1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths CTH giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện đà bắc, tỉnh hòa bình hiện nay

110 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iết về mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, đồng thời khẳng định các giá trị đạo đức luôn chịu sự tác động hai mặt từ môi trường kinh tế. Các tác giả cũng chỉ ra sự phức tạp của các vấn đề đạo đức xã hội: Đạo đức mới vừa phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác, vừa phải đấu tranh tự đổi mới trong điều kiện mới: - Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Tinh hoa tháng 6/1996; Nguyễn Tĩnh Gia, “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, tháng 2/1997; Dương Xuân Lộc, “Quan hệ giữa kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên cơ sở hiện nay (qua thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh)”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2000. Và cũng có khá nhiều tác giả, nhiều công trình khoa học nghiên cứu hết sức công phu đã được trình bày thành sách, luận án, luận văn và các bài viết trên các tạp chí. Tiêu biểu như: - Phạm Văn Hùng, “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ,quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, 2000; Bùi Văn Hà, “Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay (qua thực tế ở Hưng Yên)”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2004. - Dương Chúc Linh, Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên tỉnh Cà Mau hiện nay” , Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, 2014. Trong các công trình này, các tác giả đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc và những yêu cầu đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Các tác giả cũng thống nhất khi luận giải việc giáo dục đạo đức nói chung và đạo đức cách mạng nói riêng phải trên cơ sở của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định, từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay. 3 / 110 2 là gốc”. Đại hội IX và X của Đảng đều khẳng định tầm quan trọng của việc không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ cho công chức, viên chức. Hiện nay, hiện tượng phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị trong công chức, viên chức vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp. Thậm chí có một số công chức, viên chức đòi đa nguyên, đa đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ để tuyên truyền nói xấu chế độ. Những công chức, viên chức này dù vô tình, hay cố ý thì cũng đang tiếp tay cho những thế lực muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiếp tay cho chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đang làm thay đổi quan niệm về đạo đức, lối sống, suy thoái tư tưởng chính trị của một bộ phận nhân dân, trong đó có công chức, viên chức. Đây là một trong những nguy cơ, hiểm họa, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Bên cạnh đó, cũng dễ dàng nhận thấy rằng, “năng lực phẩm chất của một bộ phận công chức, viên chức còn hạn chế” và “những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Bên cạnh chung của sự xuống cấp về đạo đức xã hội, sự suy thoái tư tưởng - chính trị, đạo đức công vụ của một bộ phận công chức, viên chức, thì đội ngũ công chức, viên chức huyện Đà Bắc cũng đã được giáo dục đạo tạo cơ bản chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, được rèn luyện phẩm chất đạo đức, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, trong đội ngũ công chức, viên chức của huyện Đà Bắc hiện nay cũng còn nhiều những hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức, phẩm chất đạo đức đi xuống, tình trạng vi phạm về kỷ luật đạo đức công vụ ngày càng gia tăng; sa sút ý chí chiến đấu, mất dân chủ, quan liêu, xa rời quần chúng, phong cách, đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, gây mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân khi thực thi công vụ, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng và chính quyền, gây mất lòng tin vào Đảng, vào chính quyền; ảnh hưởng đến tình hình chính trị - tư tưởng của nhân dân trong huyện. Vì vậy, giáo5 - Đề tài “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” mã số KX 04.09/06-10, do Tiến sĩ Ngô Văn Thạo làm chủ nhiệm, Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan chủ trì, thuộc chương trình khoa học xã hội trọng điểm cấp Nhà nước “nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010” mã số KX 04/06-10. Đề tài nghiên cứu xác định cơ sở lý luận liên quan đến giải pháp và điều kiện phòng chống suy thoái, xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay. Trên cơ sở thực hiện hàng ngàn phiếu điều tra xã hội học (đối tượng là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên phạm vi cả nước từ 2006 - 2010), đề tài đánh giá thực trạng tình hình suy thoái và thực trạng công tác phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có hiệu quả thiết thực. - Nguyễn Thị Kim Hoa, “Giáo dục đạo đức công dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị, 2008. Trên cơ sở nêu lên những khái niệm về đạo đức, cuốn sách đã chỉ rõ: đạo đức luôn là sản phẩm của xã hội, gắn liền với nhân sinh quan và thế giới quan của con người. Trong xã hội có giai cấp thì bao giờ đạo đức cũng có tính giai cấp. Những chuẩn mực và quy tắc của đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi cá nhân. - Nguyễn Khát Đạt (chủ biên): “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006. Như tên gọi của cuốn sách, tập thể tác giả nêu rõ nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên cũng như trong toàn xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với một đảng cách mạng, đặc

Trang 1

1

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 9

1.1 Đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức 91.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức 191.3 Một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của một số nước hiện nay 27

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY 37

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay 372.2 Thực trạng đạo đức công vụ và thực trạng giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay 502.3 Những vấn đề đặt ra về giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay 76

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY 84

3.1 Quan điểm tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay 843.2 Giải pháp tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay 90

KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngay từ khi ra đời, nền công vụ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được xây dựng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh một nền công vụ

dân chủ, thân dân, trọng dân, quý dân Nền công vụ ấy đã quản lý có hiệu quả

mọi hoạt động của đất nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ quá độ xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đến hôm nay, những lời dạy của Hồ Chí Minh về một nền công vụ vì dân vẫn còn nguyên giá trị

Giáo dục đạo đức là một trong những nội dung quan trọng của công tác tư tưởng Một yếu tố cốt lõi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là mỗi công chức, viên chức cần có đạo đức công vụ, trong thực thi công vụ phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân Trước lúc đi xa, Người đã để lại lời di huấn dặn dò về đạo đức cách mạng: “ Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[14, tr.02 ]

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã nêu vấn đề “nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy

tớ thật trung thành của nhân dân” Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng quy chế công chức, viên chức trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, hoạt động sự nghiệp, sản xuất - kinh doanh nhằm hình thành đội ngũ cán bộ chuyên môn có phẩm chất, có kiến thức, thành thạo nghề nghiệp, nắm vững pháp luật”

Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với điều kiện mới, Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) chỉ rõ: “Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết

là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, coi trọng cả đức và tài, đức

Trang 3

là gốc” Đại hội IX và X của Đảng đều khẳng định tầm quan trọng của việc không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

Hiện nay, hiện tượng phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị trong công chức, viên chức vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp Thậm chí có một

số công chức, viên chức đòi đa nguyên, đa đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ để tuyên truyền nói xấu chế độ Những công chức, viên chức này dù vô tình, hay

cố ý thì cũng đang tiếp tay cho những thế lực muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiếp tay cho chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đang làm thay đổi quan niệm về đạo đức, lối sống, suy thoái tư tưởng chính trị của một bộ phận nhân dân, trong đó có công chức, viên chức Đây là một trong những nguy cơ, hiểm họa, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ Bên cạnh

đó, cũng dễ dàng nhận thấy rằng, “năng lực phẩm chất của một bộ phận công chức, viên chức còn hạn chế” và “những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp

Bên cạnh chung của sự xuống cấp về đạo đức xã hội, sự suy thoái tư tưởng - chính trị, đạo đức công vụ của một bộ phận công chức, viên chức, thì đội ngũ công chức, viên chức huyện Đà Bắc cũng đã được giáo dục đạo tạo cơ bản chuẩn về trình

độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, được rèn luyện phẩm chất đạo đức, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn huyện Tuy nhiên, trong đội ngũ công chức, viên chức của huyện Đà Bắc hiện nay cũng còn nhiều những hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, nhận thức, phẩm chất đạo đức đi xuống, tình trạng vi phạm về kỷ luật đạo đức công vụ ngày càng gia tăng; sa sút ý chí chiến đấu, mất dân chủ, quan liêu, xa rời quần chúng, phong cách, đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, gây mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân khi thực thi công vụ, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng và chính quyền, gây mất lòng tin vào Đảng, vào chính quyền; ảnh hưởng đến tình hình chính trị - tư tưởng của nhân dân trong huyện Vì vậy, giáo

Trang 4

dục đạo đức công vụ cho đôi ngũ công chức, viện chức của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay là vô cùng cần thiết và cấp bách Chính vì lý do trên tác giả chọn đề tài: “ Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay ” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học, chuyên ngành Công tác tư tưởng của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề đạo đức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên Nhiều bài viết, bài nói của Người để lại được tập hợp và đó là những công trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng như:

- “Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng”, Nxb Sự thật, 1976; “Chủ tịch

Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng”, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội,

1986;“Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh”, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2004

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã được một số tác giả nghiên cứu

và trên cơ sở học tập đạo đức, phong cách làm việc của Người, đề xuất các giải pháp xây dựng đạo đức mới như:

