1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 35,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo cách hiểu thông thường nhất chúng ta có thể bẻ câu chũ và hiểu một cách đơn giản thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ còn điện tử là các phương tiện như: điện

Trang 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1 Khái quát về thương mại điện tử

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đứa các hoạt động của cuộc sống con người sang trang mới, nó không chỉ giúp ích cho cuộc sống sinh hoạt, giải trí đơn thuần mà ngay cả trong hoạt động thương mại công nghệ thông tin cũng đóng một vai trò không nhỏ

Từ những năm 1960 thì ứng dụng thương mại đầu tiên của máy tính đã được thực hiện với hình thức là máy ghi và thanh toán điện tử Như vậy chúng ta có thể thấy máy tính đã được áp dụng vào thương mại trước khi Internet ra đời Vào những năm tiếp theo 1970, 1980 các doanh nghiệp liên tục mở rộng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh như: gửi nhận các đơn đặt hàng, hóa đơn và thông báo vận chuyển bằng phương thức điện tử qua dịch vụ trao đổi tệp dữ liệu điện tử (EDI) Và thương mại điện tử bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 1990 sau khi Internet ra đời Qua đó có thể thấy thương mại điện tử đã không còn xa lạ gì với thế giới, nó đã được hình thành từ rất lâu, tuy nhiên phải đến những năm gần đây thương mại điện tử mới được du nhập vào Việt Nam và ngày càng trở nên phổ biến

Mặc dù đã xuất hiện khá lâu tuy nhiên đến thời điểm này thương mại điện tử vẫn còn tồn tài nhiều cách hiểu khác nhau Theo cách hiểu thông thường nhất chúng ta có thể bẻ câu chũ và hiểu một cách đơn giản thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ còn điện tử là các phương tiện như: điện thoại, internet, telex… Như vậy có thể hiểu nôm na TMĐT là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ qua các phương tiên điện tử như: điện thoại, internet, telex….hay nói cách khác nó là thương mại phi giấy tờ (paperless commerce), thương mại trực tuyến (online trade), kinh tế ảo…

Hiện nay đã có rất nhiều các tổ chức, cá nhân đưa ra các cách hiểu về thương mại điện tử Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”

Trang 2

Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) “TMĐT là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kĩ thuật số.”

Tổ chức Hợp tác phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD) lại có một cách hiểu khác :TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền

dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”

Uỷ ban Châu Âu lại đưa ra định nghĩa như sau: TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền số liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh TMĐT gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ qua phương tiện điện tử , giao nhận các nội dung kĩ thuật số trên mạng , chuyển tiền điện tử , mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đầu gia thương mại, hợp tác thiết kế , tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng (hậu mãi) TMĐT được thực hiện với cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (siêu thị ảo)

Trên đây là một số khái niệm mà các tổ chức trên thế giới đã đứa ra Khi tìm hiểu chúng ta có thể nhận thấy một số điểm chung ở các khái niệm đã nêu đó là: trước hết tất cả các khái niệm đều có cách hiểu thương mại điện tử ở đây đều là việc thực hiện các hoạt động thương mại không chỉ trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ mà còn nhiều các hoạt động thương mại khác như quảng cáo, thanh toán, phân phối… và những hoạt động này đều được tiến hành thông qua một bên thứ ba đó là nhà cung cấp mạng có thể là mạng điện thoại, mạng internet…

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhận thấy một số điểm khác biệt cơ bản giũa các khái niệm Trước hết với khái niệm của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và

Tổ chức Hợp tác phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD) đều có một đặc điểm chung đó là phương tiên điện tử mà các bên sử dụng để thực hiện hoạt động thương mại ở đây phải là mạng Internet, như vậy với hai khái niệm này thì phạm vi của khái

Trang 3

niệm phương tiện điện tử đã bị thu hẹp rất nhiều, phương tiện điện tử trong hai khái niệm này không bao gồm: điện thoại, fax, telex và các mạng viễn thông khác …

Còn với khái niệm của Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Uỷ ban Châu Âu thì phạm vi của khái niệm phượng tiện điện tử không bị giới hạn, phương tiện điện tử ở đây không chỉ mạng Internet mà còn nhiều các phương tiện khác như: điện thoại, telex, facsimile, hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử Tuy nhiên với đặc thù của mình Internet vẫn là phương tiên được sử dụng rộng rãi và hữu hiệu nhất, bởi với sức mạnh và giao thức mạng độc lập của mình Internet có thể tập hợp các loại hình phương tiện điện tử khác Như vậy, hiện nay đang tồn tại hai cách hiểu khác nhau về TMĐT, một theo nghĩa rộng

và một theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì phương tiện điện tử không chỉ mình Internet mà còn nhiều phương tiện khác như: điện thoại, fax, telex… còn theo nghĩa hẹp thì phương tiện điện tử chỉ có Internet

