểm sau

Đầu tiên, lưu ý về tính thiếu đồng bộ hoặc chồng chéo trong chính sách Thực tế thì hiện nay chính sách tiền tệ đã và đang thực hiện khá tốt nhiệm vụ chống suy thoái thông qua việc hạ thấp lãi suất và nới lỏng tín dụng Có vẻ như đây là chính sách

có hiệu quả cao hơn cả trong bối cảnh hiện nay

Trang 9

Thứ hai, ngay cả trên khía cạnh chính sách tài khoá, thì việc cắt giảm thuế cũng đã

có một tác dụng tương tự như thực hiện một gói tăng chi tiêu Do đó, có nên thận trọng hơn khi vội vàng cộng dồn thêm một công cụ tài khoá nữa trước khi xem xét ảnh hưởng của một công cụ tương tự trước đó?

Thứ ba, việc sử dụng nguồn cứu trợ không nên hướng tới các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ hay đang chìm đắm trong nợ nần Điều này dường như khó tránh khỏi, vì nguồn tiền từ trong tay Nhà nước sẽ dễ dàng được phân bổ cho khu vực nhà nước về mặt kỹ thuật Ngay cả khi Chính phủ có chính sách rõ ràng để hướng tới sự công bằng với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thì việc phân bổ cũng không thể tránh khỏi sự tuỳ tiện và theo mối quan hệ Nếu nguồn cứu trợ được phân bổ theo hướng chỉ thuần tuý như giảm nhẹ các khoản nợ và tạo ra ngân sách mềm, thì Chính phủ đã vô tình tham dự một trò chơi ponzi đầy nguy hiểm (đi vay để trả nợ)

Cuối cùng, nếu gói kích thích được hướng tới các dự án đầu tư mới có ảnh hưởng kinh tế – xã hội cao, như vẫn được nhiều nhà kinh tế đề xuất, thì đây cũng là lúc nên thay đổi cách suy nghĩ như không nên đầu tư vào các dự án dài Vì bản chất gói kích thích có tính thời điểm, và lý tưởng là nên ngừng lại sau khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi Do đó, thời hạn không nên quá hai năm Khác với các gói kích cầu từ trước tới nay, có lẽ lần này nên hướng tới các trung tâm kinh tế lớn vì đây là nơi gánh chịu nhiều hậu quả trực tiếp nhất Thêm vào đó, đối tượng được hướng tới nên là những nhóm chịu tổn thương nhiều nhất từ suy thoái kinh tế, chẳng hạn như công nhân Nhóm này nếu bị tổn thương, sẽ nhanh chóng bị bần cùng hoá và đẩy nhanh đói nghèo ở thành thị Do đó, một gói kích thích như cung cấp dịch vụ đào tạo kỹ năng (miễn phí hoặc được trợ giá đáng kể) trên diện rộng cho số đông công nhân có thể là một chính sách hữu ích trong bối cảnh hiện nay

Một thực tế có thể thấy, sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu sẽ làm tổn hại đến sức cạnh tranh của nền kinh tế nếu việc cho vay thiên về quy mô và thành tích (tức là góp phần níu kéo, duy trì cơ cấu kinh tế, cũng như cơ cấu sản phẩm và thị trường kinh doanh lạc hậu, kém hiệu quả), đồng thời làm gia tăng hoặc kéo dài tình trạng bất bình đẳng thị trường giữa các loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế và các địa phương nếu không tuân thủ tốt các nguyên tắc minh bạch và bình đẳng trong triển khai các gói kích cầu

Trang 10

hiệu quả gói kích cầu có thể khiến gia tăng tích tụ về mất cân đối hàng –tiền và vi phạm nghiêm trọng quy luật lưu thông tiền tệ

Những lập luận về “bước đệm”, về yêu cầu “tránh sốc” cho nền kinh tế bằng cách nên duy trì thêm một khoản kích cầu nào đó, khối lượng nhỏ hơn, lãi suất ưu đãi thấp hơn, điều kiện ngặt nghèo hơn… tỏ ra không thuyết phục

Tóm lại, về tổng thể và cơ bản, “liệu pháp kích cầu” có nhiều tác động tích cực hơn tiêu cực, đặc biệt các gói kích cầu có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình phát triển và quản lý kinh tế-xã hội đất nước, nhất là trong các tình huống khẩn cấp và đặc biệt …

Những vấn đề cần giải quyết của chính phủ hiện nay:

Trong khi Chính phủ tiếp tục đề xuất gói kích cầu thứ hai bằng việc hỗ trợ lãi suất

từ nguồn ngân sách (thực hiện chính sách tài khóa mở rộng) thì NHNN phải kiểm sóat và thực thi CSTT thắt chặt vì tăng trưởng tín dụng quá cao (30%) nhưng tăng trưởng kinh tế còn hạn chế Như vậy có thể nói chưa có sự nhất quán trong các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ

Vì vậy, sự cân nhắc giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn do việc tiếp tục triển khai gói kích cầu thứ hai là rất cần thiết

Nền kinh tế với hơn 95% doanh nghiệp nhỏ và vừa, 70% lao động ở nông thôn, các doanh nghiệp lớn vẫn bình yên vô sự cho đến nay tự nói lên rằng, nó có đủ năng lực để vươn lên ngay cả khi Chính phủ không tiếp tục gói kích cầu

Hiện nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi Các hiệu ứng của gói kích cầu thứ nhất của Chính phủ đã phát huy tác dụng và hiệu quả sẽ còn kéo dài chứ không phải kết thúc ngay khi gói kích cầu kết thúc vào năm 2009 Vì

vậy,chính phủ nên đưa nền kinh tế chuyển hướng ưu tiên sang nhiệm vụ tái cơ cấu

Ngày đăng: 23/08/2022, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w