- PGS TS Lương Khắc Hiếu: Giáo trình nguyên lý công tác tư tưởng,

tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008

Hai tập Nguyên lý công tác tư tưởng có khối lượng kiến thức rất lớn Tập

1 gồm 11 chương trình bày các vấn đề thuộc về bản chất, chức năng, nguyên tắc, phương châm và đặc biệt là những nội dung cơ bản của công tác giáo dục

tư tưởng trong đó có nội dung đặc biệt quan trọng đối với luận văn là giáo dục đạo đức Tập 2 trình bày những vấn đề thuộc về phương pháp, hình thức, phương tiện công tác tư tưởng, luận văn đã vận dụng những nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện để tiến hành triển khai luận văn của mình đúng hướng, đúng chuyên ngành đào tạo Tuy nhiên vấn đề về giáo dục đạo đức công

vụ cho công chức, viên chức thì hai cuốn giáo trình này chưa đề cập sâu

Trang 5

Một số tác giả có các bài viết về mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, đồng thời khẳng định các giá trị đạo đức luôn chịu sự tác động hai mặt từ môi trường kinh tế Các tác giả cũng chỉ ra sự phức tạp của các vấn đề đạo đức xã hội: Đạo đức mới vừa phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác, vừa phải đấu tranh tự đổi mới trong điều kiện mới:

- Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng

các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Tinh hoa tháng 6/1996; Nguyễn Tĩnh

Gia, “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ

quản lý”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, tháng 2/1997; Dương Xuân Lộc, “Quan

hệ giữa kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên cơ sở hiện nay (qua thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh)”, Luận văn Thạc sĩ

Triết học, Hà Nội, 2000

Và cũng có khá nhiều tác giả, nhiều công trình khoa học nghiên cứu hết sức công phu đã được trình bày thành sách, luận án, luận văn và các bài viết trên các tạp chí Tiêu biểu như:

- Phạm Văn Hùng, “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ

cán bộ lãnh đạo ,quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc

sĩ Triết học, 2000; Bùi Văn Hà, “Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ,

đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay (qua thực tế ở Hưng Yên)”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2004

- Dương Chúc Linh, Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

Trong các công trình này, các tác giả đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc và những yêu cầu đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên Các tác giả cũng thống nhất khi luận giải việc giáo dục đạo đức nói chung

và đạo đức cách mạng nói riêng phải trên cơ sở của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định, từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay

Trang 6

- Đề tài “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái

về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” mã số KX

04.09/06-10, do Tiến sĩ Ngô Văn Thạo làm chủ nhiệm, Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan chủ trì, thuộc chương trình khoa học xã hội trọng điểm cấp Nhà nước “nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010” mã số

KX 04/06-10 Đề tài nghiên cứu xác định cơ sở lý luận liên quan đến giải pháp

và điều kiện phòng chống suy thoái, xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay

Trên cơ sở thực hiện hàng ngàn phiếu điều tra xã hội học (đối tượng là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên phạm vi cả nước từ 2006 - 2010), đề tài đánh giá thực trạng tình hình suy thoái và thực trạng công tác phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có hiệu quả thiết thực

- Nguyễn Thị Kim Hoa, “Giáo dục đạo đức công dân trong quá trình

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”,

Nxb Lý luận chính trị, 2008

Trên cơ sở nêu lên những khái niệm về đạo đức, cuốn sách đã chỉ rõ: đạo đức luôn là sản phẩm của xã hội, gắn liền với nhân sinh quan và thế giới quan của con người Trong xã hội có giai cấp thì bao giờ đạo đức cũng có tính giai cấp Những chuẩn mực và quy tắc của đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi cá nhân

- Nguyễn Khát Đạt (chủ biên): “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống

chủ nghĩa cá nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2006

Như tên gọi của cuốn sách, tập thể tác giả nêu rõ nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên cũng như trong toàn xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với một đảng cách mạng, đặc biệt là đối với một đảng duy nhất cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 7

Nhiều năm qua, đặc biệt là từ sau các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI của Đảng đến nay, Đảng ta liên tiếp phát động những cuộc vận động nghiên cứu và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Những cuộc vận động ấy

đã góp phần quan trọng vào việc quán triệt trong Đảng và trong nhân dân tư tưởng đạo đức của Người Qua đó Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình vận dụng và phát triển sáng tạo vào việc giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức Tuy nhiên, việc nghiên cứu để vận dụng vào tình hình thực tế ở Đảng

bộ huyện vẫn chưa được cơ quan nào nghiên cứu một cách khoa học để đưa ra được những giải pháp phù hợp, có hệ thống để áp dụng thực tiễn vào Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận của việc giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức ở nước ta hiện nay

- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức công vụ và thực trạng công vụ của công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục đạo đức công

vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Trang 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Thời gian nghiên cứu về thực trạng từ năm 2010 đến năm 2014 Các giải pháp được xác định cho thời kỳ từ nay đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức công vụ và đạo đức cộng vụ của công chức, viện chức Ngoài ra, luận văn

có kế thừa kết quả nghiên cứu về lý luận đạo đức công vụ của công chức, viên chức, của một số công trình có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích

và tổng hợp, lôgic và lịch sử, tra cứu tài liệu, thống kê, so sánh,… Đặc biệt, quá trình nghiên cứu luận văn coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn

6 Cái mới của luận văn

- Làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm, chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương thức giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức và sự cần thiết phải tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức hiện nay

- Khái quát, phân tích, làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức công vụ và thực trạng đạo đức công vụ của công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay

- Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các quan điểm, giải pháp tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới

Trang 9

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn

đề lý luận về đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng địa phương trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức, viên chức hiện nay Đồng thời cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu lồng ghép vào các chuyên đề giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC -

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Đạo đức đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

1.1.1 Đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ

1.1.1.1 Khái niệm công vụ nhà nước

Nhà nước là tổ chức công quyền nên phục vụ trong cơ quan và công sở nhà nước là thực hiện công vụ nhà nước

Công vụ nhà nước là một phần hay một mặt hoạt động có tính tổ chức, quyền lực - pháp lý của Nhà nước, được phân biệt với các hoạt động khác trong

xã hội như sản xuất vật chất, sáng tạo giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội bởi sự gắn bó chặt chẽ của công vụ nhà nước với quyền lực nhà nước Hoạt động công vụ nhà nước trước hết là hoạt động quyền lực, tác động đến ý chí của con người, đưa đến cho họ những hành vi có

ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu chung của mọi người trong xã hội Mặt khác hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức nhà nước đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, không tách rời khỏi cơ cấu, tổ chức của cơ quan đó

Chức vụ là bộ phận cơ cấu cơ sở của cơ quan nhà nước, bao gồm hàng loạt vấn đề: xác định các chức vụ, các quy tắc và phương thức tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi chức, thuyên chuyển Như vậy, công vụ nhà nước được bắt đầu từ lúc xác lập các chức vụ nhà nước Hoạt động công vụ nhà nước là một dạng lao động xã hội nhằm quản lý các hoạt động của xã hội theo quy chuẩn pháp lý Vì vậy, hoạt động công vụ liên quan đến nhiều mặt hoạt động

xã hội, và nó đòi hỏi nhiều lĩnh vực khoa học và nghề nghiệp, nhưng nghề nghiệp cơ bản nhất của cán bộ, công chức nhà nước là thực hiện chức năng

Trang 11

quản lý hành chính nhà nước và các chức năng lập pháp, xét xử, kiểm sát của nhà nước

Từ góc độ khoa học pháp lý, pháp luật về công vụ nhà nước là một chế định pháp luật hành chính, xác lập và điều chỉnh quan hệ của nhà nước với công chức, viên chức nhà nước mà nghề nghiệp của các công chức, viên chức là thực hiện chức năng khác theo sự ủy nhiệm của nhà nước và thay mặt nhà nước Công vụ nhà nước là công việc hay hoạt động nhà nước mang tính tổ chức quyền lực – pháp lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Công vụ là một hoạt động do công

chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội

1.1.1.2 Khái niệm đạo đức công vụ

Đạo đức công vụ của người công chức, viên chức gắn liền với đạo đức

xã hội, những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị, nhưng đồng thời đạo đức công vụ là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức Do đó, đạo đức công vụ gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm những điều công chức, viên chức không được làm, cách ứng xử của công chức, viên chức khi thi hành công vụ do pháp luật quy định Vì vậy, đồng thời với những cố gắng để biến những quy định pháp luật đối với công chức, viên chức thành những chuẩn mực đạo đức công vụ, nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân dân của công chức, viên chức cần thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức thành những quy phạm pháp luật

Ở nước ta hiện nay, các quy định về đạo đức công vụ của công chức, viên chức đã được thể hiện trong nhiều văn bản như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…

Luật Cán bộ, công chức trong Điều 15 quy định đạo đức của cán bộ, công chức: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công

Trang 12

vô tư trong hoạt động công vụ”[31, tr.4] Điều 18 quy định những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, gồm:

“1 Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công 2 Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật 3 Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi 4 Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức”[31, tr.04]

Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán

bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức”[30, tr.12] Điều 37 của Luật này đã quy định những việc cán

bộ, công chức, viên chức không được làm

Đồng thời, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức của một số tổ chức, Bộ, ngành, địa phương đã được ban hành như: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch ;

Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta được xây dựng trên nền tảng triết lý Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của dân; giá trị cao nhất của

đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân, vì lợi ích nhân dân Do vậy, phát huy đạo

đức công vụ chính là đề cao trách nhiệm phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của người cán bộ, công chức, viên chức; từ đó cũng cố lòng tin của người dân vào nền công vụ

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đạo đức công vụ là hệ thống các

chuẩn mực quy định nhận thức và hành động được xem là tốt hay xấu, là nên

Trang 13

hay không nên làm; cao thượng hay thấp hèn; chính nghĩa hay phi nghĩa… trong hoạt động công vụ của người công chức, viên chức nhằm xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm mang tính phục vụ cao

Đạo đức công vụ được hiểu là đạo đức thực thi nhiệm vụ công của công chức, viên chức; là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội - công chức, viên chức, trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là công vụ

1.1.1.3 Cấu trúc đạo đức công vụ

Đạo đức bao gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức

- Ý thức đạo đức:

Con người không thể sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội Để tồn tại, con người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống chính

là ý thức đạo đức

- Hành vi đạo đức:

Mọi hành vi được thực hiện do thôi thúc của một động cơ nào đó Khi hành

vi được thực hiện do thôi thúc của ý thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức Hành vi đó thể hiện ý thức đạo đức và văn hoá đạo đức của cá nhân Hành vi đạo đức tác động trực tiếp đến con người và gắn liền với ý thức đạo đức

- Quan hệ đạo đức:

Quan hệ đạo đức là những quan hệ đã được ý thức đạo đức điều chỉnh giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và xã hội Những quan hệ này thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã hội, những phong tục, tập quán vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt khác nó đóng vai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức

Trang 14

Đạo đức công vụ gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức công vụ, hành vi đạo đức công vụ và quan hệ đạo đức của công chức, viên chức khi thực thi công vụ

1.1.1.4 Giáo dục đạo đức công vụ

* Khái niệm giáo dục

Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, là quá trình trao đổi và chuyển giao tri

thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích,

yêu cầu định sẵn Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách

con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong

hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học

Theo Từ điển tiếng Việt, giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có

hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra

Dưới góc độ triết học, có thể hiểu rằng, giáo dục là một quá trình hai mặt Một mặt, đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hóa nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đời sống của học sinh, sinh viên, học viên); mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của

xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động

xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội

Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Giáo dục là quá trình đào tạo con người

một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội,

Trang 15

tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người

* Khái niệm giáo dục đạo đức công vụ

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập rất nhiều đến vấn đề giáo dục đạo đức công vụ trong các tác phẩm của mình Đối tượng chung được Người nói đến là các chiến sĩ cách mạng và cán bộ cách mạng mà ngày nay chủ yếu là đội ngũ công chức, viên chức

Mỗi chế độ xã hội có hệ thống những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức riêng để điều chỉnh hành vi của con người Nhu cầu đạo đức xuất phát từ xã hội, nhưng biểu hiện đạo đức lại thông qua hành vi của cá nhân Con người một mặt bị ảnh hưởng bởi truyền thống đạo đức, mặt khác trong một môi trường

xã hội cụ thể và trình độ cụ thể của từng người cũng chi phối các quan niệm

và hành vi đạo đức của họ Do đó, để tất cả mọi người trong xã hội đều có thể tiếp nhận và thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức chung, phải tiến hành giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức, viên chức nói riêng

Khi bàn về con người, C.Mác coi con người như là một hệ thống những năng lực thể chất và những năng lực tinh thần Theo C.Mác, đạo đức của con người thuộc về những năng lực tinh thần - những năng lực không thể thiếu được, hơn nữa chính vì chúng mà những năng lực thể chất có sự định hướng phát triển đúng đắn Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cao và đánh giá rất đúng mức vai trò của đạo đức, theo Người nhân cách của con người bao gồm cả đức và tài Trong đó, đức là gốc, tài là quan trọng Như vậy, đạo đức là một yếu tố, một mặt của nhân cách cá nhân Song, nhân cách, đạo đức cá nhân không tự nhiên mà có, nó do sự giáo dục, rèn luyện bền bỉ, lâu dài mới có được

Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức là giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của loài người theo quan điểm của chủ

Trang 16

nghĩa Mác Lênin, suốt đời phấn đấu, hy sinh vì Đảng, vì nhà nước, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân lao động lên trên hết, mà bất kỳ khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước làm gương cho nhân dân, không được nói trái, làm trái pháp luật

Như vậy, giáo dục đạo đức công vụ là quá trình tác động một cách có

hệ thống của chủ thể đến đối tượng về các quan điểm, giá trị, những chuẩn mực đạo đức của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhờ đó công chức, viên chức điều chỉnh ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức của mình vì lợi ích của nhà nước,

xã hội, vì hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa người với người, giữa các cá nhân, tập thể và toàn xã hội

1.1.2 Công chức, viên chức và những điều chỉnh chính trị, pháp lý trong hình thành và rèn luyện đạo đức công vụ

1.1.2.1 Khái niệm công chức, viên chức

Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[31, tr.01]

Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan

hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã

Trang 17

hội trong hệ thống chính trị Đây là điểm đặc thù của Việt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam Bên cạnh đó, việc quy định công chức trong

bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc

tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm

sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội

Theo Luật viên chức năm 2010: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế

độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[32, tr.01]

1.2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc xây dựng con người - người công chức Nhà nước Về đạo đức, Người đưa ra rất nhiều tiêu chí rèn luyện: Đức là gốc; đức quyết định sự thành công của công chức, viên chức; công chức, viên chức là công bộc của nhân dân,… Đức của người công chức, viên chức là đạo đức công vụ Người coi đạo đức công vụ là “nền tảng”, là “cái gốc” của người công chức, viên chức Đức của người công chức, viên chức thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa; là trình độ giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó Đức được thể hiện ở sự trong sáng, trung thực, không cơ hội, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và của nhân dân; có lối sống trong sạch, gần gũi với quần chúng, gương mẫu, gắn bó với nhân dân, khiêm tốn, giản dị, cầu thị; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau Đức là cái gốc giúp người công chức, viên chức vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Trang 18

1.2.2.3 Đảng Cộng sản Việt Nam với vấn đề đạo đức công vụ

Để rèn luyện phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức, viên chức Đảng

ta đã xây dựng hệ thống các điều lệ, nội quy, quy chế quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức, viên chức những điều công chức, viên chức không được làm gây ảnh hưởng đến đạo đức, uy tín của Đảng Những chuẩn mực đạo đức của công chức, viên chức bao gồm:

- Về phẩm chất cá nhân, phải có phẩm chất đạo đức tốt; thực hiện nhiệm

vụ một cách trung thực, không vụ lợi; có lối sống trong sạch, cần cù, sáng tạo, có ý chí vươn lên; có thái độ cư xử đúng mực và phải luôn tự phê bình và phê bình

- Trong quan hệ với cơ quan, tổ chức, phải trung thực, công bằng, không thiên vị; thực hiện nhiệm vụ bằng hết khả năng của mình với tinh thần tận tụy, nhiệt tình; bảo vệ và sử dụng tiết kiệm tài sản của Nhà nước

- Trong quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên, phải biết hợp tác, đúng mực, với cấp dưới phải giúp đỡ, tư vấn, khuyên bảo, thường xuyên quan tâm tới tư cách, động cơ và lợi ích của cấp dưới; có tinh thần tương trợ lẫn nhau khi thi hành nhiệm vụ; có thái độ lịch sự, nhã nhặn và có mối quan hệ tốt với mọi người

- Đối với công chúng và với xã hội: Phục vụ nhân dân với thái độ lịch sự

và công bằng, đáng tin cậy, không nhận quà biếu hay ân huệ vượt quá giới hạn cho phép Trong thực thi công vụ, cần thực hiện nghiêm túc việc tự đánh giá

và đánh giá xếp loại công chức, viên chức hàng tháng, hàng năm ở tất cả các

cơ quan hành chính các cấp nhằm đề cao giá trị đạo đức, sự hướng thiện của con người, ngăn ngừa, hạn chế sự sa sút, suy thoái đạo đức

1.2.2.4 Những quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi đạo đức công vụ

Nhà nước trở thành môi trường đặc biệt điều chỉnh trực tiếp hành vi con người trên nền tảng chế độ chính trị và hành lang pháp luật Luật Cán bộ, công chức, Luật viên chức đã đưa ra các quy định dưới dạng khái niệm khái quát mang đặc trưng giá trị: Công chức, viên chức sống phải trung thực, lành mạnh, chí công vô tư Các giá trị này cần được tiêu chuẩn hóa thành các chuẩn mực

Trang 19

nhằm điều chỉnh hành vi công chức, viên chức trong thực thi công vụ và sinh hoạt đời thường