Pháp luật của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm về TMĐT, tuy nhiên trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 , tại khoản 6 Điều 4 có quy định “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử” và khoản 10, Điều 4 quy định “phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự” Mặc dù không đưa ra khái niệm về thương mại điện tử, nhưng thương mại điện tử với bản chất

là các hoạt động thương mại thì nó cũng là một giao dịch điện tử, sự khác biệt ở đây giữa TMĐT và giao dịch điện tử chỉ là phạm vi, TMĐT có phạm vi hẹp hơn so với các giao dịch điện tử, hay nói cách khác giữa hai khái niệm này tồn tại mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Cái riêng của thương mại điện tử ở đây đó chính là hoạt động thương mại , mục đích lợi nhuận còn giao dịch điện tử có nhiều giao dịch không phải

là thương mại, ví dụ: Nhà nước thu thuế qua mạng, mục đích ở đây là quảng lí Nhà nước, không phải hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận Vì vậy với khái niệm

về giao dịch điện tử được quy định tại khoản 6 Điều 4 Luật giao dịch điện tử chúng ta cũng có thể rút ra cách hiểu của pháp luật Việt Nam về TMĐT như sau “TMĐT là các

Trang 4

hoạt động thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử” Như vậy pháp luật Việt Nam cũng có cách hiểu về TMĐT theo nghĩa rộng tương tự như với hai khái niệm của của Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Uỷ ban Châu Âu

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu nhóm sẽ hiểu TMĐT theo nghĩa rộng, bởi hiện nay các phương tiện điện tử ngày càng trở nên đa dạng hơn và các hoạt động thương mại đã sử dụng hầu hết các phương tiện này

2 Đặc điểm của thương mại điện tử

Thứ nhât, các bên tiến hành giao dịch điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau

và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước

Trong thương mại truyền thống chúng ta đã quen với việc gặp gỡ trực tiếp hoặc biết nhau từ trước để tiến hành giao kết hợp đồng, và phương tiện các bên sử dụng để giao kết thương là giấy tờ và kí trực tiếp lên trên giấy Tuy nhiên với TMĐT – thương mại phi giấy tờ các bên sẽ không gặp trực tiếp, không cần biết trước mà mọi thứ có thể tiến hành qua phương tiện điện tử và để thực hiện điều này rất đơn giản các bên chỉ với một cú nhấp chuột, hoặc một tin nhắn họ đã có thể giao kết, đề nghị giao kết hợp đồng với nhau Vì vậy chỉ cần có phương tiện điện tử thì bất kể nơi đâu từ vùng xa xôi hẻo lánh đến thành thị đều có thể thực hiện hoạt động thương mại điện tử

Thứ hai, TMĐT được thực hiện trong một môi trường không biên giới

Đối với các hoạt động thương mại truyền thông thì biên giới quốc gia luôn tồn tại (làm rõ chỗ này) Tuy nhiên với TMĐT thế giới là một thị trường thống nhất, và nó trực tiếp tác động lên thị trường cạnh tranh của toàn cầu không chỉ riêng của bất cứ quốc gia nào

Thứ ba, hoạt động TMĐT có sự tham gia của ít nhất ba bên chủ thể

Trong hoạt động TMĐT luôn có sự tham gia của ít nhất ba bên chủ thể, trong đó một bên không thể thiếu đó chính là bên cung cấp mạng, các cơ quan chứng thực chữ

kí số Sự xuất hiện của bên thứ ba này đã làm cho TMĐT khác với thương mại truyền thống, trong thương mại truyền thống cũng có thể có sự tham gia của ba, thậm chí là 4 hoặc 5 bên nhưng các chủ thể này tham gia với vai trò là các bên của hợp đồng thương mại họ cùng hướng tới một bản hợp đồng Còn bên thứ bat ham gia vào hoạt động

Trang 5

TMĐT là nhà cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan chứng thực chữ kí số họ tham gia với vai trò tạo mội trường cho các giao dịch TMĐT, công việc chính của họ là chuyển đi, lữu trữ các thông tin liên quan đến các bên hay xác nhận độ tin cậy thông qua việc chứng thực chữ kí số Nói tóm lại họ tham gia vào một hợp đồng dịch vụ cung cấp mạng, hay hợ đồng chứng thực chứ không hướng tới hợp đồng thương mại mà các bên đang tiến hành kí kết