1.1.2.5 Rèn luyện đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

Rèn đức và tài

Tài của người công chức, viên chức là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình Tài năng chỉ được xem trọng khi nó gắn với quá trình cống hiến Người có tài đem khả năng của mình phục vụ tập thể, phục vụ đất nước trước khi nghĩ tới những quyền lợi cho bản thân Tiêu chuẩn của người công chức, viên chức bao giờ cũng có sự thống nhất giữa các mặt: tài năng (để hoàn thành công việc được giao); hiểu biết chính sách pháp luật (để làm cho đúng), rèn luyện đạo đức công

vụ (để cho dân tin, dân yêu và dân làm theo)

Giáo dục đạo đức và năng lực

Năng lực là khả năng của cá nhân giúp họ có thể thực hiện một hoạt động nào đó trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định và đảm bảo cho hoạt động

đó có kết quả Năng lực gồm có hai loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt

Năng lực chung là năng lực cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, như các thuộc tính về thể lực, trí tuệ, là những điều kiện cần thiết giúp cho việc hoàn thành công việc

Năng lực chuyên biệt thể hiện các phẩm chất chuyên biệt, có tính chuyên môn cao nhằm đáp ứng các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động nhất định với kết quả cao

Trang 20

Năng lực của công chức, viên chức phải gắn liền với đạo đức công vụ Năng lực và đạo đức của công chức, viên chức bao giờ cũng phải là sự thống nhất, phục vụ cho lợi ích của đất nước và nhân dân

Giáo dục đạo đức và lối sống

Mọi công chức, viên chức phải chuyên tâm tu dưỡng, rèn luyện bản thân, kiên định lý tưởng, thường xuyên cảnh giác, giữ vững ý chí, đảm bảo ý thức tổ chức kỷ luật, rèn luyện đạo đức và thực hành lối sống lành mạnh

Giáo dục nhân cách của công chức, viên chức trong quan hệ xã hội

Đạo đức công vụ là những giá trị, chuẩn mực và nguyên tắc quy định hành

vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội được áp dụng cho hoạt động công vụ Người công chức, viên chức có đạo đức công vụ là thể hiện lương tâm và trách nhiệm của mình vì lợi ích chung và lợi ích của người khác, ý thức rõ

về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi ích đó

Giáo dục đạo đức trong thực hiện nhiệm vụ

Công chức, viên chức trong thực thi công vụ cần phải tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật, sẵn sàng giúp đỡ nhân dân, không có thái độ hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu; phải thuần thục chuyên môn, nghiệp vụ và có thái độ ứng

xử giao tiếp văn minh lịch sự Công chức, viên chức không né tránh trách nhiệm, phải có bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực Cần thấy được rằng việc phục vụ nhân dân là mục tiêu hàng đầu của công chức, viên chức, là thước đo chủ yếu nhất cho mức độ và kết quả thực hiện công vụ

1.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

1.2.1 Mục đích của giáo dục đạo đức công vụ

Mục đích của giáo dục đạo đức công vụ là cung cấp cho công chức, viên chức những tri thức, hiểu biết về đạo đức, nâng cao tình cảm đạo đức và cổ vũ những hành vi đạo đức mang tính tự giác, tự nguyện cho công chức, viên chức

1.2.2 Chủ thể, đối tượng giáo dục

Trang 21

- Chủ thể giáo dục đạo đức công vụ là các cấp ủy Đảng, chính quyền,

các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội, mà trước hết là các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm quản lý công chức, viên chức; là công chức chủ chốt các cấp, các các cơ quan, đơn vị trên Chủ thể giáo dục đạo đức còn là các lực lượng chuyên trách làm công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền, giáo dục, là chính bản thân mỗi công chức, viên chức Ngoài ra, công chức, viên chức còn chịu sự giáo dục của gia đình, bạn bè và các lực lượng khác

- Đối tượng giáo dục đạo đức công vụ là đội ngũ công chức, viên chức;

họ là những người tiếp nhận các nội dung được giáo dục, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của bản thân theo hướng tích cực Thông qua công tác giáo dục đạo đức công vụ, chủ thể giáo dục tác động về mặt tinh thần - nhận thức, thái độ, củng cố niềm tin và cổ vũ hành động của cá nhân đó Từ đó cho thấy

họ vừa là đối tượng giáo dục đạo đức công vụ, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục đạo đức công vụ

1.2.3 Nội dung giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

Tại Đại hội XI, Đảng xác định một trong ba nội dung lớn để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “ Xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác” Kiên quyết “loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân”[21,tr.54,55]

- Giáo dục lòng trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa: Mục đích của

xã hội chủ nghĩa là giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do và toàn diện Vì vậy, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa không chỉ là yêu cầu về mặt chính trị mà cũng chính là một yêu cầu

về đạo đức của mỗi công chức, viên chức

Trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, kiên trì mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là yêu

Trang 22

cầu đầu tiên và quan trọng nhất trong việc xác định các chuẩn mực đạo đức mới

- đạo đức công vụ trong hoàn cảnh hiện nay Đó là vấn đề có ý nghĩa định hướng cho mọi hoạt động của con người, là động lực mạnh mẽ để hướng dẫn hành động và là yêu cầu để xác định ý thức trách nhiệm cho công chức, viên chức đối với đất nước, với nhân dân

- Giáo dục phẩm chất và năng lực cho công chức, viên chức

Giáo dục nâng cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tụy với công việc, nâng cao thái độ tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ; nâng cao chủ nghĩa tập thể, tinh thần hợp tác, tôn trọng pháp luật, tôn trọng đồng nghiệp trong thực thi công vụ

Hai thành tố cơ bản cấu thành nhân cách của công chức, viên chức đó là phẩm chất và năng lực Hay nói cách khác nhân cách là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực chuyên môn, trong đó phẩm chất đạo đức là gốc, nền tảng của nhân cách hay còn gọi là hạt nhân cơ bản của nhân cách con người

Do đó, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực thích ứng với xã hội của công chức (năng lực xã hội hóa; năng lực chủ thể hóa; năng lực hành động)

Nâng cao đạo đức công vụ cho công chức, viên chức có tầm đặc biệt quan trọng là vì:

Vai trò, vị trí của đội ngũ công chức, viên chức trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc

Xuất phát từ thực trạng đạo đức của đội ngũ công chức, viên chức hiện nay Bên cạnh những ưu điểm cần được khẳng định, góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hiện nay Trong đánh giá tại Đại hội Đảng lần thứ XI nêu, vẫn còn “một bộ phận cán bộ, công chức yếu cả về năng lực và phẩm chất quyền làm chủ của

Trang 23

nhân dân chưa được phát huy đầy đủ; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; tham nhũng lãng phí còn nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi”[21,tr.94]

Theo yêu cầu nhiệm vụ mới hiện nay Sự nghiệp đổi mới đã thu được những thắng lợi vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử Bên cạnh những thành tựu

to lớn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn khó khăn, thách thức, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia Trong đó, thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển đất nước hiện nay

Bước vào thời kỳ mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường, những tác động tích cực và tiêu cực, thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức,v.v đan xen hết sức phức tạp, nhiệm vụ chính trị mới lại rất nặng nề, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải đào tạo được một lực lượng lao động có chất lượng cao, xây dựng cho bằng được đội ngũ công chức, viên chức ngang tầm, toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp cách mạng càng trở nên cấp bách

Đảng ta đã lựa chọn một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 là “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ”[21,tr.32]

- Giáo dục truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc

Lòng yêu nước là truyền thống vô cùng quý báu và có sức sống kỳ diệu trong lịch sử dân tộc Việt Nam Chính lòng yêu nước đã cố kết cộng đồng dân tộc, tạo nên lịch sử hào hùng dựng nước, giữ nước Lòng yêu nước trở thành một tiêu chí thiêng liêng, thành tình cảm lớn, thành nhu cầu tự nhiên trong đời sống đạo đức của con người Việt Nam Lòng yêu nước là sản phẩm của lịch sử cộng đồng, đồng thời cũng mang tính giai cấp Yêu nước gắn liền với yêu dân

Vì nước chính là vì dân Đó là lòng yêu nước chân chính Ngày nay, cả nước

Trang 24

đang bước vào sự nghiệp đổi mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội, thì biểu hiện của lòng yêu nước là tích cực tham gia vào sự nghiệp đổi mới đó, ngoài ra lòng yêu nước còn biểu hiện ở ý thức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ

- Giáo dục lòng nhân ái đối với cộng đồng

Mỗi con người tồn tại và phát triển là nhờ cộng đồng xã hội Vì vậy, từ

xa xưa, giữa con người với con người đã có tình thương yêu đối với nhau Đó

là một giá trị đạo đức cao đẹp cần phải giữ gìn và phát huy

Chế độ xã hội ta luôn tôn trọng quyền dân chủ tự do của mỗi cá nhân, song cũng đòi hỏi mỗi cá nhân phải tôn trọng lợi ích của cộng đồng, phải quan tâm tới cuộc sống của mỗi con người trong cộng đồng

1.2.4 Phương thức, phương tiện giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

Hình thức có vai trò rất quan trọng trong một quy trình của công tác giáo dục: như một mô hình kiến trúc; như một bộ khung có kết cấu thống nhất với các bộ phận; như một hệ thống liên kết từ cái chung nhất đến từng cái riêng

nhằm đảm bảo tính thống nhất và lôgic trong hoạt động giáo dục

Theo từ điển tiếng Việt “hình thức là cái bên ngoài, chứa đựng nội dung,

là hình thức tiến hành” [42, tr.469] Theo định nghĩa trên có thể hiểu việc biểu

hiện ra bên ngoài của hình thức như: hình thức giáo dục thông qua các hoạt động gì? Mở lớp học hay thông qua hoạt động mít tinh, tổ chức trò chơi có nội dung giáo dục hay thi tìm hiểu….; quy mô có lớn không? Tổ chức giáo dục cho một

bộ phận hay toàn thể cán bộ công chức, viên chức, phạm vi cấp xã hay cấp huyện…; trình tự diễn biến của một hoạt động giáo dục gồm những nội dung nào? Nghe báo cáo thực tế trước hay nghe lý thuyết trước, nghe nội dung giáo dục trước hay xem hoạt động văn hoá nghệ thuật trước… Nếu xét toàn diện hơn thì Triết học Mác - Lênin khi nghiên cứu hình thức trong mối quan hệ biện

chứng với nội dung đã định nghĩa: “Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là phương thức tồn

Trang 25

tại và phát triển của sự vật ấy, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó” [44, tr.19], bao gồm các hình thức giáo dục trực tiếp như: nghe thời sự, học nghị quyết,…; các hình thức gián tiếp như: thông qua sinh hoạt công đoàn, các hoạt động văn hoá văn nghệ… Tuy nhiên khi nói đến hình thức thì cần phải được xem xét với nhiều cách tiếp cận khác nhau: căn cứ vào hình thái; căn cứ vào quy mô và đối tượng; căn cứ sự kết hợp giữa quy mô và đối tượng

Trong công tác giáo dục, phương pháp giữ một vai trò rất quan trọng Nếu phương pháp tốt nội dung giáo dục sẽ được chuyển tải đến đối tượng một cách đầy đủ nhất, chính xác nhất và hiệu quả đạt được sẽ cao nhất và ngược lại nếu phương pháp không phù hợp đối tượng tiếp nhận nội dung sẽ không được

đầy đủ, gây ra khó hiểu và hiệu quả giáo dục thấp

Theo từ điển tiếng Việt: Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động có mục đích Ví dụ: như phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu, phương pháp làm việc; trong hoạt động giáo dục phương pháp thường dùng là thuyết trình, đặt vấn đề, đối thoại, phương pháp nhóm “Thực chất, phương pháp là kết quả nhận thức của con người về hiện thực khách quan, trên cơ sở đó rút ra những nguyên tắc, yêu cầu để định hướng nhận thức và

hành động của con người sau đó hiệu quả hơn” [44, tr.01] Trong hoạt động

thực tiễn, phương pháp có vai trò rất quan trọng, Ph.Bêcơn nhà triết học người Anh cho rằng: nếu có phương pháp đúng thì “người thọt chân có thể đi nhanh hơn người bình thường”, trong thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc cũng đã chứng minh rằng với phương pháp đúng chúng ta vẫn có thể chiến thắng được

kẻ địch mạnh hơn gấp nhiều lần

Trong hoạt động giáo dục phương tiện tuy đóng vai trò trung gian nhưng luôn có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho hoạt động giáo dục được phong phú hơn, chuyển tải nội dung đầy đủ hơn, dễ hiểu hơn, hấp dẫn hơn và hiệu quả hơn

Trang 26

Để giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức, viên chức, cần tiến hành giáo dục đạo đức qua phương thức trực tiếp và gián tiếp Trong thực tế, hai phương thức giáo dục này luôn kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau và đan xen lẫn nhau

+ Phương thức giáo dục trực tiếp là sự truyền đạt tri thức đạo đức, Luật, quy tắc trực tiếp cho công chức, viên chức Phương thức giáo dục trực tiếp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng hoặc làm biến đổi ý thức đạo đức công

vụ trong công chức, viên chức Đây còn là phương thức giáo dục ngắn nhất nên kết quả của nó không vững chắc vì nó chủ yếu giải quyết vấn đề nhận thức, mà

từ nhận thức đến hành động còn một khoảng cách, cần rèn luyện rất nhiều mới trở thành khả năng, thành kinh nghiệm đạo đức của cá nhân

+ Còn phương thức giáo dục gián tiếp: là phương thức cơ bản để gắn học với hành để hình thành kỹ năng và kinh nghiệm đạo đức cho con người thông qua chính hoạt động của họ Vì vậy, kết quả của phương thức giáo dục này là bền vững nhưng nó phải diễn ra một quá trình lâu dài hơn và khó khăn hơn phương thức giáo dục trực tiếp

Phương tiện chính là những công cụ mà nhờ nó con người có thể thực hiện được mục đích đặt ra trong thực tiễn Phương tiện đóng vai trò trung gian, vai trò hỗ trợ tích cực cho các hoạt động đạt được hiệu quả tốt hơn Trong hoạt động giáo dục, phương tiện cũng rất đa dạng từ đơn sơ đến phức tạp, từ truyền thống đến hiện đại Hiện nay thông qua các phương tiện giáo dục như: truyền thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử… đã góp phần cho công tác tuyên truyền giáo dục được sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân đặc biệt là đối với công chức, viên chức

1.2.5 Môi trường giáo dục

* Những nhân tố ảnh hưởng, tác động chung:

- Sự hình thành và phát triển của đạo đức công vụ bị quy định trước hết bởi điều kiện kinh tế - xã hội Con người trong cuộc sống thực tại chịu tác động trực

Trang 27

tiếp của điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường chung để họ tồn tại và phát triển, đội ngũ công chức, viên chức cũng không nằm ngoài môi trường chung đó Tính quy định khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội là tạo ra một giới hạn chung, một xu thế chung cho mọi hoạt động của con người

- Đạo đức công vụ chịu tác động mạnh mẽ của truyền thống đạo đức của gia đình, cộng đồng, dân tộc Đồng thời nó cũng bị quy định bởi nhân tố văn hóa, tinh thần xã hội và gắn liền với sự phát triển của văn hóa tinh thần trong mỗi cá nhân

- Đạo đức công vụ chịu sự tác động mạnh mẽ của mức độ tham gia hội nhập, mở cửa trên các lĩnh vực của đất nước với khu vực và thế giới

* Sự thay đổi của điều kiện kinh tế, của môi trường xã hội và tác động của môi trường quốc tế mới

Từ sau ngày giải phóng miền Nam cho đến trước những năm đổi mới, nền kinh tế nước ta chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, mang tính chất tự nhiên, khép kín Đạo đức công vụ cũng hình thành và phát triển lâu trong môi trường

đó Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta đang từng bước làm thay đổi các điều kiện kinh tế cũ theo các hướng: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hóa, trao đổi lao động cho nhau qua thước đo giá trị là tiền; Chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, gắn với phân công lao động trong nước và quốc tế…

Từ đó, làm ảnh hưởng lớn đến đạo đức công vụ

Do tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, “có cầu sẽ có cung”, trong xã hội xuất hiện những tệ nạn xã hội mới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến những chuẩn mực giá trị đạo đức công vụ

Đồng thời, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đã mở rộng các mối quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội giữa nước ta với các nước trong khu vực, các nước trên thế giới Sự giao tiếp đó, tất yếu sẽ tác động vào những chuẩn mực đạo đức công vụ của công chức, viên chức

Trang 28

* Một số nhân tố khác:

- Đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển đạo đức công vụ của công chức, viên chức Công chức, viên chức là đối tượng bao quát chung ở nhiều lứa tuổi khác nhau Trên

cơ sở những tố chất đã được hình thành từ lứa tuổi vị thành niên, môi trường mới với những tác động nhiều chiều của các kênh thông tin, tâm lý tò mò, thích tìm hiểu cái mới, nhảy cảm với sự thay đổi của môi trường sống, cũng như các đối tượng ở các độ tuổi trưởng thành khác nhau, nhưng đều giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị xã hội… Điều này vừa là thuận lợi, vừa là những khó khăn trong việc giáo dục, định hướng những chuẩn mực đạo đức công vụ cho công chức, viên chức trong bối cảnh trong nước và quốc tế như hiện nay

- Hệ thống nhu cầu, lợi ích của công chức, viên chức trong hoạt động xã hội, thực thi công vụ là nhân tố tác động tích cực trong việc bổ sung, hoàn chỉnh đạo đức, lối sống, cũng như đạo đức công vụ của công chức, viên chức