Thứ tư, đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường Đối với hoạt động thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chính là một công

cụ bổ trợ không thể thiếu để tiến hành các giao dịch, nhưng với TMĐT mạng lưới thông tin lại chính là thị trường Thông qua TMĐT mà nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành như: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian ảo là các dịch vụ môi giới cho kinh doanh và tiêu dùng

Thứ năm, TMĐT mang tính rủi ro cao hơn hoạt động thương mại truyền thống Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân các bên trong giao dịch không trực tiếp gặp nhau nên việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, rồi thông tin về thương nhân… đôi khi do

sự thiếu hiểu biết về cách thức sử dụng phương tiện điện tử cũng dễ gây ra những ruit roc ho người tiêu dùng trong hoạt động TMĐT

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1 Khái niệm “người tiêu dùng” và “bảo vệ người tiêu dùng”

a Khái niệm người tiêu dùng

Theo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành năm 1999 thì “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Và khái niệm này đến nay vẫn được giữ nguyên tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 theo đó thì NTD vẫn bao gồm cá nhân, tổ chức mua hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng không vì mục đích kinh doanh

Từ khái niệm NTD nêu ra ở trên, chúng ta thử đặt nó bên cạnh những khái niệm

về NTD của các quốc gia khác trên thế giới cũng như khái niệm của các tổ chức để xem cách hiểu về NTD theo pháp luật Việt Nam có điểm gì giống và khác

Trang 6

Theo hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD có tên: “Các nguyên tắc chỉ đạo

để bảo vệ NTD” trong Nghị quyết số 39/948 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/5/1985 “………” Như vậy có thể thấy quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với hướng dẫn của Liên Hợp Quốc

Luật Bảo vệ NTD của Thái Lan đưa ra định nghĩa “Người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh” Cách hiểu của định nghĩa này chưa giúp chúng ta phấn biệt được khái niệm NTD với khái niệm thương nhân, nội dung của định nghĩa cho thấy NTD theo cách hiểu của họ đơn thuần chỉ là người mua hoặc người sử dụng dịch vụ của một nhà kinh doanh, đơn

cử như doanh nghiệp A mua một lô gỗ từ doanh nghiệp B về để sản xuất sản phẩm xuất khẩu thì với khái niệm đã nêu trong trường hợp này doanh nghiệp A vẫn là người tieu dùng Khái niệm được đưa ra trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD của Thái Lan chưa đề cập đến mục đích của việc mua, hay sử dụng dịch vụ của các chủ thể

Theo Luật Bảo vệ NTD của Liên Xô cũ định nghĩa: “NTD là công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng” Sơ sánh với định nghĩa NTD theo pháp luật Việt Nam ta thấy định nghĩa này có những điểm khác biệt như sau: Thứ nhất, định nghĩa của Liên Xô yêu cầu NTD phải là công dân có nghĩa chỉ

cá nhân mới là NTD, không tồn tại trường hợp tổ chức là NTD Còn với pháp luật Việt Nam từ ngữ chỉ chủ thể là NTD đươc dùng tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đó là từ “người” hơn nữa vế sau quy định “cho mục đích sinh hoạt của……tổ chức” , với quy định như vậy cua pháp luật Việt Nam có thể hiểu rằng pháp luật nước

ta công nhân cả tổ chức là NTD Tuy nhiên theo quan điểm của nhóm, thiết nghĩ nên

có quy định hướng dẫn NTD chỉ có thể là cá nhân, bởi tổ chức là một chủ thể vô hình vốn dĩ nó chỉ tồn tại trên một tập hợp của một số đông những con người cụ thể, hơn nữa việc sử dụng hàng hóa hay dịch vụ thì tổ chức không thể trực tiếp sử dụng mà chỉ

có những con người trong tổ chức đó sử dụng Điểm khác biệt thứ hai nữa là với định nghĩa của Liên Xô cũ ta thấy rằng mới chỉ đề cập đến hàng hóa hữu hình mà chưa đề

Trang 7

cập đến hàng hóa vô hình, đâ có thể coi là một thiếu sót rất lớn vì hàng hóa hữu hình ngày càng phổ biến, và quyền lợi của NTD trong những quan hệ liên quan đến loại hàng hóa này cũng rất cần được bảo vệ Nhưng có thể nhận thấy điểm tương đồng củ

cả hai khái niệm ở đây đã đều đề cập đến mục đích của việc mua hàng hóa đó chính là mục đích sử dụng, tiêu dùng hay mục đích riêng

Luật tiêu dùng của nước Pháp định nghĩa “NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại, không nhằm mục đích kinh doanh” Khái niệm về NTD của Pháp tương đối giống với khái niệm của nước ta đưa ra, họ đã nhấn mạnh đến mục đích phi lợi nhuận trong định nghĩa này, và điều đó giúp chúng ta dễ dàng phần biệt được khái niệm NTD với khái niệm thương nhân