- Sự tác động của hệ thống quản lý, giáo dục của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, nhà trường, xã hội cũng là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức công vụ của công chức, viên chức

1.3 Một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của một số nước hiện nay

1.3.1 Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của

Singapore hiện nay

Singapore tách ra từ Malaisia trở thành quốc gia độc lập từ ngày 9/8/1965 Singapore là một quốc đảo nhỏ có diện tích 699 km2, dân số khoảng 4,6 triệu người, gồm 4 dân tộc chính là : Trung Quốc chiếm khoảng 76%, Mã Lai chiếm khoảng 14%, Ấn Độ khoảng 8% và 2% là các dân tộc khác Sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thống nhất Singapore là đất nước thiếu nguồn tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế chủ yếu dựa vào công nghiệp chế tạo, kinh tế cảng, thương mại, dịch vụ tài chính ; đối với Singapore " con người là tài nguyên

Trang 29

lớn nhất "; muốn phát triển con người cần quan tâm đến công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cải cách nền công vụ Singapore là quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người đứng thứ hạng cao trên thế giới (năm 1965 là 1.000 USD và hiện nay khoảng trên 40.000 USD )

Bộ máy công quyền Singapore tinh gọn, không có bộ máy chính quyền địa phương, chỉ có bộ máy chính quyền Trung ương Quốc hội Singapore có 84 thành viên được bầu và 9 thành viên chỉ định Chính phủ Singapore cũng khá gọn nhẹ có 15 Bộ

Nền công vụ Singapore:

Nền công vụ Singapore luôn đặt yêu cầu chất lượng phục vụ, hiệu quả, hiệu lực lên hàng đầu Khái niệm chất lượng phục vụ của Singapore là mức độ đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của công dân Vì vậy mọi công chức phải có chất lượng phục vụ tốt, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và tác phong thái độ nhã nhặn, vươn tới sự hoàn hảo Hàng năm Chính phủ Singapore thuê tổ chức tư vấn độc lập để khảo sát, đánh giá về sự phục vụ của các Bộ đối với người dân

Chính sách " không nhầm cửa "được thực hiện trong tất cả các cơ quan công quyền Chính sách này bảo đảm cho người dân đến bất kỳ cơ quan nào cũng được giải quyết theo yêu cầu của công dân, không bị đùn đẩy giữa các cơ quan Công chức không được từ chối việc giải quyết

Singapore giáo dục công chức xác định rằng " người dân đến cơ quan nhà nước không phải làm phiền chúng ta mà trao cho chúng ta cơ hội để được phục vụ"; hướng nền công vụ vào phục vụ khách hàng, coi công dân là khách hàng

Trong giải quyết thủ tục hành chính đối với tổ chức và công dân : Trước đây Chính phủ đề ra số ngày giải quyết, nay Chính phủ hỏi dân cần giải quyết xong bao nhiêu ngày thì cơ bản sẽ giải quyết bấy nhiêu ngày (thường là sớm hơn); Mẫu thủ tục được đơn giản hóa (những thông tin nào cơ quan nhà nước

Trang 30

có thể lấy được ở chỗ khác thì không yêu cầu người dân cung cấp) và được lưu hành trên mạng Internet

Singapore đang áp dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ công, thực hiện chính phủ điện tử và công dân điện tử trong phục vụ nhân dân Hiện nay,

có trên 1.600 loại giao dịch điện tử, hầu hết ( trên 97% ) các giao dịch giữa công dân và chính phủ được thực hiện thông qua mạng Internet

Nền công vụ Singapore là nền công vụ luôn cố gắng cải tiến để thích nghi Từ năm 1995 Singapore đã khởi xướng nền công vụ công thế kỷ 21 (Đề

án PS 21-Public Service 21 ), với 4 nội dung:

- Cởi mở, lịch sự, nhã nhặn;

- Sẵn sàng đáp ứng, dễ dàng tiếp cận;

- Công chức và người dân cùng tham gia công việc để dịch vụ tốt hơn;

- Hiệu quả

Để đạt được mục tiêu PS 21, Chính phủ đã thành lập 2 cơ quan giúp việc

là Ban chỉ đạo TW PS 21 và Ban Cải cách

Chính phủ Singapore giáo dục công chức về quan điểm sẵn sàng đón nhận và thực hiện ý tưởng thay đổi với cách nhìn động, đó là :

- Lường trước thay đổi : Nhận thức thay đổi luôn diễn ra mọi nơi trong nền công vụ;

- Chào đón sự thay đổi : mở cửa, không sợ thay đổi Công chức phải chấp nhận thay đổi

- Thực hiện sự thay đổi : công chức phải tự chuyển đổi

Với quan điểm "tất cả công chức đều có những ý tưởng hay, nhưng do

họ không có kinh phí và điều kiện để thực hiện", vì vậy Chính phủ Singapore

đã thành lập ra Ban Thử thách để tiếp nhận tất cả những ý tưởng của công chức

và kiểm định lại; nếu Ban đồng ý thì sẽ cấp kinh phí để thử nghiệm; những ý tưởng không được dùng thì sẽ đưa vào kho dữ liệu

Nền công vụ Singapore với yếu tố con người, nhân tài :

Trang 31

Trong công tác nhân sự, Singapore quan niệm người tài không có nghĩa

là người thông minh nhất, có nhiều bằng cấp nhất, học vị cao mà là người phù hợp với công việc, đạt kết quả tốt nhất trong công việc được giao Việc đánh giá, phát hiện nhân tài chủ yếu dựa vào hai tiêu chí kết quả làm việc hiện tại và tầm nhìn, khả năng phát triển trong tương lai Việc thăng chức, đề bạt căn cứ vào hai tiêu chuẩn: chất lượng công việc và năng lực, khả năng phát triển Quan chức lãnh đạo cấp cao khi đào tạo được người kế nhiệm sẵn sàng giới thiệu người kế nhiệm lên thay Họ cho đó là niềm tự hào Đối với công chức có khả năng phát triển, cấp trên dự đoán cương vị cao nhất họ có thể đạt được, trên cơ

sở đó giao việc thử thách, rèn luyện

Lương công chức được thay đổi theo sự phát triển kinh tế đất nước Năm

2009 mức lương khởi điểm của công chức khoảng 2.000 đôla Singapore (khoảng 23 triệu đồng Việt Nam) Định kỳ 2 năm một lần, Chính phủ khảo sát mức lương khu vực công và khu vực tư nhân để điều chỉnh lương của khu vực công tương ứng với khu vực tư nhân Ngoài lương, công chức được thưởng tùy thành tích, mức đóng góp của mỗi người Ngoài ra, trên khía cạnh toàn quốc Singapore có đưa ra phần thưởng gọi là "phần thưởng chất lượng Singapore";

ai có yêu cầu muốn nhận giải thưởng này thì Chính phủ sẽ cử người xuống thẩm định, kiểm tra để xem xét trao giải

Trong đào tạo, bồi dưỡng : Singapore xác định mỗi công chức đều có tài năng riêng và cần được phát triển; đây là yếu tố thành công, tạo thói quen học tập suốt đời, liên tục học hỏi để làm việc tốt trong cả cuộc đời; giúp công chức có đủ kiến thức để đạt tới chất lượng phục vụ tốt Có chiến lược xây dựng đội ngũ công chức thể hiện bằng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, đào tạo kế nhiệm, bài bản Thời gian đào tạo, bồi dưỡng công chức tối thiểu bắt buộc hàng năm là 100 giờ

Việt Nam chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhà nước Nhằm góp phần nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ công chức,

Trang 32

viên chức, với một số nội dung, kinh nghiệm của Singapore có thể nghiên cứu,

áp dụng một cách phù hợp tại Việt Nam

1.3.2 Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của Pháp hiện nay

Đặc điểm của hệ thống công vụ Pháp so với các nước khác không phải là

sự bền chặt với nguyên tắc chức nghiệp - điều mà người ta có thể thấy ở nhiều quốc gia, mà là phạm vi rộng lớn của nền công vụ Từ sau cuộc cải cách ngày 13/7/1983 (ngày ban hành Luật về Quy chế chung của công chức), Chính phủ và các công sở hành chính không còn là những cơ quan độc lập có công chức làm việc Những người làm việc trong các đơn vị hành chính địa phương (xã, tỉnh, vùng) và trong các công sở tự quản của các đơn vị hành chính địa phương này đều là công chức Đặc biệt, các giáo viên cũng được coi là công chức; họ chiếm gần một nửa số công chức trong nền công vụ nhà nước

Đạo đức công chức

Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, các công chức phải tuân thủ nghĩa

vụ về đạo đức công chức Họ phải bảo đảm hoàn thành những nhiệm vụ được giao, phục tùng cấp trên và tôn trọng luật pháp; họ phải tôn trọng bí mật nghề nghiệp và kín đáo về hoạt động nội bộ của cơ quan (đồng thời vẫn phải tôn trọng luật pháp, theo đó họ bắt buộc phải cung cấp thông tin cho công dân) Có thái độ công bằng, không vụ lợi, trung thực trong quan hệ với công dân và trong quan hệ cơ quan

Theo một qui định ra đời từ năm 1936, công chức không được kết hợp công việc nhà nước với công việc tư nhân (thậm chí, trong một giới hạn nào

đó, không kiêm nhiệm nhiều công việc do nhà nước trả lương) Những năm gần đây, nghĩa vụ “không vụ lợi” được chú ý nhiều hơn Nếu một công chức thu được lợi ích từ doanh nghiệp hoặc cơ quan mà họ có quan hệ dưới danh nghĩa thẩm quyền hành chính thì có thể bị khởi tố hình sự Một công chức sẽ bị kiểm

Trang 33

tra nếu rời bỏ cơ quan để phục vụ cho doanh nghiệp nào đó Công chức muốn làm việc cho doanh nghiệp cần nhận được sự đồng ý của “Tiểu ban nghĩa vụ”

1.3.3 Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức của Nhật Bản hiện nay

Nhật Bản được xem là một trong những quốc gia có hệ thống tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Chế độ công chức của Nhật Bản được hình thành khá sớm, là sự kế thừa và phát triển của chế độ quan chức trong chế độ phục tùng Thiên Hoàng tuyệt đối Là sự chuyển đổi từ người phục vụ Thiên Hoàng đến phục vụ toàn dân; đẩy mạnh và phát huy cơ chế giám sát dân chủ và hạn chế quyền hạn của công chức để đảm bảo nguyên tắc phục vụ toàn dân chứ không phải phục vụ một bộ phận phận người dân

1.3.3.1 Số lượng, cơ cấu công chức của Nhật Bản có gì khác so với Việt Nam

Theo thống kê của Cơ quan Nhân sự Quốc gia Nhật Bản (NPA) thì tổng

số công chức của Nhật Bản năm 2013 là 3.408.000 người, trong đó công chức Quốc gia là 639.000 người (chiếm khoảng 18,8%) và công chức địa phương là 2.769.000 người (chiếm 81,2%) Số lượng công chức năm 2013 giảm mạnh so với 2012 do chính sách củng cố tinh gọn bộ máy của Nhật Bản, cụ thể công chức quốc gia giảm 474.000 người, công chức địa phương giảm 451.000 người

Số lượng công chức của Nhật Bản được tính toán dựa trên số lượng dân số, tương ứng với 1000 dân (trừ cán bộ phòng vệ), cụ thể Nhật Bản khoảng 29,9 người, Anh 73,3 người, Pháp 81,9 người, Mỹ 71,3 người, Đức 51 người… và nếu theo cách tính này thì Việt Nam 3 triệu công chức/90 triệu dân sẽ vào khoảng 30 người Như vậy số lượng công chức của nước ta cũng chỉ tương đương với Nhật Bản và rất thấp so với nhiều quốc gia khác Tuy nhiên có đặc thù là Nhật Bản không có đối tượng là Viên chức như nước ta, số công chức trên đã bao gồm một số đối tượng là giáo viên trong các cơ sở giáo dục công

Trang 34

lập của Nhật Bản (số lượng này không nhiều vì hầu hết các trường học đã được

tư nhân hóa)

1.3.3.2 Chế độ đánh giá công chức của Nhật Bản

Các tiêu chí để đánh giá năng lực của công chức được thiết kế một cách khoa học, phản ánh toàn diện phẩm chất của người công chức để đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và dự kiến trong tương lai, cụ thể gồm yếu tố đạo đức, giải thích, phối hợp, quản lý hoạt động, lãnh đạo tổ chức, phát triển nguồn nhân lực Thang đánh giá được xây dựng trên cơ sở 05 mức theo thứ tự giảm dần, cao nhất là S, A, B (Trung bình), C, D (không tốt) Ví dụ khi đánh giá năng lực lập kế hoạch của chức danh Trưởng phòng thì 02 tiêu chí bắt buộc đó là: Thứ nhất, về nắm bắt nhu cầu hành chính: yêu cầu hiểu đúng, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cũng như tính cấp thiết của việc hoạch định, xây dựng kế hoạch liên quan Thứ hai, về nhận thức kết quả kế hoạch: yêu cầu phải hình dung một cách rõ ràng về kết quả mong đợi; hoạch định được các phương án thực hiện và lựa chọn phương án tối ưu để thực hiện được kết quả một cách tốt nhất Việc đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được áp dụng trên cơ sở hệ thống các mục tiêu, tương ứng với các giải pháp để đạt được sản phẩm đầu ra đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý hành chính

Quy trình đánh giá nhân sự của Nhật Bản được thiết lập trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của người được đánh giá và trách nhiệm trong hướng dẫn, chỉ đạo, đưa ra lời khuyên đối với công chức được đánh giá theo

03 giai đoạn Giai đoạn đầu kỳ đánh giá, công chức tự viết đề xuất theo vị trí công việc được giao về các mục tiêu cần đạt được, xác định độ khó và tính cần thiết (đây là cơ sở đánh giá kết quả); làm rõ các nội dung đánh giá, những phẩm chất cần thiết để thực hiện được mục tiêu (cơ sở đánh giá năng lực), người có thẩm quyền tiến hành thẩm định các nội dung này trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp Giai đoạn sau (Trung kỳ), công chức thực hiện các công việc đã viết ra, người có thẩm quyền đánh giá nắm bắt công việc, tiến độ thực hiện của công

Trang 35

chức, ghi chép, chỉ đạo, hướng dẫn công chức thực hiện nhiệm vụ đề ra Giai đoạn cuối kỳ, công chức tự viết báo cáo để xác nhận lại các nội dung công việc,

tự đánh giá và thông báo kết quả, người có thẩm quyền đánh giá công chức trực tiếp phỏng vấn đối với công chức, đưa ra lời khuyên và quyết định kết quả đánh giá đối với công chức

Kết quả đánh giá công chức được sử dụng một cách có hệ thống trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, thôi việc, tăng lương, thưởng…đối với công chức,

cụ thể trong đề bạt: để được bổ nhiệm mức dưới Trưởng phòng của Bộ (Trưởng nhóm, Phó phòng) thì kết quả đánh giá 02 lần gần nhất về năng lực phải được

ít nhất 01 lần đạt mức cao (S hoặc A), 01 lần đạt Tốt trở lên (B) và lần đánh giá kết quả gần nhất phải đạt từ Tốt trở lên (B) Để được bổ nhiệm chức Trưởng phòng của Bộ cần sử dụng kết quả 03 lần đánh giá, trong đó ít nhất lần đánh giá gần nhất về năng lực phải đạt mức cao (S hoặc A), về kết quả phải đạt tốt trở lên (B), các lần đánh giá năng lực còn lại đều phải đạt tốt trở lên (B) Để được bổ nhiệm chức Thứ trưởng, Cục trưởng hay Vụ trưởng của Bộ trung ương cần sử dụng kết quả của 06 lần đánh giá, trong đó về năng lực 02 lần gần nhất

và về kết quả năm gần nhất phải đạt mức cao (S hoặc A); các lần còn lại đều phải loại tốt (B) trở lên Như vậy kết quả đánh giá được xem trọng và tạo động lực để công chức phấn đấu duy trì, nâng mức độ kết quả đánh giá, xác định được mức độ ổn định của kết quả đánh giá đối với công chức “Cái gì đo lường được thì mới thực hiện được” (What is measured gets done) có thể là một câu nói lâu đời Nhưng đến nay nó vẫn còn ý nghĩa Nếu muốn công chức làm việc tốt, chính phủ phải có một hệ thống để đo lường kết quả hoạt động của họ, khen thưởng những người làm việc tốt và giúp những người hoạt động chưa tốt Nếu

ai cũng được một phần thưởng không cần biết họ làm việc thế nào thi công chức sẽ không coi trọng công việc của họ

viên chức của một số nước ở Việt Nam hiện nay

Trang 36

Vận dụng những kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức Của Singapore, Pháp, Nhật Bản là điều vô cùng quan trọng ở Việt Nam Đối với Singapore điều học tập quan trọng là việc chống tham nhũng: Singapore chống tham nhũng là để tạo sự công bằng trong xã hội,

phục vụ nhân dân tốt hơn Chống tham nhũng cần sự liêm khiết, quyết tâm của cả

hệ thống chính trị, từ trung ương đến các địa phương; luật pháp nghiêm minh; đảm bảo đời sống cho công chức, viên chức lương đủ sống và có tích lũy, diệt trừ môi trường nảy sinh tham nhũng, thực hiện nền công vụ trong sạch với hệ thống tự kiểm soát bằng qui trình, qui chế hoạt động được xây dựng đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm: cụ thể, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, minh bạch, rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của mỗi người Ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chính phủ điện tử

và công dân điện tử trong phục vụ nhân dân là một trong những biện pháp quan trọng chống tham nhũng