Các khái niệm đã nêu mặc dù còn tồn tại nhiều điểm khác nhau, những vẫn có

sự thống nhất dó chính là mục đích của việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ phi lợi nhuận không nhằm mục đích kinh doanh Có lẽ cũng xuất phát từ đặc điểm quan trọng này mà pháp luật Việt Nam đã đúc kết và đưa ra khái niệm như hiện nay

Từ những khái niệm đã nêu có thể đưa ra một số đặc điểm về NTD như sau:

Thứ nhất, NTD là người mua, người sử dụng hoặc người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Trong quan hệ mua bán với thương nhân thì NTD cho dù là cá nhân hay

tổ chức thì họ phải đóng vai trò là bên mua hoặc là bên sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong giao dịch này, có nghĩa thương nhân sẽ là bên chuyển giao hàng hóa đối với hợp đồng mua bán hàng hóa còn NTD sẽ là bên nhận và có nghĩa vụ thanh toán Hay với hợp đồng dịch vụ thì thương nhân là bên phải thực hiện một công việc còn NTD là chủ thể thụ hưởng và thanh toán

Thứ hai, mục đích mà NTD hướng tới khi mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ là mục đích tiêu dùng chứ không phải mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuân Mục đích tiêu dùng hiểu theo một cách thông thường nhất đó chính là việc dùng những của cải vật, chất đã mua để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, còn dưới góc độ kinh tế thì

“tiêu dùng” được hiểu là quá trình tác động đến một vật bằng cách sử dụng, áp dụng và làm tiêu hao vật đó nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất Như vậy việc đưa

Trang 8

ra mục đích trong các định nghĩa về NTD là hết sức quan trọng vì nó là cơ sở để phân biệt ai là thương nhân? Ai là NTD?

b Khái niệm bào vệ quyền lợi người tiêu dùng

Khái niệm NTD đã được đưa ra ở trên vậy bảo vệ những đối tượng đã nêu là gì? phải thực hiện như thế nào? trả lời những câu hỏi này chính là đang định nghĩa về cụm

từ “bảo vệ quyền lợi NTD”

Bảo vệ quyền lợi NTD được hiểu là việc sử dụng các biện pháp cần thiết tác động vào các hành vi xử sự của các chủ thể trong xã hội, để bảo đảm không có các hành vi vi phạm pháp luật đối với NTD khi họ thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình

Và trong số những biện pháp đó pháp luật được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo đảm quyền lợi của NTD trên thực tế

2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi NTD

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã quy định tại Điều 71 “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.” Bản thân với vai trò là một chủ thể của quan hệ pháp luật trong quan hệ mua bán với thương nhân, NTD có quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm trước những mối nguy hại có thể gặp phải khi sử dụng hàng hóa hoặc các dịch vụ mà thương nhân đó cung cấp Trong một quốc gia độc lập dân cư là một yếu tố không thể tách rời, “dân có giàu, nước mạnh” thử hỏi với một đất nước mà công dân của nó không được sử dụng những sản phẩm và dịch vụ tiên tiến, chất lượng thì quốc gia đó có giàu mạnh được không Vì vậy việc chăm sóc, bảo

vệ quyền lợi NTD là cần thiết hơn bao giờ hết và quy định của Hiến Pháp là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng thể hiện sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi NTD Không chỉ dừng lại ở vị trí là một thành phần trong bộ phận dân cư của một quốc gia,

mà NTD còn giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế Trên thị trường các chủ thể tác động qua lại lẫn nhau để xác định ba vấn đề trọng tâm: Đó là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Khi trả lời cả ba câu hỏi này ta thấy luôn xuất hiện một yếu tố chi phối để các thương nhân hướng tới đó chính là NTD, họ phải xác định được NTD đang cần gì? NTD cần cái đó như thế nào? Và sự đáp ứng của họ đối với NTD

Trang 9

đến đâu câu trả lời sẽ được thể hiện thông qua sức tiêu thụ của NTD đối với sản phẩm

mà họ tung ra thị trường Theo đó để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác họ buộc phải hiểu và đáp ứng được phần nào nhu cầu, sở thích của NTD , trường hợp NTD không mua hàng, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp thì hậu quả tất yếu là doanh nghiệp sẽ bị phá sản Vì vậy, để phát triển kinh tế bền vững , bất kỳ nhà nước nào cũng đều phải quan tâm bảo vệ các thành tố thị trường mà NTD là nhân vật trung tâm

Mặc dù là trung tâm của nền kinh tế, nhưng khi tham gia vào không gian này NTD lại là bên yếu thế NTD tham gia với vai trò là người mua, người sử dụng dịch vụ

sự hiểu biết của họ đối với sản phẩm, dịch vụ mà họ sẽ sử dụng, đang sử dụng hoặc đã

sử dụng chỉ thông qua những thông tin mà người bán cung cấp, hoặc qua các phương tiên khác không chính thống, nhiều khi không đảm bảo độ tin cậy Đơn giản khi một NTD đi mua một hộp bánh về để gia đình ăn, mặc dù trên bao bì có ghi thành phần, hạn sử dụng ngày sản xuất… nhưng bằng mắt thường và hiểu biết trung bình về sản phẩm thì liệu NTD có phát hiện ra những lỗi mà thương nhân không công bố NTD yếu thế, dễ bị lừa dối hơn nữa yếu tố lợi nhuận đôi khi làm “mờ mắt” các thương nhân

vì vậy các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường

Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ra đời thay thế cho pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1990 được xem là một bước tiến lớn của nước ta trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD, và nước ta cũng là một trong những nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á ban hành luật bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD như hiện nay đã đảm bảo chặt chẽ hay chưa? Tính khả thi đến đâu? Đây vẫn là những câu hỏi rất lớn được đặt ra sau một thời gian Luật Bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu lực Thực

tế đã cho thấy Luật còn rất nhiều quy định quá chung chung, thiếu tính thực tế, những chỗ cần chú trọng thì lại không quy định Ví dụ: Việt Nam là một đất nước đang phát triển, hình thức kinh doanh nhỏ lẻ hàng rong, hàng dạo không đăng ký kinh doanh rất phổ biến, và hiện nay hầu hết sản phẩm mà NTD đang tiêu thụ có nguồn gốc từ nhóm

Trang 10

đối tượng này Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD của chúng ta được bao nhiêu quy định điều chỉnh trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh theo hình thức này Hơn nữa quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động bảo

vệ quyền lợi NTD còn quá nhiều kẽ hở, rõ ràng có quy định đấy, họ có trách nhiệm phải bảo vệ quyền lợi NTD nhưng họ có làm không? Họ không làm thì chế tài đấy, nhưng trên thực tế xử lý được bao nhiêu cơ quan, tổ chức tác trách trong công việc của mình Nếu như cơ chế tốt, các cơ quan tổ chức đều đồng lòng với công tác bảo vệ quyền lợi NTD thì đã không xảy ra quá nhiều trường hợp vi phạm quyền lợi NTD trắng trợn như thời gian vừa qua Xăng, dầu chứa axton gây cháy, nổ phương tiện giao thông, rồi nước tương chưa chất gây ung thư 3 – MCPD, rồi gần đây nhất là rộ lên việc

xử phạt người dân khi đội mũ bảo hiểm kém chất lượng… việc mũ kém chất lượng có thuộc trách nhiệm của NTD không? Với mắt thường thì thử hói người dân có biết xăng

có chứa axeton, nước tương sử dụng hàng chục năm trời có ai biết có chứa chất gây ung thư, mũ bảo hiểm nào là giải là thật khi mà cả hai đều gống nhau Vậy cơ quan quản lý thị trường sinh ra để làm gì? Họ có phương tiện kỹ thuật, có nhân lực, có thẩm quyền thì tại sao lại để cho những mặt hàng kém chất lượng xâm nhập vào đời sống của NTD Với thực trạng như vậy việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cần thiết hơn bao giờ hết, nó phải được tiến hành ngay không sẽ dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc mà người gánh Chịu không ai khác chính là NTD

Nói đến cơ chế chúng ta không thể không nhắc đến cơ chế tự bảo vệ của người tiêu dùng, họ có thể tự khiếu nại, khởi kiện hoặc thông qua đại diện là các tổ chức bảo

vệ quyền lợi NTD nhưng trên thực tế được bao nhiêu NTD sử dụng quyền lực này Đối với biện pháp tự mình khiếu nại, khởi kiện với tâm lý e ngại, hơn nữa thời gian, cũng như khả năng đượcgiải đáp cũng rất khó nên hầu hết NTD đều giữ tâm lý “ngậm đắng nuốt cay” rút kinh nghiệm cho lần sau khi mua phải sản phẩm kém chất lượng, chứ chẳng mấy ai đem khiếu kiện

Với biện pháp sử dụng quyền bảo vệ thông qua các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD Một thực trạng hiện nay tại Việt Nam có /64 tỉnh thành phố có hiệp hội bảo vệ

Ngày đăng: 23/08/2022, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w