Đối với Pháp chúng ta học được trong việc giáo dục đạo đức công vụ Pháp cho rằng, trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, các công chức phải tuân thủ nghĩa vụ về đạo đức công chức Họ phải bảo đảm hoàn thành những nhiệm vụ được giao, phục tùng cấp trên và tôn trọng luật pháp, họ phải tôn trọng bí mật nghề nghiệp và kín đáo về hoạt động nội bộ của cơ quan (đồng thời vẫn phải tôn trọng luật pháp, theo đó họ bắt buộc phải cung cấp thông tin cho công dân)

Có thái độ công bằng, không vụ lợi, trung thực trong quan hệ với công dân và trong quan hệ cơ quan

Đối với Nhật Bản chúng ta học được chính là việc đánh giá công chức, viên chức một cách khách quan dựa vào sự phù hợp và hiệu quả của công việc, chế độ thưởng dựa vào công việc chứ không theo hệ số lượng cơ sơ như của ta; Đánh giá kết quả công chức được sử dụng một cách có hệ thống trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, thôi việc, tăng lương, thưởng…đối với công chức, cụ thể trong đề bạt, chứ không dựa vào “mối quan hệ”

Tiểu kết chương 1

Trang 37

Chương 1 luận văn đã nghiên cứu, tìm hiểu về đạo đức, đạo đức công vụ của công chức, viên chức và các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức, những quy định pháp lý của công chức, viên chức khi thực thi công vụ Luận văn cũng kế thừa một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức công vụ của Pháp, Nhật, Singapore Qua đó vận dụng những kinh nghiệm đó trong công tác giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức

ở nước ta nói chung và giáo dục đạo đức công vụ công chức, viện chức ở huyện

Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình hiện nay Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận đã trình bày trong chương 1, là căn cứ để nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc hiện nay

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

- Điều kiện tự nhiên: Huyện Đà Bắc nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90 km, gåm 20 x·, thÞ trÊn; dân số: 53.204 người; diện tích đất tự nhiên 77.796 ha lớn nhất so với các huyện trong tỉnh nhưng đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là đất rừng (Đất lâm nghiệp 50,662 ha chiếm 65,12%, đất nông nghiệp 3.537 ha chiếm 4,55%, đất phi nông nghiệp 8.556 ha chiếm 11%, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp khác 100,6 ha chiếm 1,3%, đất chưa sử dụng 14.94 ha chiếm 19,2%) Khí hậu trung bình 22,80C, lượng mưa trung bình 1.900mm, độ ẩm trung bình 81-84% Chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Đà, với chiều dài chảy qua huyện khoảng

70 km, có diện tích mặt hồ khoảng 6.000 ha

- Tài nguyên thiên nhiên:

+ Tài nguyên đất, đá: Huyện Đà Bắc có nguồn tài nguyên đá vôi rất lớn

có tầng dày trung bình 50-80 cm, riêng ở các thung lũng đất có tầng dày hơn 1m, rải rác có các cao nguyên rộng khá bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhất là với các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, cây dược liệu…

+ Tài nguyên nước: Tương đối dồi dào có các suối lớn như Suối Tuổng, Suối Chum, Suối Trầm, Suối Láo, Suối Nhạp… ngoài việc xây dựng các hồ, bai giữ nước phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân còn có thể xây dựng các đập thuỷ điện như nhà máy thuỷ điện Suối Nhạp (xã Đồng Ruộng) để tạo ra năng

Trang 39

lượng điện thương phẩm Đặc biệt có diện tích mặt hồ sông Đà rộng khoảng 6000ha có trữ lượng hàng tỷ m3 nước rất thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản và dịch vụ thương mại, du lịch sinh thái

+ Tài nguyên khoáng sản: Có một số mỏ quặng sắt Suối Chuồng (xã Tu

Lý, xã Cao Sơn), mỏ quặng sắt (xã Tân Pheo, xã Đoàn kết), mỏ đá phấn xã Tân Minh, ngoài ra huyện còn có nguồn đá để sản xuất vật liệu xây dựng

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

- Về kinh tế - xã hội

Kinh tế của huyện Đà Bắc phát triển vào loại thấp trong tỉnh, đời sống ở các khu vực dân cư có những chênh lệch lớn Khu vực thị trấn có mức sống ổn định tương đối đồng đều nhưng tỷ lệ không cao, không có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn, khu vực nông thôn có mức sống thấp còn nhiều hộ nghèo, việc xoá đói giảm nghèo hết sức khó khăn, các hộ nghèo chủ yếu ở nông thôn sản xuất theo dạng tự cung tự cấp, chưa có thói quen tạo ra sản phẩm hàng hoá

có chất lượng để trao đổi theo nhu cầu thị trường Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và ngư nghiệp

Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 43% Dịch vụ thương mại,

du lịch chiếm 38% Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 19% Tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%, thu nhập bình quân đầu người 19 triệu đồng/năm Tỷ lệ hộ nghèo là 29%

Kinh tế của huyện tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng với nhịp độ cao, mục tiêu cụ thể mà nghị quyết đại hội lần thứ 24 nhiệm kỳ 2015-2020 đã

đề ra:”tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất trên địa bàn bình quân 5 năm đạt từ 6 đến 6,5% Tốc độ tăng thu ngân sách trung bình 5 năm là 17%, thu nhập bình quân đầu người 28 triệu đồng/ người/ năm, trong đó sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 39%, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chiếm 21%, dịch vụ thương mại 40% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và danh thu dịch vụ tiêu dùng trung bình hằng năm tăng 20-22%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn

Trang 40

2016-2020 đạt 5000 tỷ đồng, phấn đấu 31,5% số xã đạt chuẩn nông thôn mới Một số chỉ tiêu về xã hội: tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm từ 3,0 đến 3,5%, tạo việc làm mới trung bình hằng năm cho 1 100 lao động Tỷ lệ trẻ

em trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, học phổ thông đến trường đạt 100% Các chỉ tiêu về môi trường: tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 80%;

tỷ lệ chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý đạt 100% trở lên; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 50%”

- Bên cạnh những tiềm năng, lợi thế trên, Đà Bắc có nguồn lao động dồi dào, nhưng chưa thích ứng với cơ chế mới của thị trường trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước

Với những tiềm năng và lợi thế có được, trong gần 30 năm qua, cùng với

cả nước thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, huyện Đà Bắc đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn về kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, do kinh tế xuất phát điểm thấp, nên việc đầu tư kinh phí cho phát triển đào tạo nguồn nhân lực là công chức, viên chức kế cận gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt là đào tạo đội ngũ công chức, viện chức là người dân tộc thiểu số vô cùng khó khăn Chính vì vậy, mà hiện nay nguồn nhân lực có trình độ, được đào tạo bài bản chính quy chiếm tỷ lệ thấp

Nhiệm kỳ 2010-2015 vừa qua, Đảng bộ và chính quyền huyện Đà Bắc

đã cố gắng khắc phục khó khăn, đã trú trọng hơn về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Cùng với thực tế hoạt động của đội ngũ công chức, viên chức và sự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức công vụ, phần nào đã đáp ứng được yêu cầu công việc trong giai đoạn hiện nay

2.1.3 Đặc điểm về chính trị

Phát huy truyền thống cách mạng của huyện Anh hùng, nhân dân huyện

Đà Bắc đã nêu cao tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, kiên trì phấn đấu, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống, giữ

Ngày đăng: 23/08/2022, 01:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình (2010), Nghị quyết Đảng bộ bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình XXIII, nhiệm kỳ 2010 – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đảng bộ" bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình XX
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Năm: 2010
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình (2015), Nghị quyết Đảng bộ bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình XXIV, nhiệm kỳ 2015 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đảng bộ" bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình XX
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Năm: 2015
8. Ban Tổ chức Huyện ủy Đà Bắc (2014), Báo cáo số 16-BC/BTCHU, Báo cáo công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Tổ chức Huyện ủy Đà Bắc
Năm: 2014
9. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tài liệu học tập nghị quyết TW 5 (khóa X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết TW 5 (khóa X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
10. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Giáo dục đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2008
11. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2007), Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ chí Minh, Tài liệu phục vụ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
12. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị, về “công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị, về “công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
14. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, có đề ngày 10/5 gồm 4 trang in khổ 14,5x22 cm, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 1969
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
22. Lương Khắc Hiếu (Chủ biên) (2009), Nguyên lý công tác tư tưởng, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý công tác tư tưởng, tập 1
Tác giả: Lương Khắc Hiếu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
24. Huyện ủy Đà Bắc (2012), Đề án số -ĐA/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy về việc quy hoạch Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020 và nhiệm kỳ tiếp theo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án số -ĐA/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy về việc quy hoạch Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020 và nhiệm kỳ tiếp theo
Tác giả: Huyện ủy Đà Bắc
Năm: 2012
26. Huyện ủy Đà Bắc (2014), Báo cáo sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
Tác giả: Huyện ủy Đà Bắc
Năm: 2014
27. Vũ Khiêu (1978), “Mấy vấn đề đạo đức cách mạng”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức cách mạng
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1978

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w